Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên lúa.
Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.
| Dịch hại | Số thuốc đã đăng ký |
|---|---|
| Sâu cuốn lá | 417 |
| Rầy nâu | 390 |
| Đạo ôn | 377 |
| Lem lép hạt | 289 |
| Bạc lá | 159 |
| Khô vằn | 156 |
| Nhện gié | 127 |
| Bọ trĩ | 127 |
| Ốc bươu vàng | 122 |
| Sâu đục thân | 119 |
| Kích thích sinh trưởng | 94 |
| Sâu đục bẹ | 43 |
| Bọ xít | 31 |
| Rầy lưng trắng | 28 |
| Vàng lá | 19 |
| Bệnh khô vằn | 13 |
| Sâu phao đục bẹ | 12 |
| Cỏ các loại | 11 |
| Bọ xít hôi | 10 |
| Sâu cuốn lá nhỏ | 10 |
QUY TRÌNH
Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây lúa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND ngày / /2025 của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1. Nhiệt độ:
Tùy vào từng giai đoạn phát triển của cây lúa mà nhiệt độ giới hạn thấp biến động từ 10oC-20oC, nhiệt độ giới hạn cao từ 30oC-45oC và nhiệt độ tối thích từ 20oC-30oC.
Nhiệt độ thấp làm chậm sự sinh trưởng phát triển của cây lúa, nếu nhiệt độ quá thấp làm cho lúa không trổ thoát được và tỷ lệ hạt lép cao. Giai đoạn mẫn cảm với nhiệt độ thấp vào giai đoạn lúa trổ (nở hoa).
Nhiệt độ cao cũng ảnh hưởng không tốt đối với cây lúa. Vào giai đoạn lúa trổ nếu nhiệt độ cao trên 40oC thì hạt phấn bị mất sức, thụ tinh kém dẫn đến bị lép nhiều, ở giai đoạn chín nếu gặp nhiệt độ cao (trên 40oC) làm giảm chất lượng hạt gạo.
2. Nước:
Nhu cầu nước của cây lúa khác nhau qua các thời kỳ sinh trưởng và phát triển, nhưng hầu hết các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa đều cần nước. Thiếu nước ở cây lúa vào giai đoạn nào sau này cũng ảnh hưởng đến năng suất đặc biệt là giai đoạn đòng trổ. Hiện nay cũng có những giống lúa chịu hạn và chịu ngập nhưng năng suất không cao.
3. Ánh sáng:
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới nên chúng có đặc điểm là cây ưa sáng và có phản ứng với quang chu kỳ (độ dài ngày). Tuy nhiên những giống lúa mới hiện nay ít phản ứng với độ dài ngày.
4. Đất đai:
Cây lúa trồng được trên nhiều vùng đất khác nhau: đất phù sa ven sông, đất chua phèn, đất cát ven biển, đất đồi nương, đất ngập úng …Tuy nhiên yếu tố quan trọng nhất là phải đảm bảo đủ nguồn nước cho cây.
II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống: Chọn giống có thị trường tiêu thụ tốt, chống chịu tốt với các điều kiện bất lợi theo mùa vụ và phù hợp với canh tác tại địa phương: OM 6162, OM 4900, OM 5451, lúa thơm RVT, OM 5954, ML 48, ML 202, ML 214, Đài thơm 8, ST24, ST25, VN 121,…và các giống lúa OM của Viện lúa Đồng bằng Sông Cửu Long.
1.2. Tiêu chuẩn giống: Đáp ứng theo QCVN 01-54: 2011/BNNPTNT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng hạt giống lúa)
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng:
Thời gian xuống giống | Vụ Đông xuân | Vụ Hè thu | Vụ Mùa |
Tháng 11 - 02 | Tháng 4 - 6 | Tháng 6 - 9 |
* Đối với các khu vực khô hạn và hạn chế nguồn nước không đảm bảo canh tác vụ mùa, khuyến cáo người dân chuyển sang sản xuất vụ Đông xuân sớm.
2.2. Mật độ trồng:
Mật độ gieo sạ phù hợp sẽ đạt năng suất tối đa, mật độ sạ quá dày thì năng suất sẽ giảm. Sạ dày tốn nhiều giống, phân bón; cây lúa mềm yếu nên dịch hại dễ tấn công và dễ đổ ngã, năng suất giảm, chi phí tăng. Lượng giống gieo sạ: Sạ cụm 40 - 60 kg/ha, sạ hàng 80 - 120 kg/ha, sạ lan từ 120 - 150 kg/ha. Nên sử dụng máy sạ cụm, công cụ sạ hàng hoặc máy phun phân đeo vai để gieo hạt nhằm tiết kiệm giống và giúp phân bố mật độ giống sạ đồng đều, tiện chăm sóc và khử lẫn sau này.
