Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ngô

Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .

Nhóm: CÂY LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên ngô.

Dịch hại thường gặp và thuốc đã đăng ký phòng trừ

Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.

Nội dung quy trình kỹ thuật

QUY TRÌNH

Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây Ngô (lấy bắp)trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

(Ban hành kèm Quyết định số /QĐ-UBND, ngày / /2025

của UBND tỉnh Lâm Đồng)

I. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh

1. Nhiệt độ, ánh sáng

- Nhiệt độ: Ngô là cây ưa nóng, nên nhu cầu nhiệt độ cao hơn nhiều cây trồng khác để hoàn thành chu kỳ sống từ gieo đến chín. Ngô phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ ngày từ 24-30°C;nhiệt độ >38°Cảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây. Hạt phấn của cây ngô có thể bị chết khi nhiệt độ quá 35°C. Ngược lại, nhiệt độ quá thấp dưới 12°C cũng ảnh hưởng xấu tới quá trình sống của cây, đặc biệt vào giai đoạn nảy mầm ra hoa.

- Ánh sáng: Là cây có nguồn gốc nhiệt đới nên cây ngô chỉ sinh trưởng khoẻ, cho năng suất cao trong điều kiện đầy đủ ánh sáng; thời gian chiếu sáng thích hợp 10-13h ánh sáng/ngày.

2. Ẩm độ và nước

- Ngô là cây có khả năng chịu hạn hơn so với cây ngũ cốc khác (bình quân mỗi ngày cây ngô bay hơi 1 kg nước). Quá trình hút nước của rễ rất mạnh, trung bình suốt thời gian sinh trưởng của cây ngô cần 200-280 lít nước, có lượng mưa từ 500 -700mm nước là đủ.

- Ngô là cây ưa ẩm nhưng chịu úng kém. Nếu độ ẩm quá cao cây ngô dễ bị đổ hoặc đất bị bí chặt, thiếu ôxy làm cho cây còi cọc, lá vàng rồi chết.

+ Giai đoạn từ 3-4 lá (giai đoạn cây con) cây ngô cần khoảng 20-25% tổng lượng nước cần trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây ngô.

+ Giai đoạn từ 7-8 lá đến khi trỗ cờ (Giai đoạn lớn vọt) cây ngô cần nhiều nước nhất khoảng 60% tổng lượng nước vì ngô đang trong thời kỳ sinh trưởng thân, lá mạnh, đồng thời đang bắt đầu hình thành ngô, cuối giai đoạn này trước lúc trổ cờ 10-15 ngày, ngô cần nước nhiều nhất.

+ Giai đoạn chín: Yêu cầu về nước của ngô giảm rõ rệt, lượng nước cần khoảng15-25%. Giai đoạn này nước cần cho quá trình vận chuyển các chất hữu cơ về hạt, nếu thời kỳ chín sữa thiếu nước sẽ làm cho hạt chín ép.

3. Đất đai:

Cây ngô phát triển được trên nhiều loại đất, tốt nhất là đất thịt hay thịt pha cát, xốp, giàu hữu cơ và giữ nước tốt. Ngô có thể trồng được trên đất có pH từ 5 - 8, nhưng tốt nhất là ở pH = 5,5 - 7,0. Ở đất chua (pH < 5) cây bị lùn, lá cháy thành vệt dài giữa các gân, sau đó có màu tím đỏ và cây bị chết.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

1. Giống và tiêu chuẩn cây giống

1.1. Giống:Chọn các giống ngô lai F1 được khuyến cáo phù hợp với điều kiện sinh thái tại địa phương, có năng suất cao, chống chịu sâu, bệnh hại tốt như NK7328, NK6275, LVN10, DK9955S, PAC999, C919,…

1.2. Tiêu chuẩn cây giống:

Độ thuần giống: ≥ 98% (không lẫn giống khác).

Tỷ lệ nảy mầm: ≥ 90%.

Độ ẩm hạt giống: ≤ 13%.

Kích thước và màu sắc: Đồng đều, không bị lép, mốc, sâu mọt, biến dạng.

Không lẫn hạt cỏ dại và tạp chất > 2% khối lượng.

2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

2.1. Thời vụ trồng:

Tại Lâm Đồng có thể trồng ngô quanh năm theo lịch thời vụ như sau:

+ Vụ Đông Xuân: gieo từ tháng 11-12 (DL).

+ Vụ Xuân Hè; gieo từ tháng 1-2 (DL).

+ Vụ Hè Thu: gieo từ tháng 4 -5 (DL).

Tuy nhiên, để đạt được năng suất cao, ít sâu bệnh, hạn chế rủi ro và có hiệu quả kinh tế cao nên chọn thời điểm gieo giống thích hợp ở từng vùng sao cho ở giai đoạn thụ phấn có nhiệt độ không quá cao.

2.2. Mật độ trồng:

Mật độ tùy theo khuyến cáo của từng giống theo mùa vụ cụ thể, có thể gieo mỗi hốc gieo 1-2 hạt. Lượng hạt giống 12 kg/ha. Cần gieo dự trù trong khay ương 2-3% số cây để dặm vào chỗ mất cây sau này.

