Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên chè.
Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.
| Dịch hại | Số thuốc đã đăng ký |
|---|---|
| Nhện đỏ | 71 |
| Rầy xanh | 68 |
| Bọ cánh tơ | 46 |
| Bọ xít muỗi | 26 |
| Bọ trĩ | 22 |
| Kích thích sinh trưởng | 18 |
| Sâu cuốn lá | 4 |
| Đốm xám | 4 |
| Chấm xám | 3 |
| Thối búp | 3 |
| Nhện đỏ nâu | 3 |
| Đốm nâu | 3 |
| Rệp | 2 |
| Rệp sáp | 1 |
| Thối rễ do nấm bệnh | 1 |
| Bệnh đốm nâu | 1 |
| Tuyến trùng | 1 |
| Thán thư | 1 |
| Rỉ sắt | 1 |
| Cỏ lá rộng | 1 |
(Ban hành kèm theoQuyết định số /QĐ-UBNDngày //2025
của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I.Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1.Thời kỳ kiết thiết cơ bản (KTCB): 3 năm.
2. Thời kỳ kinh doanh:22-27 năm, tính từ năm thứ 4.
3.Chu kỳ kinh doanh: từ 25 - 30 năm.
4. Mục tiêu năng suất (chè búp tươi): 15 - 17 tấn/ha.
II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1. Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa
- Nhiệt độ: phạm vi nhiệt độ thích hợp là từ 18-250C.
- Độ ẩm và lượng mưa: yêu cầu lượng mưa hàng năm từ 1.500 – 2.000mm, độ ẩm không khí 80-85%. Tại Lâm Đồng tuy lượng mưa lớn nhưng trung từ tháng 5-11, còn lại các tháng mùa khô cây chè bị thiếu nước vì vậy chống hạn trong mùa khô cho cây chè và hạn chế sói mòn trong mùa mưa cần được quan tâm chú ý.
2. Độ cao và gió: Trồng ở những nơi có độ dốc dưới 25o, trồng cây giống giâm cành trong bầu túi nilông (đường kính túi 6-7cm, túi cao 12-15cm).
3. Ánh sáng: Chè giống Đài Loan là cây ưa ánh sáng tán xạ, không quá mạnh cũng không quá yếu. Cường độ ánh sáng phù hợp sẽ giúp cây quang hợp tốt, cho năng suất và chất lượng búp chè cao.
4. Đất đai: Đất trồng chè cần đạt yêu cầu: mùn >2%, đất tơi xốp, pHkcl = 4,5 - 5,5, mực nước ngầm tối thiểu > 1m; kết cấu tơi xốp, độ dốc bình quân không quá 150. Đất trồng chè phải cách xa khu gây ô nhiễm như nghĩa trang, bệnh viện… Ở những nơi đất đồi dốc phải trồng theo đường đồng mức và trồng cây chống xói mòn.
III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống:
Chè Đài loan chất lượng cao bao gồm các giống chủ yếu sau:
- Chè Kim Tuyên: lá nhỏ hơn hơi tròn, màu xanh nhạt, có 6 đôi gân lá, răng cưa mép lá khá đều; búp nhỏ, ít mao; năng suất chè 7 năm tuổi từ 16 -17 tấn/ha/năm.
- Chè Thúy Ngọc: lá hơi bầu, màu xanh đậm và bóng, búp phớt tím, lá có 6 - 7 đôi gân lá, 30 - 33 đôi răng cưa và thưa, lớn nhỏ không đều; búp có mao trắng hẹ; năng suất từ 11-13 tấn/ha/năm.
- Chè Tứ Quý là giống chè Đài Loan; lá thon nhỏ, màu xanh đậm, răng cứ đều, lá có 26 - 38 đôi răng cưa, có 6 đôi gân lá; búp nhỏ màu phớt tím; năng suất từ 9 - 10 tấn/ha/năm.
Các giống chè trên là giống chè nguyên liệu để chế biến chè Olong, chè xanh đặc sản Đài Loan.
1.2. Tiêu chuẩn cây giống
Cây con xuất vườn phải đạt được các tiêu chuẩn sau:
- Cây con có từ 8 - 12 tháng tuổi.
- Có từ 6 -8 lá thật.
- Cây cao 20 - 25 cm.
- Đường kính gốc từ 2 - 2,5 mm.
- Có 1/3 thân đã hóa gỗ.
- Cây sạch sâu, nấm bệnh.
- Được huấn luyện ánh sáng hoàn toàn ít nhất 10 ngày trước khi trồng.
- Được gắn tên giống rõ ràng.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng
Có thể trồng quanh năm nhưng mùa nắng bắt buộc phải có nước tưới. Thường thời vụ trồng từ tháng 5 - 8 hàng năm.
2.2. Mật độ và khoảng cách
Tùy theo điều kiện đất đai, chế độ chăm sóc để áp dụng cho phù hợp:
- Khoảng cách 1,6m x 0,5 m, tương ứng mật độ 12.500 cây/ha.
- Khoảng cách 1,75 m x 0,5 m, tương ứng mật độ 11.428 cây/ha.
- Khoảng cách 1,5m x 0,45m, tương ứng mật độ 14.800 cây/ha.