2.3. Chuẩn bị đất:
- Ruộng phải được cày ải sớm trước khi gieo 15-20 ngày để diệt cỏ dại, mầm sâu bệnh để tăng cường dưỡng chất cung cấp cho cây phát triển thuận lợi ngay đầu vụ và giảm nhẹ lượng phân hóa học, nếu đất bị phèn cần bón thêm vôi (từ 250 – 1.000 kg vôi/ha) và cày cạn ở độ sâu 5-10 cm, xới đất vừa phải;
- Ruộng phải cày bừa hoặc trục kỹ (ít nhất 2 lần). Trước khi làm đất lần cuối nên bón lót toàn bộ phân hữu cơ và phân lân để chôn vùi phân trong đất;
- San phẳng mặt luống tránh đọng nước thành vũng để giúp cây lúa mọc đều, tưới tiêu thuận lợi, hạn chế công dặm;
- Vét mương chia luống: mỗi luống rộng 2-3m, mương rộng 25cm và sâu 10 - 20cm, xung quanh ruộng tạo rãnh thoát nước chung và rút cạn nước trên ruộng trước khi gieo sạ.
2.4. Kỹ thuật ngâm ủ giống
- Ngâm giống: Hạt giống sau khi đã được xử lý, đem ngâm vào nước sạch với tỷ lệ: 1 phần giống 3 phần nước, thời gian ngâm khoảng 24 giờ. Trong quá trình ngâm giống, cứ 6 giờ thay nước (rửa sạch nước chua một lần).
- Ủ giống: Tùy theo phương thức sạ mà có cách ủ giống khác nhau:
+ Đối với sạ tay: Sau khi ngâm, tiến hành vớt hạt giống ra, đãi sạch, để ráo nước rồi đem ủ ngay. Thời gian ủ trong khoảng 36-48 giờ, cứ 12 giờ tưới nước ấm và đảo giống 01 lần, khi rễ dài bằng hạt lúa, mầm bằng ½ hạt lúa thì tiến hành gieo sạ.
+ Đối với sạ hàng: Lúa phải ngâm ủ đúng kỹ thuật, khi hạt nhú mầm trắng là vừa (thời gian ủ khoảng 18-20 giờ).
2.5.Kỹ thuật gieo sạ:
- Sạ tay: Chia đều số hạt giống cho từng luống riêng biệt để đảm bảo lượng giống đồng đều; gieo lần lượt từng luống.
- Công cụ sạ hàng: Chia đều lượng giống vào các trống chứa giống. Khi gieo đi đều và điều chỉnh các lỗ trên các trống đảm bảo lượng giống xuống đều.
* Lưu ý: Đất cát pha, đất thịt nhẹ làm đất xong gieo ngay; đất sét, đất thịt nặng cần để lắng bùn mới gieo để tránh hạt giống bị vùi sâu trong đất.
2.6. Phân bón và cách bón phân:
a) Lượng phân bón(tính cho 01 ha):
- Phân chuồng hoai: 5 – 10 tấn; phân hữu cơ vi sinh: 2.000 kg, Vôi bột: 300 – 500 kg.
- Phân hóa học (lượng nguyên chất): 90 kg N – 70kg P2O5 – 70 kg K2Otương đương: 195 kg Ure + 437 kg Super lân +116 kg KCl hoặc 350 kg NPK (20-20-15) + 43 kg Urê + 29 kg KCL.
b) Cách bón
Bảng 2. Lượng phân bón từng giai đoạn (% so với tổng lượng phân bón cả vụ)
Loại phân | Bón lót (%) | Bón thúc (%) | ||
Lần 1 (7-10 NSS) | Lần 2 (18-22 NSS) | Lần 3 (38-42 NSS) | ||
Phân chuồng | 100 | - | - | - |
Hữu cơ vi sinh | 100 | - | - | - |
Vôi | 100 | - | - | - |
Urê | - | 35 | 40 | 25 |
Lân super | 100 | - | - | - |
KCl | - | 30 | 20 | 50 |
Cách bón: Bón theo nhu cầu của cây vào các thời điểm xung yếu (mạ, đẻ nhánh, tượng đòng), bón đúng liều lượng, không bón thừa phân đạm.