Xử lý hạt trước khi gieo trồng: Ngâm hạt trong nước ấm từ 5-6 giờ, sau đó ra qua nước sạch để loại bỏ nước chua rồi đem ủ trong khăn ẩm đến khi hạt nứt nanh sau đó đem trồng.

Mật độ gieo: 44.000 - 53.000 cây/ha. Khoảng cách giữa các hàng: 75 cm. cây cách cây: 25 -30 cm.

2.3. Chuẩn bị đất

Ngô là cây trồng cạn mặc dù cần nước nhưng nếu ngập úng quá 48 tiếng thì ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây. Do đó, việc làm rãnh vừa giúp tưới nước dễ dàng nhưng cũng giúp thoát nước 1 cách nhanh chóng.

Trước khi thu hoạch lúa Đông Xuân 10-15 ngày, tháo cạn nước, để đất có đủ độ ẩm, tranh thủ thời vụ gieo ngay không cần tưới nước. Trường hợp ruộng khô quá có thể tưới tràn ngay sau gieo hạt. Sau kết thúc thu hoạch lúa Đông Xuân, xử lý xong rơm rạ, dọn sạch cỏ ở ruộng kể cả bờ bao, phun thuốc trừ cỏ bờ bao.

Xử lý đất bằng thuốc hạt, rải trước gieo hạt để trừ dế, kiến và phòng tránh sâu ăn tạp.

Nếu ruộng ngô dễ bị úng ngập, phải lên liếp (lên luống). Làm rãnh mạng xương cá và thiết lập hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh, giúp thoát nước triệt để khi có mưa và tưới nước cho ngô trong suốt vụ. Mặt liếp rộng 120 cm, rãnh rộng 20 cm - sâu 30 cm. Tuy nhiên, theo thực tế canh tác cứ sau 2 liếp chúng ta nên làm rãnh rộng 40 - 50 cm để tiện đi lại phun xịt thuốc.

* Chú ý: Nếu canh tác ngô luân canh trên nền đất lúa có áp dụng biện pháp tưới tràn toàn vùng, thì đối với những ruộng có mặt bằng thấp, phải lên liếp cao, hệ thống thoát nước hoàn chỉnh, phải đảm bảo đê bao không bị tràn và rò rỉ nước, tránh bị ngập úng.

2.4. Kỹ thuật trồng:

Có thể áp dụng 2 cách sau: Gieo hạt bằng dụng cụ kéo hàng, sau khi kéo hàng tiến hành bỏ hạt và dùng tro trấu lấp hạt hoặc gieo hạt với dụng cụ xỏm lỗ bằng tay, sau khi kéo hàng tiến hành bỏ hạt và dùng tro trấu lấp hạt.

2.5. Phân bón và cách bón phân:

Vôi bột: Liều lượng: 500 kg/ha, bón khi làm đất, lên liếp lần cuối (trước khi gieo 7-10 ngày).

+ Phân hữu cơ: bón lót trước khi gieo trồng 3-5 ngày: 1.500 kg/ha

+ Phân hoá học: Liều lượng phân cho 1 ha: 200 kg N + 120 kg P2O5 + 120 kg K2O tương đương 435 kg Ure + 667 kg Super lân + 200 kg Kali.

Bảng 1. Lượng phân bón từng giai đoạn (% so với tổng lượng phân bón cả vụ)

Loại phân

Bón lót (%)

Thời kỳ bón (%)

Thúc 1

(15-20 NSKG)

Thúc 2

(30-40 NSKG)

Super Lân

100

-

-

Phân hữu cơ

100

-

-

Ure

-

50

50

Kali

-

50

50

Ngoài lượng phân bón theo các công thức phân như trên, khi canh tác ngô cần phun bổ sung dinh dưỡng qua lá để giúp cây ngô phát triển tốt chống chịu các điều kiện bất lợi thì dùng một số loại phân bón như: phun phân bón qua lá 2 lần ở giai đoạn 20 - 25 và 40 - 45 ngày sau gieo, phun ướt đều toàn bộ cây.

2.6. Chăm sóc

- Trồng dặm: Sau khi gieo hạt xong 1 tuần cần kiểm tra dặm lại các cây chết, để đảm bảo số lượng cây trồng/đơn vị diện tích.

- Tỉa cây, tỉa chồi: Sau khi gieo hạt xong 1 tuần tiến hành tỉa bớt những cây ốm yếu và để lại cây khỏe. Tỉa chồi đối với giống có nhiều chồi non ở giai đoạn 2-3 tuần sau khi xuống giống.

- Làm cỏ: Làm cỏ lần 1 khi cây có 2-3 lá gọi là xới phá váng, xới nhẹ trên mặt cỏ và bón phân đợt 1. Lần 2 khi cây có 7-9 lá, tiến hành cuốc xới trên hàng, bón phân lần 2 rồi vun đất. Trường hợp cần thiết có thể dùng thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm phù hợp với cây ngô theo hướng dẫn trên bao bì.