- Khoảng cách 1,5m x 0,4m, tương ứng mật độ 16.700 cây/ha.
2.3. Chuẩn bị đất
Việc làm đất phải đạt yêu cầu đất tơi xốp, sạch cỏ vùi lớp đất mặt có nhiều hạt cỏ xuống dưới, đảm bảo độ ẩm đất khi trồng chè sẽ tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển nhanh, giúp cây cứng cáp trong thời gian nhanh nhất. Đất được cày sâu 30 – 35 cm, cày bừa 3 lần bằng cơ giới trước mùa mưa để diệt cỏ dại, giúp đất tơi xốp, cải thiện lý, hóa tính của đất; san phẳng hạn chế tối đa những chổ trũng hay mô cao gây úng cục bộ trong mùa mưa và thiếu nước cục bộ trong mùa khô.
2.4. Đào hố, bón lót
Đào hố:cuốc hố 30 x 30 x 30cm hoặc cày rạch theo hàng đã thiết kế trước.
- Bón phân lót:
+ Phân hữu cơ hoai mục, lượng bón từ 20-25 tấn/ha.
+ Phân lân: có thể dùng Super lân hoặc phân lân Văn Điển: 500-700kg/ha
2.5. Kỹ thuật trồng
Rải phân hữu cơ và phân lân đều các hố, mỗi hố rải một cây, trộn đều phân và đất trong hố trước khi trồng 15 - 20 ngày, dùng dao lam rạch bỏ túi nylon, tránh bị đứt rễ, không làm vỡ bầu đất, lấp đất chặt xung quanh hố. Trồng mặt bầu thấp hơn mặt đất 2-3cm, trồng xong rải hoặc phun thuốc trừ mối vào gốc.
2.6. Phân bón và kỹ thuật bón phân
* Phân hữu cơ: phân hữu cơ không những cung cấp dinh dưỡng cho chè mà còn có tác dụng cải thiện tính chất vật lý, hóa học, sinh học trong đất. Nguồnphân hữu cơ bao gồm phân chuồng, phân xanh và các nguyên liệu ép xanh.
Sử dụng phân hữu cơ sinh học có thành phần chính: chất hữu cơ > 25%, N Tổng số= 2,5 - 3,5 %. P2O5Tổng số = 0,3%, K2OTổng số= 1 - 1,3 % với lượng 25tấn/ha/năm. (lưu ý: nên bón tăng lượng phân hữu cơ sinh học trên đất có nền hữu cơ kém (hàm lượng chất hữu cơ < 2,5%).
Có thể sử dụng phân chuồng ủ hoai. Lượng bón từ 20 - 25 tấn/ha/năm hoặc 70 - 75 tấn/ha/3 năm (đối với chè kinh doanh); 5-10 tấn/ha (đối với chè KTCB).
* Phân vô cơ
2.6.1 Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)
Tuổi cây (năm) | LiềulượngN-P-K(kg/ha) | Lượngphân (kg/ha) | Số lần bón/năm | ||||
N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali | ||
1 | 50 - 90 | 20-40 | 30 - 40 | 109-195 | 121-242 | 50-100 | 1 tháng/1 lần |
2 | 100 - 150 | 40 - 80 | 60 - 80 | 217-326 | 242-485 | 100-134 | 1 tháng/1 lần |
3 | 160 - 240 | 60 - 100 | 70 - 100 | 347-521 | 364-606 | 117-167 | 2 |
2.6.2. Thời kỳ kinh doanh
Tuổi cây (năm) | LiềulượngN-P-K(kg/ha) | Lượngphân (kg/ha) | Số lần bón/năm | ||||
N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali | ||
4 | 240 - 300 | 60-100 | 80 - 120 | 521-651 | 364-606 | 134-200 | 3 |
5 | 300 - 360 | 80 - 120 | 100 - 160 | 651-781 | 485-606 | 167-267 | 3 |
6 | 300 - 360 | 80 - 120 | 100 - 160 | 651-781 | 485-606 | 167-267 | 3 |
7 | 320 - 400 | 100 - 160 | 100 - 160 | 694-868 | 485-727 | 167-267 | 3 |
8 | 360 - 450 | 100 - 160 | 120 - 160 | 781-977 | 485-727 | 200-267 | 3 |
2.6.3. Kỹ thuật bón phân
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản: Năm thứ nhất + năm thứ 2: Một tháng bón một lần; năm thứ 3 sau lứa hái bón phân 2 lần.
- Thời kỳ kinh doanh: Một lứa hái bón phân 3 lần: Lần thứ nhất hái xong bón ngay; lần thứ 2 phải kết thúc bón phân trước khi thu hái 10 - 15 ngày.
- Đối với phân đạm và phân kali tùy điều kiện thời tiết mà có thể rạch hàng, bón lấp hoặc bón rải theo tán chè, bón 2 lần/lứa hái, lần 1 sau khi thu hái 10 ngày, lần hai cách lần một từ 20-25 ngày, các loại phân được trộn đều và bón ngay. Đối với phân lân nên bón một lần cùng với phân hữu cơ vào đầu mùa mưa.