- Nguyên tắc bón đạm: nặng đầu nhẹ cuối, có gia giảm theo thực trạng cây lúa.
- Nguyên tắc bón lân: bón sớm, tập trung bón lót, bón thúc đợt 1, đợt 2.
- Nguyên tắc bón kali: tập trung cho đợt đón đòng, bổ sung cho đợt 1 (nếu cần).
2.7. Quản lý nước
- Những vùng chưa có hệ thống kênh mương tưới tiêu chủ động thì cần áp dụng siết nước phơi ruộng giữa vụ như sau: Giai đoạn mạ đến giai đoạn lúa đẻ nhánh, duy trì mực nước 3-5 cm. Giai đoạn lúa cuối đẻ nhánh, cần phơi ruộng 10-15 ngày,khi thấy đất ruộng “nứt chân chim” thì cho nước vào với mực nước 5-7cm để bón đón đòng. Duy trì mực nước này cho đến giai đoạn lúa trỗ chín. Trước thu hoạch 10 ngày cần tháo cạn nước để thuận lợi cho thu hoạch.
- Những vùng có hệ thống thủy lợi đã hoàn thiện, chủ động được tưới tiêu thì áp dụng kỹ thuật “Tưới khô - ướt xen kẽ”, cụ thể như sau: Rút cạn nước trước khi gieo sạ; sau khi gieo sạ 1-2 ngày phun thuốc cỏ tiền nảy mầm; sau sạ 3-4 ngày cho nước vào láng mặt ruộng với mực nước 1-3 cm. Giữ nước liên tục theo sự sinh trưởng của cây cho đến lúc bón phân thúc đẻ (cây 4-5 lá). Sau khi bón phân thúc lần 2 cho đến giai đoạn lúa làm đòng tiến hành tưới khô - ướt xen kẽ. Khi mực nước trong ống đo xuống thấp hơn mặt ruộng 10-15cm thì tưới với mực nước trên mặt ruộng ≤ 5cm. Giai đoạn trước khi lúa trỗ khoảng 7-10 ngày đến lúc lúa chín sữa, khi ruộng vừa cạn nước thì tưới lại. Trước khi thu hoạch khoảng 10 ngày tháo cạn nước để thuận lợi cho thu hoạch.
Lưu ý: Trên đất chua, nhiễm phèn, nhiễm mặn cần lưu ý là khi mực nước trong ống đo xuống thấp hơn mặt ruộng 5-7 cm trong vòng 2-3 ngày thì cho nước vào với mực nước ≤ 5 cm là được. Giai đoạn lúa làm đòng nên tháo nước chua, phèn, mặn 1-2 lần để bộ rễ không bị ngộ độc.
2.8. Quản lý cỏ dại
Cần áp dụng tổng hợp các biện pháp như: Cày lật đất sớm sau thu hoạch, san phẳng ruộng, làm đất kỹ, phân hữu cơ phải được ủ hoai mục; gieo cấy với mật độ hợp lý; điều tiết nước hợp lý để hạn chế hạt cỏ nảy mầm; cắt bỏ sớm các bông cỏ trước khi kết hạt; luân canh lúa với cây trồng cạn...
Khi cần sử dụng thuốc diệt cỏ phải theo đúng hướng dẫn trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trừ cỏ dại/lúa. Với lúa gieo sạ, nên sử dụng các loại thuốc trừ cỏ dại tiền nảy mầm, phun sau khi gieo sạ 1 - 2 ngày; khi sử dụng yêu cầu mặt ruộng phải cạn nước như thuốc Pretilachlor (Sofit 300EC, Map-Famix 30EC,…), Oxadiazon (Ronstar 25EC)…
3. Phòng trừ sâu bệnh
3.1 Quản lý dịch hại tổng hợp
- Biện pháp canh tác:
+ Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng có thể diệt được nhiều sâu non và nhộng sâu đục thân lúa sống trong rạ và gốc rạ; đồng thời làm mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của rầy nâu...là những môi giới truyền các bệnh siêu vi trùng nguy hiểm cho lúa như bệnh vàng lụi, bệnh lúa lùn xoăn lá và bệnh lại mạ.
+ Luân canh: Luân canh lúa với các cây trồng khác tránh được nguồn bệnh tích luỹ trên lúa từ vụ này sang vụ khác.
+ Gieo trồng đúng thời vụ đảm bảo cho lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đạt được năng suất cao, tránh được rủi ro về thời tiết, sâu bệnh.
+ Sử dụng giống chống chịu sâu bệnh. Gieo trồng với mật độ hợp lý
+ Bón phân đầy đủ, cân đối.
