Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây chanh

Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .

Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên chanh.

Dịch hại thường gặp và thuốc đã đăng ký phòng trừ

Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.

Dịch hạiSố thuốc đã đăng ký
Thán thư2
Ghẻ nhám1

Nội dung quy trình kỹ thuật

QUY TRÌNH

Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây chanh (có hạt, không hạt)

trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND ngày / /2025

của UBND tỉnh Lâm Đồng)

I. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật

1. Thời kỳ kiết thiết cơ bản (KTCB): 02 năm

2. Thời kỳ kinh doanh: từ 06 -12 năm, tính từ năm thứ 3.

3. Chu kỳ kinh doanh: 08-14 năm, tùy theo điều kiện tự nhiên và kỹ thuật canh tác.

4. Mục tiêu năng suất: 15-18 tấn/ha.

II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh

1. Nhiệt độ và lượng mưa

- Cây chanh có thể sống và phát triển đuợc trong khoảng nhiệt độ 13-38 0C, thích hợp nhất là 23-29 0C, duới 130C cây ngừng sinh truởng, trên 300C cây quang hợp giảm.

- Cây chanh có nhu cầu về nuớc rất lớn, nhất là trong thời kỳ cây ra hoa và phát triển trái; cây cũng rất mẫn cảm với điều kiện ngập nuớc. Trong mùa mua, nếu mực nuớc ngầm trong đất cao và không thoát nuớc kịp, cây sẽ bị thối rễ, vàng lá và chết. Trong mùa nắng, mực thủy cấp không thấp quá 80cm.

2. Ánh sáng: Cây chanh không thích hợp với ánh sáng trực tiếp, cuờng độ ánh sáng thích hợp cho cây khoảng 10.000 - 15.000 lux, cao quá sẽ làm giảm quang hợp và quả dễ bị cháy nắng.

3. Ðất đai: Cây cần tầng canh tác tác dày 0,5-1 m, ít bị nhiễm mặn, đất thịt pha, thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, đất tơi xốp, thông thoáng, thoát nuớc tốt, màu mỡ, có hàm luợng hữu cơ cao >3%, pH thích hợp từ 5,5 – 7.

III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

1. Giống và tiêu chuẩn cây giống

1.1 Giống

- Chanh giấy: Tên khoa học: Citrus aurantifolia; Họ: Rutaceae. Cây chanh giấy có nhiều gai, tán hình oval, cành phân bố đều, lá dầy đặc, được ưa chuộng vì vỏ mỏng (1-1,2 mm), nhiều nước, múi xanh nhạt, có vị thơm, quả hình cầu, đường kính từ 3,5- 4,0 cm, quả nặng bình quân 40 gram, 4-6 hạt.

- Chanh tàu (chanh núm): Tên khoa học: Citrus limonia; Họ: Rutaceae. Cây chanh tàu ít gai, tán dầy đặc, trái hình cầu, to, vỏ màu xanh đậm và hơi sần hơn chanh chùm, con tép màu vàng nhạt, trái to, nhiều nước. Quả tròn, đầu quả có núm ngắn. Kích thước từ 4,0 - 4,8 cm, quả nặng từ 45- 50 gram. Vỏ dày hơn chanh giấy từ 1,5-1,8mm. Múi màu xanh vàng, nhiều nước, 5-7 hạt.

- Chanh không hạt (có nguồn gốc nhập khẩu từ Mỹ): Tên Khoa học: Citrus latifolia; Họ: Rutaceae. Đây là giống nhập nội có hình thái: Quả xanh bóng, vỏ trái mỏng, không hạt, rất thơm, nhiều nước, kích thước trái đồng đều. Khi cây đã trưởng thành, gai sẽ bị thoái hoá nên dễ dàng chăm sóc và thu hoạch. Trọng lượng trái trung bình 70 – 100 gram, 10 – 15 quả/kg. Lá lớn, gai nhỏ, tược dài, cho trái chùm năng suất cao.

1.2. Tiêu chuẩn cây giống

Hiện nay chanh được trồng chủ yếu bằng phương pháp ghép vì nhanh cho thu hoạch và quả đều đẹp hơn.

Cần chọn những cây con giống ghép có chiều cao khoảng 50cm trở lên và phải đầy đủ bộ phận. Cây làm gốc ghép cây giống phải đạt các tiêu chuẩn sau:

- Không bị nhiễm bệnh vàng lá gân xanh, bệnh nứt thân xì mũ (chảy nhựa gôm), tuyến trùng rễ,…

- Bộ rễ khỏe, tùy điều kiện chăm sóc mà tuổi cây gốc ghép đạt từ 6 - 12 tháng, sức sống mạnh sinh trưởng tốt.

- Thíchnghinhiềuloạiđất,chịuhạn,chịuúng tốt.

- khảnăngtiếphợptốtvớigiốngghép.

2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

2.1 Thời vụ trồng:Cây chanh có thể trồng gần như quanh năm, nhưng nếu trồng vào mùa mưa thì cần chú ý thoát nước cho cây vì nếu mưa nhiều thì đất sẽ bị lèn làm cho cây chết vì nghẹt rễ.