- Phân bón trung, vi lượng: bổ sung các phân trung vi lượng trên 1 ha như sau: 8kg ZnSO4 + 6kg CuSO4 + 7kg MnSO4. Các loại phân trung, vi lượng nên bón cùng với phân hữu cơ sẽ cho hiệu quả cao hơn; hoặc có thể phun qua lá với nồng độ 0,2%, sau lứa hái 20 ngày /lần (20 gam/bình 10 lít nước), lượng nước 500 – 600 lít/ha, phun vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.
- Phân bón qua lá: khi đã bón cân đối các loại phân đa lượng, trung vi lượng cho cây chè (phân gốc), để ổn định năng suất và nâng cao chất lượng chè thành phẩm, nên dùng các loại chế phẩm dinh dưỡng bón qua lá được chế biến từ đạm động vật (đạm chiết xuất từ cá nguyên con), đạm thực vật (chiết xuất từ rong biển).
Thời gian phun: phun 2 lần/lứa hái (lần thứ nhất sau khi thu hái búp 20 ngày; lần thứ hai phun cách lần thứ nhất 10 ngày), phun lúc sáng sớm hoặc chiều mát, không mưa.
2.7. Chăm sóc
2.7.1. Xới xáo, làm cỏ, tủ gốc, giữ ẩm
Xới xáo giúp lớp đất bề mặt tơi xốp, dễ thấm và thoát nước, giữ vườn luôn sạch cỏ, trong gốc chè nhổ cỏ bằng tay, dùng liềm làm cỏ ra xa gốc chè 20 cm, ngoài hàng làm cỏ bằng cuốc hoặc máy cày tay nhỏ. Hàng năm làm cỏ từ 4-6 lần. tiến hành giữ ẩm vào cuối mùa mưa, dùng cây phân xanh, cây họ đậu, cỏ… tủ gốc giữ ẩm nhưng không lấp kín gốc, thường tủ cách gốc 5-7cm để tránh mối gây hại.
Làm cỏ là công việc làm cần thiết vì điều kiện thâm canh cao rất thuận lợi cho cỏ phát triển. Hàng năm nên tiến hành diệt cỏ từ 6 - 8 lần bằng biện pháp thủ công kết hợp với dùng thuốc trừ cỏ.
- Tủ gốc, giữ ẩm: dùng nguyên liệu cây phân xanh hoặc cây họ đậu để tủ gốc cho chè. Để đảm bảo độ ẩm đất cho chè sinh trưởng và ổn định năng suất (nhất là mùa nắng), đối với chè mới trồng cách 01 ngày tưới một lần.
2.7.2. Trồng xen và trồng cây chống xói mòn
- Thời kỳ KTCB khoảng cách giữa hai hàng chè còn rộng, cần tiến hành trồng các loại cây họ đậu, nhóm cây phân xanh nhằm hạn chế cỏ dại và bổ sung chất hữu cơ cho đất, hạn chế xói mòn, góp phần giữ ẩm cho chè.
- Trồng xen cây ăn trái vào vườn chè như sầu riêng, măng cụt với kích thước 15 m x 15m/cây, trồng cây keo che bóng, muồng đen với khoảng cách 20m x 20m/cây.
2.7.3. Tưới nước
- Chỉ sử dụng nguồn nước tưới đã được xác định không bị ô nhiễm hoá chất và VSV. Không sử dụng nước từ những vùng sản xuất công nghiệp, nước thải nhà máy vì nó có thể đem lại các chất độc hại hoặc gây ô nhiễm;
- Sử dụng tưới nước bằng các phương pháp tưới tiết kiệm, tránh lãng phí;
- Tuỳ theo thời tiết, mùa khô tưới với lượng nước từ 1.000 - 1.200 m3/ha/lứa hái (một lứa hái trung bình từ 47 - 50 ngày).
2.7.4. Tạo hình, tạo tánĐốn tạo hình chè KTCB
Tùy theo tình hình sinh trưởng, tuổi vườn cây mà có cách đốn thích hợp:
- Tạo hình lần 1: sau khi trồng để chè phát triển tự nhiên, một năm sau cây chè đạt đường kính thân hơn 1cm, dùng dao cắt thân chính độ cao từ 25-30cm tùy từng cây, chủ yếu cắt ở trên phân cành, các cành cấp 1, 2 cắt ở độ cao 50-55cm.
- Đốn tạo hình lần 2: sau khi tạo hình lần 1 được 2 năm thì tạo hình lần 2 (chè đủ 3 tuổi) độ cao vết đốn 45 - 50 cm.
Thời gian đốn: đốn tạo hình lần 1 tháng 5 - 6. Đốn tạo hình lần 2.
- Đốn chè (bằng máy chuyên dùng)
+ Đốn phớt: tiến hành sau mỗi lứa hái, nhằm sửa mặt tán được bằng phẳng. Đốn kiểu tán vòm, vết đốn lần sau cao hơn lần trước 2 - 3 cm.
+ Đốn lửng: sau 3 lứa hái (khoảng 140 - 150 ngày), cành tăm hương nhiều, tiến hành đốn lửng, đốn cách mặt đất 55 - 60 cm, cao hơn vết đốn cũ 2 - 3 cm. Đốn kiểu tán bằng.
+ Đốn đau: cây chè từ 10 tuổi trở đi năng suất không ổn định và có biểu hiện giảm năng suất thì tiến hành đốn đau, đốn cách mặt đất 40 - 45 cm. Yêu cầu vết đốn ngọt, không dập, không nứt.