- Biện pháp thủ công: Bẫy đèn bắt bướm, ngắt ổ trứng, dùng rào chà tướp lá phun sâu cuốn lá, đào hang bắt chuột…
- Biện pháp sinh học:Tạo môi trường thuận lợi cho các loại sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên của dịch hại phát triển nhằm góp phần tiêu diệt dịch hại, ưu tiên sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học.
- Biện pháp hóa học:Đây là biện pháp cuối cùng, khi áp dụng đồng thời các biện pháp trên không hiệu quả. Chỉ áp dụng khi mật số dịch hại đạt “Ngưỡng hành động” và nên sử dụng thuốc BVTV một cách có trách nhiệm.
3.2. Sâu hại và biện pháp phòng trừ
a)Sâu đục thân bướm hai chấm (Scirpophaga incertulas Walker):
- Đặc điểm gây hại:Sâu non nở ra đục vào thân lúa gây dảnh héo và bông bạc, trong điều kiện hiện nay sâu phá vào vụ Đông xuân (tháng 2 – 3), vụ Hè thu (tháng 7 – 8), vụ Mùa (tháng 10 – 11).
- Biện pháp phòng trừ:
+ Bẫy đèn khi bướm rộ.
+ Nếu bị hại ở lúa dưới 25 ngày tuổi thì rải phân bổ sung và dặm tỉa.
+ Thuốc hoá học: Phun thuốc sau khi bướm rộ 5 – 7 ngày là biện pháp kinh tế nhất, các loại thuốc mang tính lưu dẫn có hiệu quả cao. Có thể dùng 1 trong các loại thuốc sau: Emamectin benzoate (G8-Thôn Trang 96 WG, Golnitor 20EC… Spinosad (Efphe 250WP, Automex 100EC,…), Chlorantraniliprole + Abamectin (Voliam Targo 63SC), Chlorantraniliprole + Thiamethoxam (Virtako 40WG),…
b)Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrosis medinalis):
- Đặc điểm gây hại:Sâu cuốn lá lại và ăn phần chất xanh của lá, gây hiện tượng bạc trắng lá. Sâu phá hại lúa từ giai đoạn mạ cho đến đòng trổ, nguy hiểm nhất là giai đoạn trổ nếu bị nặng năng suất sẽ giảm. Sâu phá liên tục các vụ lúa trong năm.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Chỉ trừ giai đoạn trước và sau trổ nếu mật độ cao (còn các giai đoạn lúa con không cần thiết phải phòng trừ).
+ Phun thuốc sau khi bướm rộ 5 – 7 ngày là tốt nhất, có thể dùng các loại thuốc sau: Chlorantraniliprole+Thiamethoxam (Virtako 40WG), Indoxacarb (Ammate 150SC), Permethrin (Permecide 50EC), Emamectin benzoate (Actimax 50 WG, EMA King 20EC, Map Winner 5WG), …
c) Sâu năn (Orseolia oryzae.)
- Đặc điểm gây hại:Ấu trùng xâm nhập vào điểm sinh trưởng làm cho gốc dảnh lúa tròn và to lên; cây lúa lùn hơn so với bình thường, đâm nhiều chồi nhưng là những chồi vô hiệu, nếu có bông cũng bị hạt lép nhiều; lá xanh thẫm, ngắn, lá dựng đứng, cuộn tròn lại theo chiều dọc giống như lá hành, bẹ lá bị biến dạng, phiến lá chỉ còn một mảnh nhỏ ở đầu ống, kéo lên không đứt.
- Biện pháp phòng trừ: Để tránh sự gây hại của sâu năn muỗi hành, cần áp dụng tổng hợp các biện pháp, cụ thể:
+ Làm sạch cỏ dại xung quanh bờ ruộng và trong ruộng nhằm hạn chế nơi trú ẩn của sâu. Cày đất, phơi ải và làm đất kỹ trước khi gieo cấy.
+ Gieo cấy đồng loạt, tập trung, bón đầy đủ, cân đối NPK, không bón thừa đạm trong giai đoạn đẻ nhánh.
+ Ong ký sinh là thiên địch của sâu năn muỗi hành. Vì vậy cần bảo vệ ong ký sinh bằng cách không nên lạm dụng phun thuốc bảo vệ thực vật, trồng hoa sao nhái.
+ Thăm đồng thường xuyên, nếu có muỗi hành, có thể tháo nước phơi ruộng để hạn chế lây lan.