- Tưới nước

Ngô là cây trồng cạn, bộ rễ phát triển rất mạnh nên có khả năng hút nước khoẻ hơn nhiều cây trồng khác và sử dụng nước tiết kiệm hơn. Tuy nhiên cây ngô sinh trưởng nhanh và tạo ra một khối lượng sinh khối lớn nên ngô cần một lượng nước lớn. Cung cấp nước cho ngô đảm bảo đất luôn đủ ẩm cho ngô, nhưng không đọng vũng nước sau mưa hoặc sau tưới. Tưới nước nên kết hợp với các kỳ bón phân.

Thời điểm tưới nước

+ Từ khi gieo đến 20 ngày tuổi, nếu đất có đủ độ ẩm, không cần phải tưới nước. Nhưng nếu cây con có biểu hiện thiếu nước (lá nhỏ, lá quăn) phải tưới bổ sung bằng kỹ thuật tưới phun (sử dụng máy bơm có gắn vòi sen tưới nước).

+ Sau 20 ngày tuổi đến khi thu hoạch có thể tưới tràn. Sử dụng máy bơm nước theo các đường rãnh trên ruộng, quan sát thấy nước tràn giáp bề mặt đất tiến hành rút nước triệt để ra ngay khỏi ruộng.

+ Cần tưới từ 5 - 10 lần trong suốt quá trình từ gieo đến sau trỗ 20 ngày, tùy theo điều kiện đất đai và hạn trong vụ. Độ ẩm đất thích hợp cho ngô vào khoảng 70-80% sức chứa ẩm tối đa đồng ruộng. Khi đất khô, trời không mưa thì phải tưới nước cho ngô. Cách tưới hiệu quả nhất là tưới theo rãnh, để qua đêm cho nước ngấm vào thân luống rồi tiến hành rút cạn nước.

3. Phòng trừ sâu bệnh

3.1 Quản lý dịch hại tổng hợp:

Quản lý dịch hại tổng hợp là chiến lược phòng trừ sâu bệnh một cách tổng thể, bền vững, kết hợp đồng bộ các biện pháp canh tác, sinh học, vật lý và hóa học để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người. Áp dụng IPM trên cây ngô gồm:

a) Biện pháp canh tác

Gieo trồng đúng thời vụ, đồng loạt trong vùng để ngắt vòng đời sâu bệnh.

Luân canh cây trồng với các cây không cùng họ như đậu nành, đậu xanh, dưa leo… giúp giảm mật số sâu bệnh tích lũy.

Dọn vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch: vùi tàn dư thực vật, làm đất kỹ để tiêu diệt nơi cư trú của sâu bệnh.

b) Biện pháp sinh học

Bảo vệ và phát triển các thiên địch tự nhiên như nhện ăn mồi, ong ký sinh, bọ rùa, kiến vàng…Có thể sử dụng một số chế phẩm sinh học (nấm xanh Metarhizium anisopliae, nấm trắng Beauveria bassiana, vi khuẩn Bacillus thuringiensis) để phòng trừ sâu cuốn lá, sâu keo mùa thu…

c) Biện pháp vật lý – cơ học

Bẫy đèn để bắt bướm trưởng thành vào ban đêm.

Bẫy pheromone theo dõi và diệt trừ sâu keo mùa thu.

d) Biện pháp hóa học

Sử dụng thuốc hóa học khi thật cần thiết và tuân thủ nguyên tắc "4 đúng":

3.2. Sâu hại và biện pháp phòng trừ

a) Sâu xám (Agrotis ipsilon)

- Đặc điểm gây hại

Sâu cắn ngang gốc thân cây ngô non sát mặt đất, làm cây bị đứt ngang, chết héo hàng loạt vào sáng hôm sau. Thường gây hại ban đêm, ban ngày chui vào đất lẩn trốn, khó phát hiện.

- Biện pháp phòng trừ:

+ Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại trên ruộng và quanh bờ để hạn chế nguồn ký chủ phụ của sâu.

+ Cày ải phơi đất 2 tuần trước khi trồng để diệt trứng và nhộng hoặc cho nước ngập vào ruộng, ngâm khoảng 1 ngày đêm sau đó tháo cạn, để ráo ruộng trước khi gieo trồng.

+ Đối với những ruộng nhỏ, khi mật độ sâu thấp có thể bắt sâu bằng tay vào buổi sáng sớm hay chiều tối bằng cách bới đất quanh gốc cây bị sâu cắn để bắt sâu.

+ Dùng bẫy bả chua ngọt để bẫy bướm. Trộn hỗn hợp gồm 4 phần đường + 4 phần dấm + 1 phần rượu + 1 phần nước. Cho vào trong bình đậy kín sau 3-4 ngày thì thêm vào 1% thuốc trừ sâu. Quấn giẻ hay bùi nhùi rơm rạ vào đầu gậy nhúng vào bả cắm trên bờ ruộng. Bướm trưởng thành sẽ bay vào ăn bả chua ngọt và bị chết. Cứ 2-3 ngày nhúng bả lại 1 lần.

+Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được đăng ký trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam, tham khảo sử dụng các hoạt chất: Chlorantraniliprole + Abamectin (Voliam Targo 63SC), Emamectin benzoate (G8-Thôn Trang 96 WG, Golnitor 20EC,…), Indoxacarb (Map-Jono 5EC) để phòng trừ.

b) Sâu xanh (Plathypena scabra)

- Đặc điểm gây hại:

Sâu xanh gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng của cây ngô. Khi cây ngô còn non, sâu ăn các bộ phận non của cây như ngọn, lá non làm thủng lá, làm cây sinh trưởng chậm. Lúc ngô trỗ cờ sâu đục vào lá bao cờ, gây hại cho bao phấn, bông cờ. Khi cây có ngô, sâu ăn hạt non hoặc đục vào trong ngô. Chất thải do sâu non bài tiết làm kết dính lá bao cờ, cản trở việc trổ cờ và tung phấn.

Trên cây ngô, sâu non cắn phá râu ngô, làm giảm tỉ lệ đậu hạt. Nhiều khi sâu còn đục và ăn phần đầu trái ngô, gây thối trái ngô khi gặp mưa.

- Biện pháp phòng trừ:

+ Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ quanh bờ để hạn chế nguồn ký chủ phụ của sâu. Cày bừa phơi ải, làm đất kỹ trước khi gieo hạt để tiêu diệt nhộng sâu xanh trong đất.

+ Khi phát hiện sâu xanh, có thể phun phòng lúc ngô 3-4 lá, 7-9 lá và trước trỗ cờ 5-7 ngày.

- Dùng ong mắt đỏ Trichogramma để diệt sâu non

Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được đăng ký trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam, tham khảo sử dụng các hoạt chất như Abamectin (Reasgant 1.8EC, Brightin 4.0EC, Miktin 3.6EC), Emamectin benzoate(Actimax 50 WG, Map Winner 5WG), … để phòng trừ.

c) Sâu đục thân (Ostrinia nubilalis Hubner)

- Đặc điểm gây hại

Bướm trưởng thành sống ẩn nấp trong bẹ lá, đẻ trứng trên lá, trứng đẻ thành ổ xếp dạng vẩy cá, sâu non nở ra ăn thủng lá nõn, hay ăn vào bao cờ, cuống cờ làm cờ gãy gục, hoa phấn khô héo, không tung phấn được.

Sâu xuất hiện quanh năm nhưng phá hại mạnh nhất ở giai đoạn trỗ cờ phun râu, đóng ngô. Sâu từ tuổi 3 trở lên đục phá vào thân làm cây chậm phát triển, thậm chí ngừng phát triển. Khi cây lớn, sâu đục trong thân để lại phân ở đường đục. Thân ngô bị đục ít khi chết. Nếu gặp gió to có thể bị gẫy ngang. Ngô bị sâu đục lúc còn nhỏ bị gẫy non, không lớn lên được. Ngô non có thể bị đục từ cuống ngô vào thân ngô, nếu ngô đã cứng thì sâu đục từ đầu ngô đến giữa ngô.

- Biện pháp phòng trừ

+ Chọn và trồng giống ngô chống chịu sâu đục thân.

+ Luân canh cây trồng để tránh sâu tồn tại từ vụ này sang vụ khác.

+ Vệ sinh đồng ruộng, diệt sạch cỏ sau khi thu hoạch, cày ải sau khi thu hoạch ngô vụ thu để giết sâu non và nhộng.

+ Gieo trồng đúng thời vụ.

+ Bắt sâu bằng tay, ngắt ổ trứng.

+ Bảo vệ và lợi dụng ong ký sinh, quan trọng nhất là ong mắt đỏ ký sinh trứng Trichogramma.

- Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được đăng ký trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam, sử dụng các hoạt chất như: Bifenthrin + Imidacloprid (Vote 34.2SC), Cartap (Supertar 950SP), Chlorantraniliprole (Brethon Plus 0.4GR), Deltamethrin (Decis 2.5EC), … để phòng trừ.

d) Sâu cắn lá (Mythimna loreyi Duponchel)

- Đặc điểm gây hại

Sâu phá hại nặng nhất ở các vùng đất bãi ven sông. Sâu non tuổi nhỏ cắn phá phần non như nõn ngô, hoa đực. Sâu non từ khi nở đến khi hoá nhộng không rời cây ngô, nhưng khi thành dịch thì sâu có thể tràn từ ruộng này sang ruộng khác để phá hại. Sâu non hoạt động ban đêm, ban ngày ẩn nấp trong nõn ngô, bẹ lá hoặc chui xuống đất ở gần gốc.Sâu tuổi lớn gặm khuyết phiến lá, ăn trụi phần thân non tới đỉnh sinh trưởng. Sâu có thể ăn hết phần thân ngô non trên mặt đất.

Khi ngô trỗ cờ, sâu phá hại lá, chui vào ngô ăn hạt non, râu ngô làm tỷ lệ kết hạt ở ngô giảm đi. Sâu cắn lá ngô có 7-8 lứa 1 năm. Hàng năm sâu xuất hiện trên ngô sớm vào tháng 10-11. Sâu phá hại mạnh trà ngô Đông Xuân gieo muộn trong tháng 12 (5-8 lá). Từ đầu tháng 3 mật độ sâu giảm dần. Mùa hè và mùa thu, sâu thường chỉ tồn tại lẻ tẻ.

- Biện pháp phòng trừ

+ Luân canh cây trồng để tránh sâu tồn tại từ vụ này sang vụ khác.

+ Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ trong ruộng và quanh bờ để hạn chế nơi trú ngụ của sâu.