+ Đốn trẻ lại: sau nhiều lần đốn đau, cây có biểu hiện sinh trưởng yếu, năng suất giảm cần phải đốn trẻ lại, tạo mới hoàn toàn bộ khung tán. Dùng cưa sắc cưa cách gốc 15 - 20 cm để vết đốn ngọt, không nứt và dập nát. Cả chu kỳ sống chỉ đốn trể lại 1 lần.
* Thời gian đốn: đốn tạo hình lần 2 hoặc đốn chè kinh doanh tháng 9-10.
* Kỹ thuật đốn:
Đốn tạo hình lần 1 dùng kéo cắt theo độ cao quy định.
Đốn lần 2 và chè kinh doanh dùng dao sắc đốn theo độ cao đã ấn định trước, vết đốn tròn ngọt, mắt vết đốn hướng ra ngoài hàng, vết đốn không dập nát, hạn chế sửa vết đốn.
Trong các lần đốn phải chừa 1 - 2 cành bìa giúp cho cây không thay đổi sinh lý đột ngột, cây còn một phần bộ lá sinh trưởng sẽ không bị chết. Chè nứt mầm dài hơn 25cm thì đốn cành chừa. Sau khi đốn phải gỡ rong rêu vệ sinh vườn chè.
2.8. Phòng trừ sâu, bệnh hại
2.8.1. Quản lý dịch hại tổng hợp
Ưu tiên thực hiện quản lý dịch hại (IPM), mục đích là áp dụng các biện pháp canh tác, biện pháp sinh học, biện pháp cơ giới, biện pháp hoá học hoặc những kỹ thuật khác phòng trừ dịch hại để giảm tới mức thấp nhất sử dụng hoá chất để trừ dịch hại:
- Phòng trừ bằng những biện pháp canh tác (trồng trọt) thông thường, như trồng giống khoẻ, chăm sóc tốt và duy trì việc trồng cây che bóng, cây trồng xen, duy trì che phủ đất;
- Mở rộng việc tìm hiểu về diễn biến của các đối tượng gây hại chính, tìm hiểu về sự phát triển của thiên địch;
- Thiết lập các ngưỡng gây hại của các tác nhân gây hại chính (rầy xanh, nhện đỏ, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi), dựa vào mức thiệt hại kinh tế (Rầy xanh 3-5 con rầy non/khay, Bọ cánh tơ 4 con/lá, Nhện đỏ 3 con/lá, Bọ xít muỗi bắt đầu thấy lác đác chòm lá có vết kim châm màu đen …);
- Trong trường hợp sử dụng thuốc hoá học trừ dịch hại là cần thiết, thì tính chọn lọc của thuốc là quan trọng để giảm bớt sự mất cân bằng sinh thái, an toàn sản phẩm và đảm bảo sự an toàn cho người lao động.
2.8.2. Sâu hại
a) Bọ xít muỗi (Helopeltis theivora Waterhouse)
- Đặc điểm gây hại: Bọ xít muỗi (BXM) dùng vòi chích hút nhựa búp chè, tạo nên những vết châm hình tròn lúc đầu có màu xanh nhạt sau chuyển thành màu nâu đậm. Cả bọ xít trưởng thành lẫn bọ xít non đều chích hút nhựa cây chè. Khi mật độ cao, sâu non của bọ xít mỗi gây ra hiện tượng chè bị cháy đen do các vết chích quá dày. Búp chè bị BXM chích hút nhiều bị nám đen, cong queo không có giá trị thương phẩm, ảnh hưởng đến những lứa búp sau, làm chậm lại sự phát triển của cây. BXM phát triển thích hợp nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 25-280C, ẩm độ trên 90%, vì thế chúng thường hoạt động mạnh vào sáng sớm hoặc chiều tối. Ngày âm u BXM hoạt động mạnh hơn ngày nắng, đặc biệt những ngày mưa to BXM xuất hiện hàng loạt và phá hại nặng.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: Dọn sạch cỏ dại, phát quang bờ lô, bụi rậm quanh nương chè. Bón phân cân đối NPK, không bón quá nhiều đạm, tăng cường Kali vào thời điểm BMX gậy hại. Khi chè bị hại nặng nên xiết chặt lứa hái, hái kỹ những búp bị hại để thu gom và tiêu diệt trứng. Tỉa cao các cành cây bóng mát và chắn gió xung quanh vườn chè. Trồng các giống kháng hay ít nhiễm BXM như LD97, mật độ trồng vừa phải có chế độ tỉa cành, tạo tán hợp lý.
+ Biện pháp sinh học: bảo vệ các loài thiên địch của BXM như chuồn chuồn, bọ ngựa và các loại ong ký sinh, ….