+ Khi xuất hiện ống hành, chồi không đọt nên sử dụng các loại thuốc nội hấp hoặc lưu dẫn để hạn chế muỗi hành. Trường hợp ruộng bị hại nặng, việc phòng trị sẽ ít có hiệu quả, nhưng để tránh thiệt hại đến năng suất và hạn chế lây lan sang vụ sau có thể phun thuốc có tính thấm sâu, xông hơi như: Chlorpyrifos Methyl (Sago - Super 20EC, Sieusao 40EC,…), Alpha-cypermethrin (Sapen alpha 5EC,…). Nên kết hợp với Siêu lân để kích thích cây lúa ra chồi mới.
d)Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal)
- Đặc điểm gây hại:
Chích hút nhựa cây, làm cây lúa mất nước, suy yếu và khô héo, thậm chí gây cháy rầy. Ngoài ra, rầy nâu còn là môi giới truyền các bệnh virus nguy hiểm như bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá, gây thiệt hại lớn cho năng suất.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Dùng giống kháng rầy, luôn đổi giống là biện pháp kinh tế nhất.
+ Biện pháp canh tác (gieo cấy mật độ, phân bón, nước …hợp lý).
+ Bảo tồn thiên dịch (không dùng thuốc trừ sâu quá sớm, nhất là thuốc nhóm cúc tổng hợp sẽ làm tái phát rầy nâu cuối vụ).
+ Biện pháp sinh học:
Thả cá, vịt vào ruộng lúa:Cá rô phi, cá mè, vịt có thể ăn rầy nâu, giúp giảm mật độ rầy.
Biện pháp hóa học: Dùng một trong các loại thuốc sau: Buprofezin (Butyl 400SC, Applaud 25SC,…), Fenobucarb (Bascide 50EC, Bassa 50EC,…), Pymetrozine (Chess 50WG, Gepa 50WG,…), Dinotefuran (Oshin 20WP, Overcin 200WP,…), Triflumezopyrim (Pexena 106SC, 20WG),…
e) Bọ trĩ (Baliothrips biformis)
- Đặc điểm gây hại:Bọ trĩ là loài chích hút nhựa của lá lúa làm lá lúa khô và tóp lại, ruộng lúa mất màu xanh, chúng chỉ hại lúa từ giai đoạn 7-30 ngày sau sạ, trong điều kiện khô hạn bọ trĩ hại nặng.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Quản lý tốt nguồn nước trong ruộng là biện pháp phòng trừ tốt nhất (ruộng luôn có nước – không để khô hạn).
+Có thể sử dụng những loại thuốc sau để phun xịt: Abamectin (Silsau 3.6EC, Fanty 4.2EC,..), Azadirachtin (Vineem 1500EC, Super Fitoc 10EC,…), Dinotefuran (Sida 20WP, Toof 150SL,…),…
f)Ốc bươu vàng(Pomacea canaliculata)
- Đặc điểm gây hại:Ốc bươu vàng thường cắn ngang cây lúa non hay chồi non từ ngay sau khi sạ cho đến khi cây lúa được 30 ngày tuổi, hoạt động chủ yếu vào sáng sớm, chập tối và ban đêm. Đây là giai đoạn thiệt hại nặng nhất. Trên ruộng lúa, các dấu hiệu nhận thấy ốc bươu vàng gây hại là: mất cây - làm cho lá, thân cây lúa nổi trên mặt nước hoặc cây lúa đứt ngang thân.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác:
Làm đất kỹ bằng phẳng, tránh chỗ trũng nước, bắt ốc và ổ trứng bằng tay vào buổi sáng sớm, Có thể sử dụng thức ăn như lá đu đủ, xơ mít, lá khoai, súng... dẫn dụ tập trung ốc bươu vàng để dễ thu gom hơn, đặt lưới, phên tre chặn mương nước vào ruộng, ngăn ốc xâm nhập và bắt ốc dễ dàng.
Giai đoạn từ khi gieo sạ đến 21 ngày sau sạ:Sử dụng giống tốt có tỷ lệ nẩy mầm cao, cắm các cọc tre, sậy ở những chỗ ngập nước, mương kênh tưới để thu hút ốc đẻ trứng, thu lượm (7 – 10 ngày/ lần) và phá các ổ trứng, thả vịt vào ruộng ăn ốc non và trứng ốc. Thu lượm ốc bươu vàng trưởng thành để làm thức ăn cho cá, vịt.Thỉnh thoảng rút nước ra khỏi ruộng, giữ mực nước thấp 2 - 3 cm nhằm hạn chế ốc di chuyển và phá hại.