2.2 Mật độ, khoảng cách: trồng theo hàng với khoảng cách hàng cách hàng 4m. Khoảng cách giữa hai cây là 4m tương đương với 625 cây/ha.

2.3 Chuẩn bị đất: Trước khi trồng khoảng 1 tháng đất phải được làm sạch cỏ, phân lô, xây dựng hệ thống đường chính, đường phụ.

2.4 Đào hố, bón lót

- Đào hố với kích thước 60x60x60 cm hoặc 80x80x80cm

- Bón lót: Bón lót 20 - 25kg phân chuồng hoai + 1 - 2kg supe lân + 100g ure + 100g kali hoặc 2kg phân NPK (5 -10 - 3 - 8)/hố, dùng cuốc trộn đều phân với đất, lấp cho gần đầy hố. Bón phân trước khi trồng từ 30 ngày trở ra.

2.5 Kỹ thuật trồng

Trộn đều các loại phân, vôi bột, một ít đất mặt cho xuống đáy hố. Sau đó lấp đất dày khoảng 20cm. Cây giống được xé bỏ túi bầu sau đó đặt cây giống thẳng đứng chính giữa hố, lấp kín đất bằng miệng hố hoặc cao hơn miệng hố 3 - 5cm. Đóng cọc buộc dây giữ chặt cây, tưới đẫm nước, và dùng xác thực vật (cỏ khô, rơm, rạ…) tủ gốc để giữ ẩm.

2.6

Phân bón và kỹ thuật bón phân

2.6

.1

Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)

Tuổi

cây

Lượngbón nguyên chất kg/ha/năm(625 cây/ha/năm)

Lượngbón phân thương phẩm kg/ha/năm(625 cây/ha/năm)

Phân

 

chuồng

N

P

2

O

5

K2O

Phânchuồng

DAP

NPK (16-16-8)

NPK

(20-20-15)

Năm thứ nhất

8.000

68

96

25

8.000

100

312,5

Năm thứ 2

8.000

75

75

56,25

8.000

375

Ghi chú: DAP: N18%; P2O546%.

- Thờiđiểmbón phân giaiđoạnkiếnthiếtbản cho 01ha.

+ Giaiđoạncâynhỏ(3-6tháng):pha40gram DAP/10 lít nước tưới vào gốc (1 tháng/lần), lượng phân bón DAP/01 ha là 100kg/ha. Tương đương với lượng phân nguyên chất/ha: Nts: 18kgP2O5: 46kg.

+ Cây 1 năm tuổi: bón 0,5 kg NPK (16-16-8)/cây/năm; tổng lượng phân bón cho 01 ha/năm là 312,5 kg NPK 16-16-8, chia3lầnbón/nămvào cáctháng 4,6,8 dương lịch. Tương đương với lượng phân nguyên chất/ha: Nts: 50kg; P2O5: 50kg và 25kg K2O.

+ Cây 2 năm tuổi: bón 0,6 kg NPK(20-20-15)cây/năm; tổng lượng phân bón cho 01 ha/năm là 375 kg NPK 20-20-15, chia3lầnbón/nămvào cáctháng 4,6,8 dương lịch.Tương đương với lượng phân nguyên chất/ha: Nts: 75kg; P2O5: 75kg và 56,25kg K2O.

+ Đối với phân bón hữumỗi năm chia ra 02 lần bón vào đầu và cuối mùa mưa (tháng 4 và tháng 9).

3.2 Thời kỳ kinh doanh

Tuổi

cây

Lượngbón nguyên chất kg/ha/năm(625 cây/ha/năm)

Lượngbón phân thương phẩm kg/ha/năm(625 cây/ha/năm)

Phân

 

chuồng

N

P

2

O

5

K2O

Phân chuồng

NPK 8-24-24

NPK 17-10-17

NPK 18-12-8

Năm thứ ba trở đi

10.000

607,5

625

620

10.000

1.250

1.000

1.875

- Thờiđiểmbón phân giaiđoạnkinh doanh cho 01 ha:

+ Giai đoạn trước khi xử lý ra hoa: Bón phân hỗn hợp NPK 8-24-24 bình quân 2,0 kg/cây, tổng lượng phân NPK 8-24-24 là 1.250 kg/ha. Tương đương với lượng phân nguyên chất/ha: N: 100kg; P2O5: 300kg và 300kg K2O.

+ Giai đoạn đậu trái: Bón phân hỗn hợp NPK 17-10-17 bình quân 1,6 kg/cây; tổng lượng phân bón cho 01 ha/năm là 1.000 kg NPK 17-10-17. Tương đương với lượng phân nguyên chất/ha: N: 170kg; P2O5: 100kg và 170kg K2O.

+ Giai đoạn sau thu hoạch: Bón toàn bộ phân hữu cơ bình quân 16 kg/cây; tổng lượng phân hữu cơ trên 01 ha là 10.000 kg/ha. Bón phân NPK 18-12-8 bình quân 3,0 kg/cây, tổng lượng phân NPK 18-12-8 là 1.875 kg/ha. Tương đương với lượng phân nguyên chất/ha: N: 337,5kg; P2O5: 225kg và 150kg K2O.