+ Biện pháp hóa học: thường xuyên kiểm tra, phun thuốc khi BXM nở rộ, búp chè bắt đầu có những vết chấm nhỏ. Sử dụng các loại thuốc gốc Dinotefuran (Oshin 100SL); Emamectin benzoate (Dylan 2EC, Map Winner 10WG); Thiamethoxam (Actara 25WG, Apfara 25WG), ...nhằm ngăn chặn kịp thời. Nếu phun trễ bọ xít muỗi đã phá hại trên diện rộng hay đang giai đoạn trưởng thành thì hiệu quả sẽ kém. Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
b) Rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr)
- Đặc điểm gây hại: Rầy non và rầy trưởng thành chích hút nhựa cây chè ở phần búp và lá non, vết chích theo đường gân chính và gân phụ của lá li ti như kim châm. Các vết chích dày đặc của rầy cản trở sự vận chuyển của nước và dinh dưỡng lên búp làm búp bị cong queo và khô đi, các lá non gặp ngày nắng nóng khô dần từ đầu đến nách lá. Do sợ ánh sáng trực xạ nên ban ngày phần lớn rầy nấp dưới tán là hoặc phần khuất ánh nắng mặt trời. Khi bị động, rầy bò ngang hoặc nhảy lẩn trốn khá nhanh, một số rầy trưởng thanh bay lên. Rầy non mới nở rất chậm chạp, rầy tuổi 3-4 nhanh nhẹn hơn. Trong một vùng, các nương chè non, mới bật mầm sau đốn, chè xanh tốt, cỏ nhiều thường bị rầy gây hại nặng hơn nương chè già sạch cỏ. Chè nơi khuất gió bị hại nặng hơn nơi thoáng gió.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: dọn sạch cỏ dại, bón phân cân đối, không trồng các cây che bóng, cây chắn gió là ký chủ của rầy. Chọn thời điểm đốn, hái chè thích hợp để tránh búp chè ra rộ trùng với thời điểm phát sinh của rầy xanh. Hái kỹ búp chè bị rầy trưởng thành đẻ rộ để hạn chế trứng rầy.
+ Biện pháp hóa học: khi thấy trên vườn chè có mức độ trứng rầy cao, đợi đa số rầy nở đến tuổi 1-2 thì xịt thuốc. Sử dụng các loại thuốc gốc Thiamethoxam (Actara 25WG); Dinotefuran (Oshin 100SL); Emamectin benzoate (Dylan 2EC, Proclaim 1.9EC, Tasieu 1.0EC, 1.9EC) phun trực tiếp vào búp chè khi rầy rộ. Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
c) Nhện đỏ (Oligonnychus cofeae niet)
- Đặc điểm gây hại: Nhện đỏ hút chất dinh dưỡng của chè chủ yếu trên lá già và lá bánh tẻ, làm cây sinh trưởng chậm, lá mau rụng, cây chè chậm ra lá non. Thời tiết khô hạn thuận lợi cho sự phát triển của nhện đỏ. Trong điều kiện tại Lâm Đồng, nhện phát sinh gây hại nặng trong khoảng từ tháng 1-4, nặng nhất tháng 2, 3, mùa mưa mức độ nhện thường rất thấp do bị mưa rửa trôi.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: tưới phun trong mùa khô, cành lá ở vườn nhiễm nhện sau khi đốn phải thu gom, trồng cây che bóng họ đậu vừa có tác dụng cải tạo đất, vừa hạn chế tác hại nhện đỏ.
+ Biện pháp hóa học: sử dụng các loại thuốc gốc Emamectin benzoate (Dylan 2EC, Angun 5WG, Newmectin 5WP) hoặc các thuốc có gốc sinh học Abamectin (Silsau 10WP, Abatox 3.6EC; Plutel 5EC), ….
d)Bọ cánh tơ (Physothrips setiventris Bagn)
- Đặc điểm gây hại: Bọ cánh tơ thường gặp hút chất dinh dưỡng ở lá non, nhất là khi lá chè chưa nở (tôm chè), vì thế khi lá xòe ra, triệu chứng gây hại của bọ cánh tơ thể thiện ở mặt dưới lá, hai vệt màu xám song song với gân chính. Tôm chè bị bọ cánh tơ hại thường sần sùi, cứng dòn, hai mép lá và chóp lá cong lên. Khi bị nặng chè bị rụng là, nhất là chè con. Bọ non sống tập trung ở búp và gân lá non, ít di chuyển. Thời thiết ẩm và không lạnh lắm thích hợp cho đời sống của bọ cánh tơ. Chè dãi nắng thường bị hại nặng hơn chè trồng trong bóng râm. Ở Lâm Đồng, bọ cánh tơ thường xuất hiện nặng vào tháng 3-4 và tháng 7-9.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: hàng năm cày xới xáo để diệt nhộng trong đất. Lấp kín bộ rễ chè, nếu rễ chè hở ra ngoài nhiều nương chè sẽ bị bọ cánh tơ phá hoại. Trồng cây che bóng, thu hái đúng lúc, hái hết lá và búp non để giảm mật độ bọ cánh tơ.
+ Biện pháp hóa học: sử dụng thuốc các loại thuốc có hoạt chất như: Abamectin (Javitin 36EC, Tungatin 3.6 EC …), Emamectin benzoate (Dylan 2EC, Emaben 2.0ME, 3.6WG, Tungmectin 5EC, 5WG) …
e) Sâu cuốn lá non (Gracillaria theivora Walsingham)
- Đặc điểm gây hại:sâu non mới nở chui vào biểu bì và gặm chất xanh của lá, khi lớn hơn bò ra ngoài cuốn mép lá thành tổ để ẩn nấp, sức ăn của sâu lúc này khá mạnh, lá chè có thể bị ăn khuyết. Sâu non rất nhạy cảm với tiếng động, khi thấy động, sâu nhanh chóng rới khỏi tổ, nhả tơ treo mình xuống thấp để ẩn nấu, Búp chè bị sâu hại phát triển chậm, giảm phẩm chất chè thương phẩm. Ở Lâm Đồng, sâu phát triển mạnh vào thời điểm giữa mùa khô và mùa mưa (tháng 3-5).