+ Biện pháp hóa học:Sử dụng các loại thuốc trừ ốc bươu vàng đã được đăng ký trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau để trừ ốc bươu vàng như: Metaldehyde + Carbaryl (Kiloc 60WP,…), Niclosamide (Ac-snailkill 700WP, Dioto 250 EC, Pazol 700WP,…), Thiodicarb (Click 75WP,…), Metaldehyde (Milax 100GB, Osbuvang 15GR,...).
g) Chuột
- Đặc điểm gây hại: Chuột chủ yếu phá hại vào giai đoạn đòng – trỗ – chín. Nếu bị hại sớm, lúa có thể phục hồi, tạo ra dảnh (chồi) mới, nhưng khi lúa chín sẽ không đều, nếu bị hại muộn, lúa không phục hồi được, không cho năng suất.Chuột thường phá hại mạnh ở những ruộng cây trồng gần khu dân cư, bìa rừng, gò đống, bãi hoang, ...
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch tàn dư rơm rạ, cây trồng... sau thu hoạch, phát quang bờ bụi, không để đất hoang, hạn chế các bờ lớn, lùm cây giữa đồng... là nơi ẩn nấp lý tưởng của chuột. Gieo cấy gọn thời vụ tập trung, đồng loạt để cắt nguồn thức ăn thích hợp kéo dài trong giai đoạn lúa đòng trỗ và chín. Giữ nước thường xuyên trong ruộng lúa.
+ Biện pháp vật lý, cơ học: Sử dụng các loại bẫy bán nguyệt, bẫy sập, bẫy dính… tổ chức đào hang bắt, soi đèn, dùng chó săn chuột phát hiện các hang có chuột sau đó đào hoặc hun khói, đặc biệt là từ giai đoạn lúa ngậm sữa, thời gian này chuột cái vào hang sinh sản.
+ Biện pháp sinh học: Khuyến khích và hỗ trợ nông dân nuôi và bảo vệ đàn mèo để diệt chuột. Nghiêm cấm săn bắt các loại động vật là thiên địch của chuột như: Mèo, Rắn, Chim cú mèo… Tăng cường sử dụng các loại bả sinh học Biorat. Xây dựng hệ thống bẫy cây trồng (TBS) để quản lý chuột.
+ Biện pháp hóa học: Sử dụng các loại thuốc trừ chuột đã được đăng ký trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau để trừ chuột như: Coumatetralyl (Racumin 0.75TB,…), Diphacinone (Kaletox 200WP,…),Flocoumafen (Storm 0.005% block bait,…),Brodifacoum (Vifarat 0.005%AB,…).
3.3. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ
a) Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani Kuhn)
-Triệu chứng gây bệnh:Trên bẹ xuất hiện các vết to, bầu dục có màu xám sau bạc dần, rìa vết bệnh có màu nâu. Các vết bệnh lớn dần theo thời gian hòa lẫn vào nhau không đồng đều như da beo. Bệnh nặng lây lan lên lá, rõ rệt ở giai đoạn lúa trổ hay chín, bệnh nặng làm hạt lúa bị lép.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Làm đất kỹ, dọn sạch tàn dư thực vật góp phần hạn chế sự lây nhiễm hạch nấm.
+ Bón phân cân đối (hạn chế bón đạm cao).
+ Thăm đồng thường xuyên, chú ý điều tra vết bệnh phần bẹ lá sát gốc lúa để kịp thời xử lý sớm. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc như: Pencycuron (Monceren 250 SC, Luster 250 SC,…), hoặc Validamycin (Validacin 5SP, Validan 5WP,…), Hexaconazole (Anvil 5SC, Awin 100SC,…), Difenoconazole + Propiconazole (Tilt Super 300EC, Cure supe 300EC), Iprodion (Citione 700WG, Prota 50WP,…),….
Lưu ý: Khi ruộng bị bệnh không cho nước ra vào ruộng để tránh lây lan.
b)Bệnh đạo ôn(Pyricularia oryzae Cav.)
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Vết bệnh trên lá thể hiện rõ nét đầu tiên là những đốm nhỏ rất dễ lầm lẫn với vết bệnh đốm nâu nhưng sau đó lan dần ra dài tới nhiều cm có hai đầu nhọn, rìa mép màu nâu đỏ, giữa có màu xám tro. Vết bệnh phát triển do liên kết với nhau cuối cùng làm toàn bộ lá bị chết.