2.6.3 Kỹ thuật bón phân

- Bón phân chuồng: Cuốc hố xung quanh tán cây sâu 20 cm, rắc phân và tiến hành lấp đất.

- Phân vô cơ: Gạt lớp cỏ tủ gốc rồi rắc phân trên mặt đất theo hình tán cây sau đó tưới nước, phủ lớp cỏ lên để phân bón thấm dần xuống đất và tránh sự bốc hơi gây thất thoát phân bón.

2

.

7

Chăm sóc

2

.

7.

1

Làm cỏ:

 

Xung quanh gốc vùng dưới tán cây phải luôn sạch cỏ, để hạn chế sự cạnh tranh dinh dưỡng và nước của cỏ với cây và giúp cho cây phát triển tốt. Có thể làm cỏ bằng tay, xới xáo nhẹ bằng dầm. Cũng có thể dùng rơm, rạ phủ xung quanh gốc để hạn chế cỏ mọc và giữ ẩm cho đất. Thời kỳ cây chưa khép tán, có thể trồng xen một số cây họ đậu giữa các hàng, hoặc duy trì cỏ ở độ cao 10 cm so với mặt đất để tránh xói mòn.

2.7

.2

Tưới nước:

Mùa khô cần thường xuyên tưới nước và phủ gốc giữ ẩm cho cây. Mùa mưa nếu mưa liên tục cần đánh rãnh thoát nước,

tránh để cây bị ngập úng. Cây chanh

có thể cần khoảng 64 lít - 135 lít nước trong một ngày tùy the

o mùa và giai đoạn sinh trưởng

.

2.8 Phòng trừ sâu bệnh

2.8.1. Quản lý dịch hại tổng hợp

- Biện pháp canh tác:

+ Trồng cây giống sạch bệnh được cung cấp từ các cơ sở ươm cây giống đã công bố tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.

+ Cây giống xuất vườn phải đạt các tiêu chí như quy trình, cây sinh trưởng khỏe, thân thẳng, có màu sắc, hình dạng đặc trưng của giống, gốc thân to, mọc nhiều rễ, lá màu xanh đậm, không biểu hiện nhiễm bị sâu bệnh.

+ Làm đất kỹ, thu gom tiêu hủy tàn dư thực vật vụ trước, bón vôi bổ sung để nâng pH lên 5,0 - 7,0 và cày trộn đều trong đất, phơi ải đất từ 1 - 2 tuần để tiêu diệt một số sâu bệnh hại, làm luống xác định mật độ trồng thích hợp, trồng đúng thời vụ, quản lý cỏ dại, tưới tiêu nước hợp lý.

- Biện pháp cơ giới, vật lý:

+ Sử dụng bẫy, bả dẫn dụ, bắt sâu trưởng thành; nhổ bỏ những cây bị nhiễm bệnh nặng để tránh lây nhiễm.

+ Thường xuyên kiểm tra vườn trồng, đốt tiêu hủy lá, cây bị nhiễm bệnh xa vườn trồng. Tuyệt đối không vứt bỏ lá, cây bị nhiễm bệnh lên bờ, xuống mương suối hoặc nguồn nước.

- Biện pháp sinh học: Bảo vệ thiên địch và sinh vật có ích trên vườn để khống chế sinh vật gây hại; sử dụng các chế phẩm sinh học, thảo mộc để phòng trừ sâu, bệnh hại.

- Biện pháp hóa học: Khi sâu bệnh phát sinh, gây hại đến ngưỡng thì tiến hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ. Dùng các thuốc có trong danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam hoặc tham khảo sử dụng các thuốc phòng, trừ sâu bệnh hại trên cây trồng khác tương tự; ưu tiên sử dụng các thuốc an toàn, thuốc có nguồn gốc sinh học; áp dụng theo nguyên tắc 4 đúng và đảm bảo thời gian cách ly.

2.8.2 Sâu hại

a) Sâuvẽbùa(Phyllocnisticcitrella)

Đặc điểm

: Con trưởng thành là bướm thân nhỏ màu vàng nhạt có ánh bạc; cánh trước có 2 đường vân chạy dọc màu đen, cuối cánh có một chấm đen nhỏ. Ấu trùng màu xanh vàng nhạt. Sâu non đục dưới lớp biểu bì lá thành những đường hầm vòng vèo, ăn tế bào diệp lục để lại lớp biểu bì màu trắng đục, lá bị hại cong vẹo, già và rụng đi, nơi lá bị bệnh còn là cửa ngỏ cho vi khuẩn bệnh loét xâm nhập, sâu phá hại quanh năm bất kỳ lúc nào khi trên cây ra đọt non.

Biện pháp phòng trị

+Cắttỉavườnthôngthoáng,làmbướmsâukhôngnơitrúngụ.

+ Phun thuốc phòng trừsâu khi thấy đọt non vừa nhú ra, phun 1 - 2 lần, lần thứ 2 cách lần thứ nhất 5 ngày.