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác và sinh học: sâu non bị rất nhiều các loài ong ký sinh họ Eulophidae, Bethylidae, … nhộng cũng bị ký sinh bởi loài Angitia sp… Vì vậy cần chú ý các biện pháp kỹ thuật để duy trì thiên địch trong tự nhiên. Thường xuyên vệ sinh tạo thông thoáng cho nương chè.
+ Biện pháp hóa học: sử dụng các loại thuốc gốc Abamectin (Dipel 6.4WG) hoặc Citrus oil (MAP Green 6SL).
f) Bọ hung nâu (Maladera Orientalis Motch)
- Đặc điểm gây hại: Bọ hung nâu (BHN) xuất hiện nhiều ở vùng chè Lâm Đồng. Một số quan sát bước đầu cho kết quả: BHN thân dài 3-5mm, rộng 2,5-3,5mm. Các pha phát dục: trứng, sâu non đều nằm trong đất, trưởng thành lên cây gây hại. BHN thường gây hại nặng trên chè kiến thiết cơ bản hoặc chè đốn. Đầu mùa mưa (tháng 4-5) BHN xuất hiện nhiều nhất. Ban ngày BHN chui xuống đất nằm tập trung quanh tán chè, ban đêm (tập trung nhiều nhất từ 18-21 giờ) lên ăn khuyết toàn bộ lá non và búp chè, chỉ chừa lại gân lá. Những vườn bị BHN gây hại nặng, chè gần như ngừng sinh trưởng từ 2- 3 tháng, vường chè bị hại biến thành màu nâu.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: trồng cây phân xanh mật độ cao giữa các hàng chè thời kiến thiết cơ bản. Xác định thời vụ đốn thích hợp.
+ Biện pháp hóa học: hiện nay, chưa có thuốc trong danh mục thuốc BVTV đăng ký phòng trừ bọ hung nâu hại chè. Vì vậy bà con nông dân có thể tham khảo thuốc hóa học gốc Chlorpyrifos Methyl (Sago-Super 3GR) rãi quang gốc chè với liều lượng 50-70 kg/ha; hoặc phun (Sago-Super 20EC) với liều lượng 1,0-1,25 lít/ha, lượng nước phun 400 lít/ha, ngừng sử dụng thuốc trước thu hoạch 14 ngày. Khi sử dụng thuốc Sago-Super 3GR, 20EC đại trà, cần dùng thử trên diện tích hẹp để đánh giá hiệu lực thuốc và ảnh hưởng của thuốc đối với cây trồng.
g) Mọt đục cành chè (Xyleborua Camerunus)
- Đặc điểm gây hại: là sâu hại đặc thù của chè, trong thời gian gần đây là một trong những đối tượng gây hại quan trọng nhất. Mọt đục cành có mỏ ngắn, toàn thân màu đen. Chiều dài từ 1-1,7mm, rộng 0,5-2mm. Con cái có màu đen bóng, con đực màu nâu nhạt, con cái để trứng cuối đường hầm. Trung bình một con cái đẻ từ 30-50 trứng tuỳ theo điều kiện ngoại cảnh. Vòng đời của mọt đục cành từ 30-35 ngày. Mọt đục lỗ chui vào cành chè sinh sống, đục khoét thành đường ngoằn ngoèo trong thân và cành chè, những đường hầm không định vị nhất định, mọt đục cành thải mạt cưa ra ngoài. Cây chè bị hại có hiện tượng héo kéo dài vào mùa khô, ngừng sinh trưởng hoặc chết sau đốn do mạch gỗ bị cắt đứt từng đoạn. Mọt gây hại trên giống PH1, TB14 nhiều hơn các giống chè khác.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: trồng cây che bóng phù hợp. Khi mọt mới gây hại có thể cắt bỏ cành bị đục, kết hợp bón phân, chăm sóc để chè phát triển. Thu gom những cành cây bị mọt đục đem tiêu hủy.
+ Biện pháp hóa học: dùng thuốc sinh học có hoạt chất Bacillus thuringiensis var T36 (TP - Thần Tốc 16000 IU).