+ Bệnh gây hại cả trên cổ bông có những điểm màu nâu xám, vết bệnh to dần làm cổ bông héo tóp, làm tắc đường vận chuyển dinh dưỡng nuôi hạt và làm cho bông lép trắng bị gãy nhưng phần thân vẫn xanh.
+ Bệnh có thể gây hại ở các đốt thân gần gốc làm thối héo nơi bị bệnh và làm cây bị đổ.
+ Bệnh gây hại trên hạt thể hiện những đốm nhỏ màu nâu, nặng chuyển lớn dần nâu đen hoặc xám, hạt bị lép hoàn toàn.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp hiệu quả nhất là chọn giống kháng bệnh và xử lý hạt giống bằng nước nóng 3 sôi 2 lạnh (540C).
+ Vệ sinh đồng ruộng: Cày bừa kỹ, ngâm gốc rạ hoặc đốt sạch gốc rạ trên ruộng vụ trước có bệnh.
+ Bón phân cân đối, hạn chế bón đạm cao.Khi lúa bị bệnh ngừng bón đạm, kali.
+ Biện pháp hóa học: Dùng các loại thuốc hóa học đề phòng trừ: Azoxystrobin + Difeconazole (Amistar Top 325SC, Keviar 325SC,…), Fenoxanil (Taiyou 20SC, Sako 25WP,…), Tricyclazole (Beam 75WP, Trizole 20WP,…), …
c) Bệnh cháy bìa lá (Xanthomonas campestris pv. Oryzae)
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Bệnh cháy bìa lá phát sinh và gây hại nặng từ khi lúa bắt đầu làm đòng, trổ và đến thu hoạch. Biểu hiện vết bệnh ban đầu có màu vàng nhạt, thường xuất hiện ở mép hay chóp lá, sau đó vết bệnh kéo dài theo gân lá tạo thành các vết cháy khô dọc theo gân hay bìa lá. Kế tiếp các vết bệnh sẽ lan dần ra khắp phiến lá làm cho cả lá bị cháy khô.
+ Đối với các vết bệnh mới vào sáng sớm khi còn ướt sương hoặc những ngày mưa dầm ẩm ướt có thể thấy những giọt màu vàng ướt hoặc khô lại thành hạt nhỏ như trứng cá trên mặt lá.
+ Khi bệnh nặng sẽ làm giảm khả năng quang hợp của lá, lúc lúa trổ sẽ thụ phấn kém, hạt bị lem lép nhiều, tỷ lệ hạt chắc trên bông giảm, bông lúa ngắn sẽ dẫn đến giảm năng suất.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng nước nóng 3 sôi, 2 lạnh. Gieo sạ lượng giống vừa phải kết hợp bón phân cân đối.
+ Sử dụng một trong các loại thuốc sau: Ningnanmycin (Bonny 4SL, Ditacin 8SL,…), Bismerthiazol (VK. Sakucin 25WP, Xanthomix 20WP,…), Bronopol (Xantocin 40WP, Totan 200WP,…), Ascorbic + Lactic acid + Citric acid (Agrilife 100SL),…
d) Bệnh lem lép hạt:
Có 09 loại nấm gây bệnh lem lép hạt, tập trung chủ yếu 04 loại sau: Helminthosporium oryzae, Fusarium momliforme,Alternaria pad Wiekii, Curvularia lunata.
- Triệu chứng gây hại:
Bệnh gây hại trên hạt, lúc đầu là một chấm đen nhỏ sau đó lan to dần, nhẹ thì lúa bị lem đen, nặng cả hạt lúa, hạt gạo bị thâm đen. Bệnh gây hại trên lúa thu hoạch chưa tuốt hoặc đã tuốt còn đánh đống chưa phơi, làm giảm chất lượng gạo nhanh chóng do nhiệt độ và ẩm độ thuận lợi bệnh phát triển.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Chọn giống kháng bệnh.
+ Bón phân cân đối giúp cây khoẻ, kháng bệnh tốt.
+ Ở các vụ, thửa ruộng thường bị lem lép hạt cần chú ý phòng trừ bệnh đốm nâu, vàng lá, khô vằn…
+ Có thể phòng trừ bằng việc phun trước và sau trổ 5- 7 ngày với một trong các loại thuốc sau: Ascorbic + Lactic acid + Citric acid (Agrilife 100SL), Azoxystrobin + Difeconazole (Amistar Top 325SC, AZO Top 400SC,…),Hexaconazole (Anvil 5SC, A-V-T Vil 5SC,…), Difenoconazole+Propiconazole (Tilt Super 300EC, Cure super 300EC,…), ...
e) Bệnh đốm nâu: do 2 loài nấm Helminthosporium oryzae và Curvularia sp. gây ra.