+ Có thể sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất Imidacloprid (Confidor 200SL, Vicondor 700WP,…), Cypermethrin (Cymerin 25EC,...) hoạt chất Abamectin (NAS 9.9EC, Reasgant 3.6EC,…), Emamectin benzoate (Bisad 30EC, Sword 40EC,...), dầu khoáng D-C TronPlus, SK - Enspray,…

+ Nuôi kiến vàng để hạn chế sâu vẽ bùa.

b) Bọtrĩ(bùlạch)(Scirtothripsdorsalis)

- Đặc điểm: Bọ trĩ có kích thước rất nhỏ, màu vàng cam, cuối bụng nhọn, cánhhẹphaibênrìacánhlôngdài;connonkhôngcánh,pháhạibằng cách chích hút làm lá biến dạng, cong lại và biến màu; chúng phát triển mạnhtrong điềukiệnkhônóng.Bôngbị bọtrĩ tấn côngnhiều sẽkhôvà rụng, làm giảm năng suất. Bọ trĩ chích hút trái chanh tạo thành những vòng sẹo màu đen xám trên vỏ (da cám); các trái phía ngoài tán cây thường bị gây hại nặnghơn phía trong.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị:

+Phunnướclên câycó thểlàmgiảmmậtsốbọtrĩ.

+ Phun thuốc khi cây ra bông rộ, phun 2 - 3 lần từ lúc bông nở rộ đến khi đậu trái non.

+Có thể sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất Imidacloprid (Confidor 200SL; Tinomo 100SL,…).

c) Nhện đỏ (Panonychus citri); Nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus)

Đặc điểm

:

Nhện trưởng thành hình bầu dục hơi tròn, màu cam hoặc đỏ sẩm; nhện đỏ trưởng thành có màu đỏ, nhện trắng trưởng thành có màu trắng vàng. Trên cây chích hút vỏ cây, trên lá chích hút biểu bì lá tạo ra những chấm nhỏ li ti liên kết lại thành mảng rộng có màu ánh bạc làm lá khô và rụng, trên

 

trái nhện chích

cạp vỏ trái thành những mảng màu xám sần sùi trên vỏ gọi là da cám, da lu. Nhện sống chủ yếu ở cuống trái, mặt dưới lá, nhện rất nhỏ, rất khó quan sát bằng mắt thường; gây hại nặng vào mùa khô, nhiệt độ cao; nhân mật số rất nhanh.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị

+Tướinướcđầy đủtrong mùanắngđểlàmtăngẩmđộvườn.

+Tỉacâythôngthoáng;phunthuốckỹ,đặcbiệtmặtdưới.

+ Vào mùa nắng, thường xuyên kiểm tra mặt dưới lá (lá lụa) nếu phát hiện thấy nhện thì tiến hành phun thuốc.

+ Dùng các loại dầu khoáng SK Ensray, D-C Tron plus hoặc có thể dùng một trong các loại thuốc sau đây: hoạt chất Propargite (Comite 73EC); Fenpyroximate (Ortus 5EC), Hexythiazox (Nissorun 5EC), Pyridaben (Alfamite 150EC); … phun định kỳ 2 - 3 lần (7 - 10 ngày/lần). Lưu ý chỉ nên phun khi hoa vừa rụng cánh, đối với thuốc BVTV khi sử dụng trừ nhện nên luân phiên thay loại thuốc để chống kháng thuốc.

Ruồi

 

đục

 

trái

 

(

Bactrocera

 

dorsalis)

Đặc điểm:

 

Ruồi đục trái có hình dạng giống ruồi nhà nhưng nhỏ hơn, màu vàng có vạch đen trên ngực và bụng. Ruồi chích vào trái để đẻ trứng, lúc đầu là một chấm nhỏ rất khó nhận biết, về sau lớn dần có màu vàng nâu, ấn nhẹ thấy

 

trái

 

bị thối mềm,

 

dễ

 

rụng.

 

Ruồi

 

phá

 

hại vào giai đoạn trái

 

gần chín đến chín.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị

+Baotrái,khôngchotráineotrêncâyquá lâu.

+Thunhặttráirơirụngđemtiêuhủy.

+ Có thể phun ngừa vào giai đoạn trái già bằng các loại thuốc có có hoạt chấtnhư: Fenobucarb + Phenthoate (Hopsan 75EC),Spinosad (Success 25SC)…khi sử dụng các loại thuốc bà con nên chú trọng vào thời gian cách ly để bảo đảm tính an toàn.

e) Sâuđụctrái(Citripestissagittiferella)

Đặc điểm:

 

Bướm đẻ trứng trên mặt vỏ trái vào ban đêm. Sâu non vừa nở, đục (chui)

 

vào phần vỏ trái ăn phần xốp và sâu đủ lớn đục vào bên trong ăn phần thịt trái; sâu gây hại trái

 

rất nhanh; sâu ăn và thải phân tạo thành lớp mùn cưa bên ngoài vỏ trái; trái bị hại thường bị xì mủ (chảy nhựa). Sâu lớn chui ra ngoài, hóa nhộng trong đất và nở ra thành bướm. Ngoài ra, vết thương do sâu đục vào phần vỏ trái sẽ tạo cơ hội cho

 

các loại nấm bệnh,

giòi,…

làm trái bị hư và rụng hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng và giá trị thương

 

phẩm của trái.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị

+ Vệ sinh vườn, thu gom tất cả các trái bị sâu (trái rụng và trái còn trên cây) đem tiêu hủy, tuyệt đối không bỏ trên mặt vườn.