2.8.3. Bệnh hại
a) Bệnh phồng lá chè (Exobasidium vexans Masse)
- Triệu chứng gây bệnh: lúc đầu vết bệnh là một chấm nhỏ màu vàng nhạt xung quanh vết bệnh bóng lên bất thường. Sau một thời gian, vết bệnh lớn dần, mặt trên lõm xuống. Mặt dưới lá phồng lên, trên vết phồng phủ một lớp phấn màu trắng. Cuối cùng vết bệnh chuyển sang màu nâu, vết phồng khô xẹp xuống. Bệnh tập trung chủ yếu trên lá bánh tẻ và lá non, đôi khi trên trái non, cành non làm cành bị chết khô. Nấm gây bệnh Exobasidium vexans Masse thuộc lớp nấm đảm. Bào tử hình bầu dục không màu. Bào tử lây lan nhờ gió, mưa. Từ khi xâm nhiễm đến khi xuất hiện triệu chứng bệnh là 3-4 ngày. Nấm bệnh phát triển thích hợp trong điều kiện nhiệt độ từi 15-200C, ẩm độ >85%. Ở nhiệt độ 11-120C bệnh phát triển chậm và nhiệt độ trên 250C bệnh ngừng phát triển. Ở Lâm Đồng, bệnh gây hại chủ yếu trong khoảng tháng 9-12 dương lịch. Bệnh thường nặng ở những vườn chè quản lý không tốt, cỏ dại nhiều, ẩm thấp.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: thu hái kỹ búp và lá bị bệnh, vệ sinh vườn chè thường xuyên, sạch cỏ, thông thoáng. Bón phân cân đối N-P-K. Tăng cường Kali trong thời điểm thuận lợi cho bệnh phát sinh gây hại.
+ Biện pháp hóa học: sử dụng các loại thuốc gốc Imibenconazole (Manage 5WP); Ningnanmycin (Diboxylin 2 SL); Trichoderma spp. + K-Humate + Fulvate + Chitosan + Vitamin hoặc Chitosan; .... Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì. Có thể phun liên tiếp 2 lần liên tục cách nhau 5-10 ngày khi thấy có thể khống chế được bệnh.
b) Bệnh chấm xám (Pestalozzia theae Sawada)
- Triệu chứng gây bệnh: bệnh xuất hiện chủ yếu trên lá già và lá bánh tẻ. Vết bệnh lúc đầu là một chấm nhỏ màu nâu thường ở mép lá, sau lan rộng rất nhanh ra khắp mặt lá. Vết bệnh có hình lượn sóng, ngoài cùng có một viền màu nâu đậm khá rõ. Bệnh nặng có thế làm cháy cả lá, trong vườn ươm bệnh làm rụng lá mẹ, chết cây con. Bào tử màu nâu sẫm, có 3 ngăn. Đầu nhỏ bào tử có một lông, đầu lớn có ba lông. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ 20-250C, ẩm độ cao. Trong năm, bệnh gây hại nhiều vào mùa mưa (từ tháng 5-10); mùa khô (tháng 12-3) bệnh giảm rõ rệt.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: vệ sinh vườn chè, thu gom, xử lý triệt để thân, lá bị bệnh. Trong vườn ươm khi bệnh mới phát sinh có thể dùng kéo cắt vết bệnh đem đốt để tránh lây lan.
+ Biện pháp hóa học: sử dụng các loại thuốc gốc Cucuminoid + Gingerol (Stifano 5.5SL); Oligosaccharins (Tutola 2.0SL); Trichoderma viride (Biobus 1.00 WP); Chlorothalonil (Daconil 75WP). Phun ngay khi bệnh mới xuất hiện vào đầu mùa mưa. Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
c) Bệnh thối búp chè (Collectotrichum theae Petch)
- Triệu chứng gây bệnh: bệnh thường xuất hiện ở lá, búp non, cuống lá và cành non. Vết bệnh lúc đầu bằng đầu kim, màu đen, sau loang rộng ra, có khi dài tới 2cm, bệnh nặng làm cả búp bị khô. Sợi nấm màu trắng. Bào tử nấm không màu, hình hạt đậu. Bào tử lây lan nhờ gió, mưa. Nấm bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ khoảng 270C, ẩm độ trên 90%. Bệnh thường phát sinh gây hại nặng vào mùa mưa (tháng 7-10). Vườn ươm thường bị bệnh nặng hơn vườn chè hái. Vườn trồng bón nhiều phân đạm rất thuận lợi cho bệnh phát triển. Giống PH1 và LDP1 bị thối búp phần chừa nặng hơn các giống chè Shan (TB14, LD97).
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: bón phân cân đối NPK, tăng lượng phân Kali trong thời kỳ bệnh phát triển mạnh. Tạo thông thoáng trong vường ươm. Phát hiện bệnh sớm vào tháng 7-10.
+ Biện pháp hóa học: khi bệnh mới xuất hiện cần sử dụng các loại thuốc gốc Citrus oil (MAP Green 3SL); Eugenol (Genol 1.2SL); Trichoderma viride (Biobus 1.00 WP); Chitosan (Stop 15WP); ... phun ngay khi bệnh chớm xuất hiện ở đầu mùa mưa. Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
d) Bệnh đốm nâu (Thán thư – Colletotrichum camelliae Masse)
- Triệu chứng gây bệnh: bệnh chủ yếu hại lá già và lá bánh tẻ. Vết bệnh có màu nâu, không có hình dạng nhất định hoặc hình bán nguyệt. Trên vết bệnh có các hình tròn đồng tâm, giữa vết bệnh lá bị khô có màu xám tro. Xung quanh vết bệnh biểu bì lá bị sưng lên dễ thấy. Bệnh nặng làm lá bị khô và rụng hàng loạt. Nấm gây bệnh collectotruchim camelliae có khối phân sinh bào tử là những hạt nhỏ màu đen trên vết bệnh, cành phân sinh bào tử có hình gậy, không màu, trên đỉnh phân sinh bào tử có hình thoi dài. Bào tử phát tán nhờ gió, mưa …. Xâm nhiễm vào lá chè. Sau 5-15 ngày kể từ khi bắt đầu xâm nhiễm thì vết bệnh xuất hiện. Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện 25-300C, ẩm độ cao, nên bệnh thường phát sinh gây hại nặng trong mùa mưa (tháng 7-9), nhất là sau những đợt mưa kéo dài.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: dọn sạch lá khô rụng, cỏ dại ở vườn chè để tiêu diệt nguồn bệnh. Bón đủ phân, cân đối NPK.