- Triệu chứng gây bệnh: Bệnh đốm nâu gây hại ở những bộ phận phía trên mặt đất của cây lúa, trong đó chủ yếu là lá lúa và hạt lúa.
+ Trên lá lúa:Vết bệnh ban đầu là chấm nhỏ màu vàng, sau đó chuyển sang màu nâu nhạt và vết bệnh điển hình có hình bầu dục giống hạt vừng màu nâu, xung quanh có quầng vàng. Các vết bệnh thường không liên kết với nhau, số lượng vết bệnh trên một lá có thể có rất nhiều. Khi bệnh phát triển mạnh, lá thường vàng, khô dần
+ Trên hạt lúa: vết bệnh là các đốm tròn nhỏ màu nâu trên vỏ trấu.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Gieo sạ mật độ hợp lý, bón phân cân đối, đảm bảo cung cấp đủ nước và dinh dưỡng cho cây lúa sinh trưởng phát triển tốt, tăng sức chống chịu với bệnh.
+ Đối với những ruộng bị nhiễm bệnh đốm nâu, cần tiến hành vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, dọn sạch cỏ dại và tàn dư rơm rạ sau thu hoạch để hạn chế nguồn bệnh lây lan qua vụ sau.
+ Chọn giống sạch bệnh (không lấy lúa ở những ruộng vụ trước bị nhiễm bệnh để làm giống cho vụ sau), xử lý hạt giống trước khi gieo (ngâm nước nóng 540C trong 10 phút hoặc sử dụng các loại thuốc xử lý hạt giống).
+ Trong trường hợp cần thiết, có thể sử dụng một trong các loại thuốc BVTV để phun trừ nấm bệnh như: Azoxystrobin + Difenoconazole(Majetictop 420SC, Help 400SC, Amistar Top 325SC, Keviar 325SC, …), Propineb (Pylacol 700WP, Antracol 70WP, Newtracol 70WP, …), Difenoconazole + Propiconazole (Cure super 300EC, Map super 300EC, Tilt super 300EC, …),…
III. Thu hoạch, cất trữ bảo quản.
1. Thu hoạch
Thu hoạch thủ công: Liềm các loại là công cụ chủ yếu và được sử dụng phổ biến tại các hộ gia đình, trang trại nhỏ.
Thu hoạch cơ giới: Sử dụng các máy gặt cải tiến loại vừa và nhỏ để thu hoạch lúa.
Đập, tuốt lúa: Đập lúa bằng tay, trục lúa bằng trục đá có trâu bò kéo, tuốt lúa bằng máy đạp chân, bằng máy tuốt thủ công nhỏ hoặc bằng máy tuốt lúa.
Nơi đập tuốt lúa phải được lót bạt, hoặc trực tiếp ở sân phơi, nhưng phải sạch rác, sạn và không được lẫn với giống khác.
2. Phơi sấy, cất trữ bảo quản
Phơi sấy: yêu cầu phơi khô để hạt có hàm lượng nước đạt < 13%, cũng như không cho mầm bệnh phát triển và hoạt động. Có thể sử dụng 2 phương pháp phơi sấy chủ yếu sau:
Phơi bằng ánh sáng mặt trời: hạt lúa nói chung có thể được phơi bằng ánh sáng tự nhiên, độ dầy 3-7 cm, thường xuyên đảo hạt để hạt khô đều, tránh cường độ ánh sáng mạnh.
Phương pháp làm khô bằng hệ thống quạt không khí nóng: Hạt lúa có thể làm khô băng hệ thống sấy có thổi không khí nóng với nhiệt độ 40 – 450C, thời gian sấy tùy thuộc vào ẩm độ hạt khi thu hoạch, nhiệt lượng cung cấp, cũng như khối lượng hạt cần xử lý.
Cất trữ bảo quản: Sau khi lúa đã phơi khô, quạt sạch trấu, hạt lép, đóng vào bao để bảo quản trong kho chuyên dụng. Kho bảo quản phải được khử trùng, dọn sạch trước khi cất trữ. Ở các hộ gia đình nên cho thóc vào bồ, thùng phi hoặc thùng tôn đặt ở nơi khô ráo, thoáng mát. Thường xuyên kiểm tra ẩm mốc, mọt và chuột. Nếu bị dịch hại và ẩm mốc cần phải xử lí ngay.