+Tỉavườnthôngthoáng,khôngcònnơitrúcủabướm,sâu.

+ Có thể sử dụng các loại thuốc có hoạt chấtCypermethrin (Cymerin 25EC, NP-Cyrin super 250EC,...)Abamectin (Reasgant 3.6EC,…), Emamectin benzoate (Bisad 30EC,...).

f) Rầychổngcánh(Diaphorinacitri)

Đặc điểm

:

rầy chổng cánh trưởng thành là một loại rầy nhỏ, dài khoảng 2,5 - 3 mm, cánh dài, màu xám đen với vệt trắng chạy từ đầu cánh đến cuối

 

cánh. Lúc đậu cánh nhô cao hơn đầu. Ấu trùng có hình bầu dục, dẹp màu xanh lục ngả màu vàng ở các tuổi nhỏ. Rầy đẻ trứng thaerng vào mặt lá non hoặc rải rác tr

ên chồi, thời gian ủ trứng từ 3-

7 ngày. Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 11

-

25 ngày, di chuyển chậm, chúng sống và gây hại tập trung trên các chồi và lá non của cây. Vòng đời của rầy chổng cánh 18 - 40 ngày.

Rầy có mật độ cao vào đầu mùa mưa, khi cây ra đọt non và trổ hoa. Cả ấu trùng và thành trùng tập trung chích hút nhựa của chồi, lá, trái non làm chồi bị khô héo, các lá dưới bị vàng và quăn queo. Ngoài việc gây hại trực tiếp, rầy chổng cánh hiện nay là tác nhân truyền vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây bệnhvàng lágânxanh (bệnhGreening).Ký chủchínhcủarầy chổng cánh làcây họ cam quýt. Rầy chổng cánh xất hiện khi cây có chồi non, nếu cây không có chồi non thì rầy di chuyển sang các ký chủ phụ như nguyệt quế, cằng thăng để duy trì mật số.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị

+ Phun thuốc phòng trừ rầy 1 hoặc 2 lần khi cây ra đọt non để hạn chế sự lây lan của bệnh Greening. Đối với vườn cây mới trồng, lá non ra thường xuyên thì cần theo dõi để trừ rầy khi mật độ còn thấp.

+ Trồng giống cây sạch bệnh, không nên trồng các cây cảnh họ Citri như Nguyệt quới, Cần thăng, Kim quýt,… trong hoặc gần vườn cây vì đây là những cây ký chủ phụ của Rầy chổng cánh.

+LoạibỏtiêuhủycâybịbệnhGreeningrakhỏivườn.

+ Cắt tỉa cành, điều khiển cho cây ra đọt tập trung, điều khiển cây ra đọt non tập trung để hạn chế sự phát triển gây hại của rầy chổng cánh.

+ Sử dụng bẫy màu vàng hay màu vàng nâu để theo dõi và phát hiện rầy vàocácđợtrađọtnon,cứ5cây/hàngđặt1bẫyđểbắtkiểmtramậtđộrầy.Khi phát hiện rầy ở mật độ cao thì dùng thuốc sinh học hoặc dầu khoáng Petrleum Spray Oil nồng độ 0,5%, hay SK Enspray Oil 99EC.

+ Bảo vệ và tạo điều kiện cho các loài thiên địch trong vườn như ong ký sinh, kiến vàng, bọ rùa, nhện,... bằng biện pháp phun thuốc hợp lý.

+ Có thể sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất Imidacloprid (Confidor 200SL; Tinomo 100SL, Anvado 100WP …); Buprofezin (Applaud 25SC); Acetamiprid (Mospilan 3EC), dầu khoáng SK - Enspray hoặc D-C Troplus,… nuôi kiến vàng cũng hạn chế rầy chổng cánh.

g) Nhóm rệp sáp (Họ: Coccoidea - Bộ: Homoptera): có nhiều loài rệp sáp gây hại cây chanh, cam, quýt ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Rệp sáp gây hại bằng cách chích hút nhựa cây trồng (lá, trái, cành, thân). Ngoài ra, rệp còn tiết phân có chứa chất đường bám quanh thân hay cành làm cản trở quang hợp, làm cây phát triển kém.

Có thể dùng dầu khoáng để làm ngạt thở hoặc giảm khả năng đẻ trứng của con rệp cái. Bảo vệ và nhân nuôi thiên địchcủa rệp sáp là bọ rùa (thiên địch ăn thịt) hoặc ong ký sinh.