+ Gieo trồng đúng thời vụ.

+ Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được đăng ký trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam, có chứa các hoạt chất như Chlorantraniliprole (Tesla 25SC), Chlorfluazuron + Indoxacarb (Amazon 250SC)để phòng trừ.

e) Rệp hại ngô (Aphis maydis Fitch. Rhopalosiphum maydis)

- Đặc điểm gây hại

+ Thường gây hại từ khi cây ngô 8, 9 lá đến khi thu hoạch. Rệp bám trên lá, trong nõn, bẹ lá, lá bi, hoa cờ v.v… chích hút nhựa các bộ phận làm cho cây còi cọc, ngô nhỏ, năng suất và chất lượng ngô giảm. Rệp phát triển nhanh và gây hại mạnh khi nguồn thức ăn đầy đủ, nhất là những ruộng ngô gieo dày, ẩm độ không khí trong ruộng cao hoặc ruộng ngô bị hạn.

+ Rệp ngô còn là môi giới truyền virut gây bệnh khảm lá, đốm lá ngô.

- Biện pháp phòng trừ

+ Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ trong ruộng và xung quanh bờ. Không nên trồng ngô mật độ quá dầy, khi cây ngô cao 25-30 cm thì tiến hành tỉa định cây, loại bỏ những cây gầy yếu cho ruộng thông thoáng hạn chế rệp phát triển.

+ Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được đăng ký trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam, tham khảo sử dụng các hoạt chất như:Alpha-cypermethrin + Profenofos (Profast 210EC), Chlorfenapyr + Lambda-cyhalothrin + Profenofos(Picana 450EC), … để phòng trừ.

f) Châu chấu (Oxya chinensis)

- Đặc điểm gây hại

Châu chấu di chuyển thành đàn, cả trưởng thành và châu chấu non đều gây hại, chúng gặm cả lá non và lá già, làm khuyết từng mảng hoặc thủng lá, lá bị hại nặng còn trơ lại gân lá. Khi di chuyển thành đàn lớn chúng gây thành dịch, có thể phá hại toàn bộ ruộng ngô hoặc cả vùng. Châu chấu xuất hiện quanh năm và cũng tùy thuộc vào số lượng mà có thể gây tác hại lớn hay nhỏ. Chúng hoạt động mạnh vào lúc trời mát mẻ thường từ 7-10 giờ sáng và 3-5 giờ chiều.

- Biện pháp phòng trừ:

+ Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ trong ruộng và xung quanh bờ để hạn chế các ký chủ phụ và là nơi ẩn nấp để di chuyển sang ruộng khác phá hại.

+ Nên sử dụng các chế phẩm nấm sinh học Metarhizum để phòng trừ, tuy hiệu quả chậm nhưng lâu dài và không ô nhiễm môi trường. Khi mật độ cao dùng các loại thuốc được đăng ký trong danh mục thuốc BVTV để phòng trừ. Phun thuốc tốt nhất vào lúc châu chấu mới nở và tuổi nhỏ.

g) Sâu đục ngô: (Heliothis armigera)

- Đặc điểm gây hại:

Ấu trùng sau khi nở ra ăn trụi râu ngô và từ đó chui vào trái ngô ăn hết hạt ngô còn non, đặc biệt là sâu chỉ ăn hạt. Sâu cũng tấn công cả vỏ và cùi ngô nhưng rất hiếm. Sâu thường chui xuống đất để làm nhộng nhưng đôi khi cũng làm nhộng ngay tại nơi đang ăn trên trái ngô. Khi cây ngô còn non chưa có trái, sâu đục xuyên qua loa kèn để ăn lá.

- Biện pháp phòng trừ

+ Những giống ngô có bao trái dài và chặt ít bị sâu gây hại hơn những giống có bao trái ngắn và không chặt

+Khi mật độ sâu hại cao, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được đăng ký trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam, có chứa các hoạt chất như Emamectin benzoate + Lufenuron (Armcide 50WG),Chlorpyrifos Methyl (Sago-Super 3GR),để phòng trừ.

i) Sâu keo mùa thu (Tên khoa học: Spodoptera frugiperda)

- Đặc điểm gây hại

+ Sâu non tuổi 1-2 và tuổi 6 ăn ít nhưng sâu non tuổi 3-5 ăn nhiều, gây hại nặng.

+ Sâu non tuổi 1-2 ăn biểu bì ở mặt trên của lá non gây ra các vết hình vuông hoặc hình chữ nhật màu trắng đặc trưng.

+ Sâu non tuổi lớn hơn ăn khuyết lá, bẹ lá tạo thành các lỗ lớn “cửa sổ”.

+ Sâu non thải rất nhiều phân và bả thải ngay trên lá, nõn cây ngô.

Biện pháp phòng trừ

+ Làm sạch cỏ dại xung quanh vườn trồng ngô, làm đất rồi phơi đất để ấu trùng và nhộng trong bề mặt đất phía trên chết hoặc bị thiên địch tiêu diệt.

+ Làm đất kỹ góp phần diệt nhộng trong đất.

+ Sử dụng chế phẩm xanh, nấm trắng, vi khuẩn Bt, Virus NPV để phun trừ sâu tuổi nhỏ.