+ Biện pháp hóa học: dùng các loại thuốc gốc Difenoconazole + Propiconazole (Tilt super 300EC) hoặc Chitosan (Stop 15WP). Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
e) Bệnh tảo (Cephaleuros virescens Kunzel)
- Triệu chứng gây bệnh: Tảo Cephaleuros virescens gây hại chủ yếu trên lá chè già, cành bánh tẻ phần giò gà ở những năm trước và sau lứa hái trước. Lúc đầu vết bệnh là một chấm tròn nhỏ màu vàng nâu, sau loang dần ra thành vết hình tròn hoặc vô định. Vết bệnh hơi lồi lên, trên có một lớp nhung mịn. Bệnh thường phát sinh trên những vườn chè ẩm thấp, thông gió không tốt. Bệnh gây hại trong mùa mưa nhiều hơn.
- Biện pháp phòng trừ: quản lý tốt và làm sạch cỏ dại, bón phân hợp lý. Những vườn có cây che bóng cần rong tỉa cây che bóng cho thông thoáng. Có thể dùng các loại thuốc gốc đồng để diệt tảo.
f) Bệnh dán cao(Septobasidium theae)
- Triệu chứng gây bệnh: là bệnh đặc thù trên vùng chè Lâm Đồng, vết bệnh như tấm vải nỉ bám thành từng mảng mịn xung quanh cành chè. Bệnh thường xuất hiện trên cành già. Đoạn cành bị bệnh sưng loét, mạch gỗ và mạch libe bị tắc làm cây chè ngừng sinh trưởng. Những vườn chè TB14 hiện đang bị bệnh này gây hại khá nặng.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: vệ sinh vườn trồng, không để quá chu kỳ đốn.
+ Biện pháp hóa học: hiện nay, chưa có loại thuốc nào trong danh mục thuốc BVTV đăng ký phòng trừ bệnh dán cao trên cây chè. Vì vậy bà con nông dân có thể tham khảo loại thuốc gốc đồng Copper Hydroxide (Champion 77WP) hoặc hoạt chất Mancozeb + Metalaxyl - M (Ridomil Gold 68WP) pha đặc quét lên thân, cành. Trước khi sử dụng đại trà, cần dùng thử trên diện tích hẹp để đánh giá hiệu lực của thuốc và ảnh hưởng của thuốc đối với cây trồng.
c) Các biểu hiện bệnh sinh lý:
* Các biểu hiện thiếu đạm
- Thiếu đạm: cây sinh trưởng phát triển kém, ít nảy đọt, búp non có màu xanh nhạt, xanh vàng đến ửng đỏ, năng suất thấp
+ N có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định năng suất chè.
+ N kích thích cho mầm và búp phát triển tạo ra năng suất.
+ N tham gia cấu tạo của protein, diệp lục.
Bón đạm đầy đủ cân đối cũng làm tăng phẩm chất của chè.
* Các biểu hiện thiếu lân
Lá có màu xanh đục mờ không sáng bóng. Thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thu đạm kém.
Chè thiếu lân trầm trọng sẽ bị trụi cành, năng suất và chất lượng đều thấp.
* Các biểu hiện thiếu Kali
Thiếu kali: ở cây chè ban đầu thường có biểu hiện lá vàng, giòn và lá chè thường bị khô đầu lá và cháy hai bên rìa lá.
Khi phát hiện có triệu chứng thiếu kali cần phải bón phục hồi ngay
IV. Thu hoạch và bảo quản
1. Thu hoạch
- Hái chè KTCB: năm thứ nhất và năm thứ hai chỉ hái những búp lớn trên mặt tán, chủ yếu nuôi dưỡng tán và nuôi cây, năm thứ ba có thể thu hái búp như chè kinh doanh (nếu chăm sóc tốt).
- Hái chè kinh doanh: hái bằng tay theo đợt sinh trưởng búp, thường 47 - 50 ngày một lứa. Một năm trung bình thu hái từ 7 - 7,5lứa.
- Kỹ thuật hái: hái toàn bộ búp có trên tán, hái 1 tôm 2-3 lá non, búp mù hái 2 lá non. Chú ý phần cọng hái sát lá phía dưới.
2. Bảo quản nguyên liệu
Để búp chè không bị dập làm ảnh hưởng đến chất lượng, nên hái khi trời ráo sương, mỗi gùi đựng khoảng 3 - 4kg (không nén chè trong gùi). Chè sau khi hái phải được bảo quản tốt vào chỗ mát, không để chè bị héo và vận chuyển ngay đến nhà máy.