Bệnh

 

h

ại

a) Bệnh ghẻ

Tác nhân:

Do nấm

Elsinoe fawcetti

gây ra. Bệnh gây hại cả trên lá, cành và trái; bệnh phát triển rất sớm khi các bộ phận trên cây còn non. Trên lá, ban đầu là những chấm nhỏ mất màu trong và mờ; sau đó tạo thành những nốt nổi lên bên dưới mặt lá giống như

 

nốt ghẻ làm

 

lá cong lại, vặn vẹo; khi bệnh nặng lá vàng và rụng sớm. Trên cành xuất hiện các vết bệnh nhô lồi lên, liên kết lại làm sần sùi, bệnh nặng làm cành khô chết. Trên trái, những vết bệnh từ rời rạc đến liên kết lại thành mảng làm vỏ sần sùi, nhỏ trái, trái rụng sớm.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị

+Dùnggiốngkhôngbịnhiễmbệnh.

+Tỉabỏtiêuhủycáccànhcó vếtbệnh,vệsinhvườn.

+ Có thể phun các loại thuốc phòng trừ bệnh có hoạt chất Copper Oxychloride (BM super COC 85WP; Vidoc 30 WP, Copperion 77WP); Mancozeb (Dipomate 80WP; Dithane®M-45 80WP), Sulfur (Kumulus 80WP); Copper Oxychloride + Kasugamycin (New Kasuran 16.6WP); …

+ Phun ngừa khi cây chờ đâm tượt ra hoa và khi 2/3 hoa đã rụng cánh hoặc 2 tuần/lần trước khi thu hoạch.

Bệnh

 

loét

Tác nhân

: Do vi khuẩn

Xanthomonas citri gây ra,

vi khuẩn chủ yếu xâm nhập qua vết đục của sâu vẽ bùa trên lá, bệnh gây hại trên lá, cành và trái. Lúc đầu là những vết bệnh nhỏ màu xanh tái, hơi úng nước; sau đó lớn dần lên có màu vàng nâu nhạt, bề mặt vết bệnh sần sùi, chung quanh hơi gồ lên, nơi tiếp giáp với phần lá không bị bệnh có màu vàng, nhiều vết bệnh liên kết nhau lại thành mảng loét lớn; bệnh nặng làm cho cây rụng lá, chết cành.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị

+Khôngtrồngnhữngcâyconđãnhiễmbệnh (trênlá).

+ Không nên trồng quá dày, cắt tỉa cành thường xuyên để vườn luôn thông thoáng,đặcbiệt cần cắt tỉabỏ những cành tiếp xúc với mặt đất,vì mầmbệnh lây lan từ đất, nước.

+ Bón cân đối đạm, lân và ka-li; đặc biệt cần bón đủ can-xi để câytăngkhảnăng chốngchịuvới bệnh, không sử dụng phân bón lá khi cây có bệnh.

+Bónvôiđịnhkỳ2lần/năm.

+ Thường xuyên vệsinh vườn bằng cách cắt bỏ vàthu gom những cành,lá, trái bị bệnh đem tiêu hủy để tránh lây lan. Vườn chanh bệnh nên tưới vào gốc, không nên tưới trên tán lá.

+ Có thể phun ngừa bằng thuốc BVTV có hoạt chấtZiram (Ziflo 76WG),Copper Oxychloride (BM super COC 85WP; Vidoc 30 WP, Copperion 77WP); … khi cây xuất hiện đọt non và trái non.

c) Bệnhnứtthânmủ

Tác nhân

:

Do nấm

Phytopthora

spp. Bệnh phát sinh trên phần vỏ thân gần gốc cây, vết bệnh ban đầu là những đốm màu

 

nâu hơi mọng nước có mùi thối,

 

về

 

sau

 

vết

 

bệnh

 

lớn

 

dần

 

lên

 

vỏ chuyển màu

 

vàng và

 

nứt

 

chảy

 

nhựa

 

màu

 

nâu vàng sau đó khô cứng dần, vỏ cây bong tróc, phần gỗ bên trong khô đen, bệnh phát

 

triển

 

cả

 

trên cành,

 

cây

 

bị

 

bệnh nặng

 

sinh

 

trưởng kém,

 

 

vàng

 

rụng,

 

cây chết

khô.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị

+Dùnggiốnghoặcgốcghépkhángbệnh.

+Thiếtkếvườn caoráothoátnướctốt,mùamưakhôngnênđậy gốc.

+Tỉacànhthôngthoáng,giảmẩmđộvườn,đặcbiệtcáccànhchạmđất.

+ Vết bệnh mới (cành chưa khô), dùng dao cạo hết phần da xung quanh vết bệnh và quét vôi hoặc các loại thuốc có hoạt chấtMancozeb + Metalaxyl-M (Ridomil Gold® 68WG); Fosetyl-aluminium (Aliette800 WG); …. Đối với cành đã khô phải cắt bỏ sâu vào trong thân và đem tiêu hủy tránh lây lan.

d) Bệnhnấmhồng(Mốchồng)

Tác nhân:

 

Do nấm

Corticium salmonicolor

gây ra. Bệnh thường gây hại trong mùa mưa ở chảng ba của cây, vì ở nơi này nước thường đọng lại và lâu khô, tạo điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển và gây hại. Đầu tiên trên vỏ cây có nhiều sợi nấm màu trắng phát triển và bao phủ vỏ cây; sau đó tơ nấm chuyển sang màu hồng và che phủ cả thân, cành cây, vỏ cây chuyển sang màu sậm đến đen; cuối cùng vỏ bị khô và nứt ra, cành chết. Đôi khi không thấy được lớp tơ nấm màu hồng mà chỉ thấy được những gai màu hồng nhô lên từ chỗ nứt của vỏ

thân.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị

+ Cắt cành, tiêu hủy cành bệnh; xén tỉa bớt cành lá bên trong tán, tạo điều kiện thông thoáng cho cây.