+ Nhân, thả ong ký sinh và các loài bắt mồi ăn thịt (như bọ đuôi kìm) để phòng trừ sâu non.

+ Sử dụng các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng để phun trừ khi sâu ở tuổi 1–2 (giai đoạn ngô 3–6 lá). Tiến hành phun đều trên lá, thân và nõn ngô vào sáng sớm hoặc chiều mát. Một số thuốc BVTV đã được đăng ký để phòng trừ sâu keo mùa thu như các hoạt chất: Spinetoram (Radiant 60SC), Abamectin + Chlorantraniliprole (Voliam Targo® 063SC), Emamectin benzoate (Avermectin B1a + Avermectin B1b (Actimax 50WG), Lufenuron (Match® 050 EC).

3.2. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ

a) Bệnh gỉ sắt: (Puccinia sorghu Schw.)

- Triệu chứng gây hại:

+ Bệnh gỉ sắt phổ biến ở khắp các vùng trồng ngô. Bệnh hại trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây, chủ yếu trên lá.

+ Vết bệnh ban đầu là những chấm nhỏ màu vàng nhạt, sau đó lớn dần và liên kết với nhau tạo thành ổ chứa các bào tử màu vàng nâu (bào tử hạ), dần có màu nâu đen như gỉ sắt (bào tử đông).

+ Bệnh nặng vết bệnh dày đặc làm lá bị khô cháy, bệnh lan sang cả thân, bẹ lá và áo ngô.

- Biện pháp phòng trừ

+ Sử dụng giống ngô có khả năng chống chịu bệnh, dùng hạt giống sạch bệnh.

+ Luân canh trồng ngô với lúa và cây họ đậu. Chăm sóc tốt làm cho cây khỏe tăng cường khả năng chống bệnh. Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư cây bệnh đưa ra khỏi ruộng tiêu huỷ. Thường xuyên ngắt tỉa lá già, lá bệnh, tạo độ thông thoáng cho ruộng ngô.

- Phun các loại thuốc bảo vệ thực vật, tham khảo sử dụngcác hoạt chất Azoxystrobin + Difenoconazole (Vitrobin 320SC), Azoxystrobin + Difenoconazole + Propiconazole (Osaka-Top 500SE), Bismerthiazol + Hexaconazole (TT-bemdex 600SC),…

b) Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani Kuhn)

- Triệu chứng gây hại

+ Bệnh khô vằn gây hại ở khắp các vùng trồng ngô. Bệnh hại trên các bộ phận phiến lá, bẹ lá, thân và ngô tạo ra các vết lớn màu xám tro, loang lổ đốm vằn da hổ, hình dạng bất định như dạng đám mây.

+ Vết bệnh lan từ các bộ phận phía gốc cây lên tới áo ngôngô, bông cờ làm cây, lá vàng tàn lụi, khô chết ngô. Vết bệnh khô vằn cũng tương tự như vết khô vằn hại lúa.

+ Nấm bệnh khô vằn có thể gây hại cho ngô từ khi mới nảy mầm đến khi thu hoạch. Mầm bị nhiễm bệnh, trên rễ mầm và thân mầm thường có những vết bệnh màu nâu, ngô bị nhiễm bệnh trong giai đoạn mầm thường còi cọc và vàng. Song biểu hiện rõ và nặng của bệnh là ở giai đoạn cây ngô trỗ cờ đến làm hạt.

+ Khi trời ẩm ướt trên mặt vết bệnh phủ lớp sợi nấm màu trắng và những hạch nấm xốp khi còn non có màu trắng, khi già chuyển màu nâu. Hạch nấm là nguồn lây nhiễm của nấm bệnh. Bệnh làm giảm năng suất và cây bị bệnh nặng hạt ngô sẽ bị lép.

- Biện pháp phòng trừ

+ Trồng giống kháng hoặc giống ngô ít nhiễm bệnh, hạt giống tốt, gieo đúng thời vụ. Mật độ trồng vừa phải, không trồng quá dầy, tránh úng đọng nước.

+ Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn tiêu hủy các tàn dư thân lá cây bệnh sau thu hoạch. Làm đất, ngâm nước ruộng để diệt trừ nguồn bệnh là hạch nấm và tàn dư trong đất.

+ Xử lý hạt giống bằng thuốc BVTV.

+ Khi ngô đã lớn làm sạch cỏ, bóc sạch bẹ và lá bị bệnh đem tiêu hủy để hạn chế bệnh và ruộng ngô thông thoáng.

+ Dùng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma ủ với phân chuồng bón cho cây ngô, lượng dùng 200-300 kg/ha.

+ Phun các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được đăng ký và cho phép sử dụng tại Việt Nam, như: Azoxystrobin + Thifluzamide (Azotide 30SC),Difenoconazole + Propiconazole (Tilt Super® 300EC), Hexaconazole (Evitin 50SC), Hexaconazole + Validamycin (ValXtra 7.5SC), …

c) Bệnh bạch tạng (Sclerospora maydis (Racib)

- Triệu chứng gây hại

+ Bệnh phá hoại chủ yếu từ thời kỳ cây mới mọc có 2-3 lá thật đến giai đoạn 8-9 lá nhưng có thể kéo dài tới khi cây trỗ cờ.