+ Dùng thuốc có gốc đồng quét lên thân cây 2 lần/năm vào đầu và cuốimùa mưa ngừa được bệnh này rất hiệu quả.

+ Khi cây bị bệnh có thể dùng một trong những loại thuốc có hoạt chất Validamycin (Validacin 5SL); Iprodione (Rovral 50 WP); Hexaconazole (Anvil® 5SC); nấm Tricô-ĐHCT… phun theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất lên vùng bị bệnh 7 - 10 ngày/lần.

e) BệnhTristeza(chếtkhô)

- Tácnhân:DovirusCitrustritezagâyrarầymềmmôigiớilantruyền. Cây bệnh lá nhỏ lại, hơi vàng, rìa lá dày hơn bình thường, mặt lá sần sùi, gân lá cong và nổi gồ lên, quan sát kỹ thấy gân lá ở cành bánh tẻ có những đường trong suốt, cây phát triển kém, lùn, phần gỗ bên trong bị lõm vào, cây tàn lụi dần rồi chết.

-Biệnphápphòngtrị:Phòngtrừtuyệtđốirầymềmdomôigiớitruyềnbệnh.Khôngdùngcáccâyvườnđãbịbệnhđểlàmgiống.

f) Bệnhvànggânxanh (Greening)

- Tácnhân: Do vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây ra; bệnh lan truyền do rầy chổng cánh. Triệu chứng ban đầu có những đốm vàng loang lổ xuất hiện trên các lágià, còn trên lá non bị chuyển vàng, gân lá vẫn xanh. Khi bệnh nặng các lá nhỏbị cứng, đầu lá nhọn như tai thỏ; cây nhỏ thì tàn lá thấp, phát triển không đều; cây lớn có cành bị chết khô và sau đó chết cả cây; cây bệnh thường ra tráinghịch mùa và trái nhỏ, rụng nhiều, các tiểu noãn bị lép, trái lệch tâm, cho trái một vài vụ rồi chết.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị

:

+ Không sử dụng giống ở những vườn cây đã bị nhiễm bệnh hoặc giống không rõ nguồn gốc.

+Phòngtrừtriệtđểrầychổngcánhdomôigiớitruyềnbệnh.

+Loạibỏtấtcảcâybịnhiễmbệnhkhỏivườn.

+Cácdụngcụđốntỉacũngcầnxửsáttrùngđểtránhlâylanmầmbệnh.

g) Bệnhvàngthốirễ

Tác nhân:

 

Có thể do kỹ thuật làm

đấp mô thấp không đạt yêu cầu, đất thường xuyên bị ngập nước, rễ bị thối, sau đó nấm

Fusarium

sp. tấn công làm cho cây suy kiệt dần rồi chết. Khi cây bị úng gây thối rễ, lá bị vàng nhưng phiến lá vẫn to bình thường, một số cành trên ngọn lá héo và mất dần diệp lục chuyển sang khô trắng và rụng theo gió, cây bị nặng có hiện tượng rễ bị tuột vỏ chỉ còn lại phần ruột bên trong, rễ thối dần lên đến gốc và gây chết cây.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị:

+ Cần làm đất đạt yêu cầu, không để cây bị ngập lâu trong mùa mưa, khi thấy cây có hiện tượng bị vàng lá nhanh chóng thoát nước và cuốc xung quanh vùng rễ để phơi cho khô đất, sau đó dùng thuốc trừ nấm pha nước tưới vào vùng rễ, khoảng 20 ngày sau có thể bón bổ sung các loại phân sinh học.

+ Vào đầu mùa mưa hàng năm nên sử dụng phân hữu cơ ủ với chế phẩm Trichoderma hoặc pha Trichoderma tưới vào gốc để phòng ngừa bệnh.

h) Bệnhbồhóng

Tác nhân

: Do nấm

Capnodium citri

gây ra. Bệnh phát triển mạnh khi trong vườn có nhiều rầy, rệp. Triệu chứng ban đầu là những chấm nhỏ màu đen bên dưới lá, về sau vết bệnh lan dần ra thành mảng lớn phủ kín cả lá dưới dạng

 

những sợi tơ nấm màu đen. Trên trái bệnh làm đen vỏ do nấm bệnh phát triển trên chất dịch do rầy, rệp tiết ra, tuy nấm không ăn sâu phá hại tế bào lá và trái nhưng làm ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị

:

+Chủ yếutrừrầy,rệp.

+Cắttỉacànhtạothôngthoáng.

+ Có thể phun phòng trừ bằng thuốc BVTV có hoạt chấtCopper Oxychloride (BM super COC 85WP; Vidoc 30 WP, Copperion 77WP); …

Bệnh

 

thán

 

thư

Tác nhân:

 

Do nấm

Colletotrichum gloeosporioides

gây ra. Bệnh gây hại trên lá với vết bệnh ban đầu là những chấm nhỏ màu vàng nâu, sau đó lớn dần thành những vòng tròn viền nâu đậm, phía trong có nhiều chấm nhỏ li ti tạo thành các vòng đồng tâm. Nhiều vết bệnh kết hợp lại tạo thành mảng cháy lớn làm lá vàng và rụng.

Biện

 

pháp

 

phòng

 

trị

:

+Cắttỉatàn,nhánhtạothôngthoáng.

+Thugomcácnhánh,tráibịbệnhđểthiêuhủy.

+Khôngtướinướclêntáncâybệnhđểtránhlâylanrộng.

+ Có thể dùng các loại thuốc có gốc đồng hoặc phổ tác dụng rộng để phun trị như thuốc có hoạt chất Mancozeb (Dithane®M-45 80WP, 600OS); hoạt chất Chlorothalonil (Daconil 75WP, 500SC), Propineb (Antracol 70WP),…

l) Bệnhsinh

Tác nhân

: Do thừa hoặc thiếu các chất dinh dưỡng như đạm, lân, kali, canxi, magiê và các nguyên tố vi lượng như sắt, kẽm, đồng borat,

molipden,…

hay do lạm dụng chất điều hòa sinh trưởng, ngập úng, cháy rễ do các tác nhân không phải từ nguồn bệnh và vi khuẩn gây ra. Các bệnh này dễ bị nhầm lẫn với bệnh vàng lá gân xanh,

tristeza,…

cụ thể một số biểu hiện thiếu dinh dưỡng trên chanh như sau:

Thiếu đạm (N):

Phiến lá vàng nhạt kể cả gân lá, lá nhỏ hơn bình thường, lá rụng sớm, cành thưa, nhỏ.

Thiếu

 

lân

 

(P

2

O

5

):

 

 

nhỏ

 

 

vẫn

 

xanh,

 

ít

 

ra

 

hoa,

 

đậu

 

trái,

 

quả

 

nhỏ,

 

rỗng

 

ruột.

Thiếu

 

kali

 

(K

2

O):

 

 

nhỏ

 

hơi

 

vặn

 

xoắn,

 

ngã

 

màu

 

nâu

 

vàng,

 

đọt

 

chậm

 

phát

 

triển,

 

con

 

tép

 

khô

 

xốp.

Thiếu Magiê (Mg):

Lá già có những vệt vàng ở 2 bên rìa tạo hình tam giác dài và có đỉnh tam giác ở phần chóp lá.

Thiếu kẽm (Zn):

Lá nhỏ, hẹp, trên lá xuất hiện những mảng màu vàng nhạt, gân lá vẫn xanh (giống bệnh vàng lá gân xanh), các đốt ngọn nhỏ ngắn lại có hình hoa thị.

Thiếu Mangan (Mn

): Lá non có những vết vàng nhạt xen kẽ những gân xanh, phân biệt rõ ranh giới vàng và xanh.

Biện pháp khắc phục:

là bón phân đầy đủ, cân đối; đồng thời bổ sung phân bón lá có chứa các chất trung, vi lượng cho cây.

III. Thu hoạch, sơ chế, chế biến và bảo quản sau thu hoạch

1. Thu hoạch

- Xácđịnhđúngđộthuhoạchtheoyêucầucủangườithumua:trái bóng xanh mượt, đít trái thẳng. Để đảm bảo chất lượng, phẩm chất quả và mang lại hiệu quả kinh tế cao cần thu hái sau khi 2/3 vỏ quả chuyển sang màu hồng (tím) hoặc để quả chín tự nhiên.

- Thờiđiểmháitốtnhấtkhinắngráo,khôngmâyhay mưa.

- Khôngđểtráirơixuốngđất,gâytổnthươngnhiễm bẩn.

- Không chất quá đầykhi vận chuyển; phảiđóng thùng, sọt đựng, không vô bao ny-lon.

2. Chế biến: Phần lớn sản phẩm (quả) chanh hiện nay là tiêu thụ quả tươi; công nghệ chế biến chanh chưa được phổ biến áp dụng rộng rãi.

3. Bảo quản sau thu hoạch

Không

 

rửa

 

chanh

 

bằng

 

nước

 

hay

 

nước

 

rửa

 

chén.

 

Nếu

 

trái

 

quá

 

 

thì có

 

thể rửa bằng nước thường rồi để cho khô ráo.

Phải

 

phân

 

loại

 

 

bộ

 

 

loại

 

bỏ

 

trái

hư.

Tránh đổ trái thành đống, phải tồn trữ trong khay nhựa hoặc đựng trong

 

thùng giấy có đục lỗ.

Quả sau thu hoạch nên bảo quản nơi thoáng mát, tránh đổ đống quá dày và sớm vận chuyển về nơi sơ chế để đảm bảo chất lượng và phẩm chất.

Quy trình khác cùng nhóm

Căn cứ pháp lý

  • Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 — quy định nguyên tắc phòng, chống sinh vật gây hại thực vật.
  • Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT — ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng — nguồn của danh sách thuốc gợi ý theo dịch hại.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