+ Bệnh hại chủ yếu ở lá, các lá bị bệnh thường xuất hiện vết sọc dài theo phiến lá màu xanh trắng nhợt, lá mất màu dần, khi trời ấm, ban đêm, sáng sớm thường có lớp mốc xám phủ trên vết bệnh ở dưới mặt lá.

+ Trên cây những lá non mới ra cũng như bánh tẻ đều bị nhiễm bệnh nên toàn cây trắng nhợt, dần dần cây cằn yếu, các đốt gióng ngắn không phát triển được, cây vàng khô chết tại ruộng.

+ Cây bị bệnh kém phát triển hoặc phát triển không bình thường, còi cọc, lá nhỏ, không hình thành hạt hay hình thành những hạt dị hình. Bị bệnh nặng cây ngô không cho năng suất hoặc có thể chết.

- Biện pháp phòng trừ

+ Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư cây bệnh đem tiêu hủy, tạo độ thông thoáng cho ruộng ngô. Khi cây con bị bệnh sớm cần nhổ bỏ đem đốt hoặc chôn vùi thật kỹ để tránh lây lan nguồn bệnh.

+ Luân canh ngô với các cây trồng khác như lúa, cây họ cà, rau.

+ Sử dụng giống kháng bệnh, chỉ dùng hạt giống sạch bệnh, xử lý hạt giống bằng thuốc BVTV.

- Khi phát hiện cây bị bệnh, cần nhổ bỏ và tiêu huỷ ngay để tránh lây lan. Đồng thời, tham khảo sử dụng các loại thuốc BVTV có chứa hoạt chất Mancozeb + Metalaxyl (Agrimyl 72WP, Romil 72WP, Mancolaxyl 72WP),…

d) Bệnh đốm lá nhỏ (Helminthosporium maydis Nisikado)

- Triệu chứng gây hại

+ Bệnh phổ biến ở khắp các vùng trồng ngô và trên tất cả các giống ngô địa phương, ngô lai.

+ Bệnh gây hại chủ yếu ở phiến lá, bẹ lá và hạt.

+ Bệnh gây hại từ khi cây có 2-3 lá cho đến hết thời kỳ sinh trưởng của cây. Vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ, như mũi kim, hơi vàng sau đó lớn rộng thành hình tròn, hoặc hình bầu dục nhỏ, kích thước vết bệnh khoảng 5-6 X 1,5mm.

+ Vết bệnh màu nâu, hoặc ở giữa hơi xám, có viền màu nâu đỏ, nhiều khi vết bệnh có màu quầng vàng. Nhiều vết bệnh liên kết với nhau thành đám lớn làm tổn thương lá và giảm quang hợp ảnh hưởng đến năng suất ngô.

- Biện pháp phòng trừ

+ Sử dụng giống có khả năng chống chịu bệnh, dùng hạt giống sạch bệnh.

+ Xử lý hạt giống bằng thuốc được đăng ký danh mục thuốc BVTV cho phép.

+ Những vùng thường bị bệnh nặng nên luân canh với các cây không phải là ký chủ của bệnh.

+ Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư cây bệnh đem tiêu hủy và tạo độ thông thoáng cho ruộng ngô.

+ Sử dụng các loại thuốc BVTV đã được đăng ký phòng trừ bệnh đốm lá nhỏ/ngô Mancozeb (DN Man 68WG),Metalaxyl + Mancozeb (Ridomil Gold® 68WG), Chlorothalonil + Metalaxyl (Master Plus 225SC), … để phòng trừ.

e) Bệnh đốm lá lớn (Helminthosporium turcicum Pass)

- Triệu chứng gây hại

+ Bệnh xuất hiện ở khắp các vùng trồng ngô. Triệu chứng bệnh có thể nhận thấy trên các bộ phận như bẹ lá, lá bao và rõ nhất ở trên lá. Bệnh thường xuất hiện lá già sát gốc trước, sau đó lan dần lên những lá trên.

+ Vết bệnh dài có dạng sọc hình thoi không đều đặn, màu nâu hoặc xám bạc, không có quầng vàng.

+ Kích thước vết bệnh lớn 16-25 x 2-4mm, có khi vết bệnh kéo dài tới 5-10cm, nhiều vết bệnh có thể liên hết nối tiếp nhau làm cho lá dễ khô táp, rách tươm ở đoạn chóp lá.

- Biện pháp phòng trừ

+ Sử dụng giống ngô có khả năng chống chịu bệnh, dùng hạt giống sạch bệnh.

+ Xử lý hạt giống bằng thuốc có hoạt chất Iprodione với liều lượng khuyến cáo của công ty hướng dẫn trên bao bì được đăng ký danh mục thuốc BVTV cho phép.

+ Luân canh trồng ngô với lúa và cây họ đậu.

+ Chăm sóc tốt làm cho cây khỏe tăng cường khả năng chống bệnh.

+ Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư cây bệnh đưa ra khỏi ruộng tiêu huỷ.

+ Thường xuyên ngắt tỉa lá già, lá bệnh, tạo độ thông thoáng cho ruộng ngô.

+ Phun các loại thuốc được đăng ký danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam với các hoạt chất Azoxystrobin + Difenoconazole (Amistar Top® 325SC), Azoxystrobin + Propiconazole (Quilt® 200SE),…

f) Bệnh cháy lá (Helminthosporium turcicum, Helminthosporium maydis)

- Triệu chứng gây hại

+ Bệnh cháy lá lớn Helminthosporium turcicum Pas: Vết bệnh lúc đầu xuất hiện trên lá những vệt nhỏ màu nâu nhạt sau lớn dần tạo nên hình thoi màu nâu, nhiều vết bệnh liên kết với nhau làm lá bị cháy và rách, bệnh xuất hiện lá dưới trước rồi lan lên lá trên, nếu gặp trời ẩm ướt trên vết bệnh phía mặt dưới của lá xuất hiện lớp nấm mốc màu đen.

+Bệnh cháy lá nhỏHelminthosporium maydis Nisikado:

Vết bệnh xuất hiện những chấm nhỏ màu nâu vàng sau lớn dần tạo thành hình bầu dục hoặc hình tròn, ở giữa màu hơi xám trắng, tiếp theo là màu đỏ, đến màu vàng ở ngoài cùng, nhiều vết bệnh kết hợp nhau làm lá khô cháy, bệnh xuất hiện ở cả bẹ lá.

- Biện pháp phòng trừ

+ Chủ yếu bằng biện pháp thâm canh đúng kỹ thuật để cây ngô sinh trưởng, phát triển tốt hạn chế được sự gây hại của nấm bệnh.

+ Đất trồng cần có hệ thống tưới tiêu tốt, không để mưa làm ngập úng. Đất trồng phải khô thoáng, tránh đọng nước.

+ Khi thu hoạch để giống cần chọn những ngô ở cây không bị bệnh. Thu hoạch xong thu gom cây bệnh tiêu hủy nguồn bệnh.

- Khi bệnh xuất hiện có thể phun thuốc trong danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam tham khảo sử dụng các hoạt chất: Copper Oxychloride + Kasugamycin (Kasuran 50WP), Ethaboxam (Danjiri 10 SC),…

g) Bệnh phấn đen (Ustilago maydis Codra)

- Triệu chứng gây hại

+ Bệnh gây hại ở tất cả các bộ phận của cây ngô trên mặt đất.

+ Lúc đầu vết bệnh xuất hiện những u nhỏ trắng hồng, vết bệnh lớn dần có hình dạng bất kỳ màu nâu nhạt. Bên trong chứa một khối bột rắn, cứng, càng về già u sưng đó càng dễ vỡ ra để lộ một khối bột màu nâu. Cây bị bệnh trông dị hình, ngô bị bệnh hầu như hạt biến mất thay bằng những u sưng.

- Biện pháp phòng trừ

+ Vệ sinh đồng ruộng, ngâm ruộng để diệt nguồn bệnh.

+ Luân canh với lúa tối thiểu 2 năm.

+ Khi chăm sóc tránh gây vết thương cho cây. Khi phát hiện cây bị bệnh cần nhổ đem tiêu hủy.

h) Bệnh thối thân (Fusarium moniliforme Sheld)

- Triệu chứng gây hại

+ Bệnh xuất hiện và gây tác hại ở hầu hết các vùng trồng cây ngô, thường thể hiện rõ vào giai đoạn cây ngô tung phấn, trỗ cờ.

+ngô bị bệnh chuyển màu vàng khô và chết.

+ Thân cây bổ đôi quan sát thấy ruột có màu phớt hồng hay tím hồng. Lóng cây xốp, dễ bị đổ gãy, hạt thường bị chín ép. Trên bộ phận bị bệnh có phủ một lớp nấm màu hồng.

Biện pháp phòng trừ.

+ Không chọn những ruộng ngô bị bệnh để làm giống. Lựa chọn các giống có khả năng chống chịu bệnh để trồng.

+ Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư cây bệnh. Không gieo ngô quá sâu, tạo độ thoát nước cho ruộng ngô.

+ Dùng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma ủ với phân chuồng bón cho ruộng trước khi gieo.

- Xử lý hạt giống bằng các loại thuốc bảo vệ thực vật đã được đăng ký trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam, có chứa các hoạt chất như Propiconazole, Quaternary Ammonium Salts, …

III. Thu hoạch, sơ chế, bảo quản

- Đối với việc trồng lấy hạt khi thấy võ bi bên ngoài đã chuyển sang màu vàng hết và độ ẩm hạt 28-32% (Tách hạt ngô ra, cắn nhẹ hạt ngô không còn tươm sữa), là có thể thu hoạch được. Gần đến thời gian thu hoạch, cần kiểm tra thu hái ngô khi trái ngô đã phát triển hết độ lớn, hạt căng, hạt trên đầu trái ngô đầy đặn, không bị cứng.

- Giống ngô nếp thu trái tươi khoảng sau khi phun râu 18 – 20 ngày (60 – 65 ngày sau khi gieo, tùy giống).

Quy trình khác cùng nhóm

Căn cứ pháp lý

  • Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 — quy định nguyên tắc phòng, chống sinh vật gây hại thực vật.
  • Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT — ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng — nguồn của danh sách thuốc gợi ý theo dịch hại.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