Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây chùm quân

Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .

Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ.

Nội dung quy trình kỹ thuật

QUY TRÌNH

Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây chùm quân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

(Ban hành kèm Quyết định số /QĐ-UBND, ngày / /2025

của UBND tỉnh Lâm Đồng)

I. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật

1. Thời gian kiến thiết cơ bản (KTCB): từ 3-5 năm tuỳ theo giống trồng, trồng từ hạt là 5 năm, trồng từ cành chiết là 3 năm

2. Thời kỳ kinh doanh: Từ năm thứ 4 trở đi nếu trồng cành chiết, từ năm thứ 6 trở đi nếu trồng từ hạt

3. Chu kỳ kinh doanh: trồng từ hạt khoảng 25-30 năm, trồng trừ nhánh chiết 20-25 năm

4. Mục tiêu năng suất: 10-15 tấn/ha

II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh

1. Nhiệt độ

Nhiệt độ thích hợp từ 20-38oC. Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quá trình sinh trưởng và phát triển của cây.

2. Độ ẩm

Lượng mưa thích hợp khoảng từ 1.000-2.000 mm/năm, tối thiểu là 400 mm và phân bố đều trong năm. Cây chùm quân có khả năng chịu hạn tuy nhiên nếu trồng khai thác quả thì 2-3 tuần phải tưới đẫm 1 lần tuỳ thuộc vào từng vùng đất.

3.Ánh sáng: Là loại cây ưa sáng, cần ánh sáng toàn phần.

4. Đất đai

Thích nghi với nhiều loại đất và yêu cầu phải thoát nước tốt, nếu muốn cây phát triển tốt hơn, nên chọn đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng và thoát nước. Độ pH thích hợp từ 5,5-6,5.

III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

1. Giống và tiêu chuẩn giống

1.1. Giống:

Trước đây có 2 giống là giống chùm quân trái nhỏ và chùm quân trái to (loại trái nhỏ thường trồng làm cảnh loại trái to thường trồng để thu trái bán thương mại). Trong những năm gần đây còn du nhập thêm giống Chùm quân của Đài Loan cho năng suất trái tốt hơn.

1.2. Tiêu chuẩn giống:

Chùm quân có thể nhân giống bằng cách trồng từ hạt hoặc chiết cành. Khi mua giống chọn những cây khỏe mạnh, không sâu bệnh, không gãy dập và có nhãn hoặc giấy xác nhận nguồn gốc xuất xứ, nên mua ở những nơi có uy tín.

2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

2.1 Thời vụ trồng

Chùm quân có thể trồng được quanh năm, tuy nhiên ở vùng đất cao không chủ động nước thì nên trồng vào đầumùa mưa, còn vùng đất thấp chủ động nước thì trồng vào cuối mùa mưa và chú ý đến việc thoát nước cho cây

2.2. Mật độ và khoảng cách trồng

Mật độ, khoảng cách thích hợp trồng chùm quân 4mx4m tương đương 625 cây/ha

2.3. Chuẩn bị đất

Đối với vùng đất thấp thoát nước kém và hay ngập: cần lên líp rộng 6-8 m, mương (rộng 1,5-3,0 m, sâu 1,0-1,5 m). Líp đơn trồng một hàng, líp đôi trồng 2 hàng theo kiểu nanh sấu; mặt líp bằng phẳng, hướng líp song song hoặc thẳng góc với bờ bao.Dùng lớp đất mặt làm đất mặt líp và đất để đắp mô, đưa lớp đất sâu của mương làm chân liếp.

Kích thước mô: Mặt mô (đường kính 0,8-1,2 m), đáy mô (đường kính 1,0-1,4 m), chiều cao mô (0,3-0,4 m).

Đối với vùng đất cao chỉ cần thiết kế hàng theo khoảng cách mỗi hàng cách nhau 4m. Tuỳ theo độ thoát nước của đất và hệ thống tưới tiêu mà tiến hành làm mô nổi hay chìm hoặc không làm mô để cho tiện tưới nước và bón phân sau này.

Đào hố: Đào hố với kích thước (dài x rộng x sâu): 60cm x 60cm x 60cm. Bón lót: bón hỗn hợp gồm 200-300g super lân với 6-8 kg phân hữu cơ/hố.

2.4. Kỹ thuật trồng

Tạo một lỗ nhỏ chính giữa hố, xé bỏ túi bầu, đặt bầu cây giống vào sao cho cổ rễ cao hơn mặt đất 3 - 5 cm. Lấp đất và dùng tay nén nhẹ xung quanh bầu. Cắm cọc chéo và dùng dây mềm buộc cố định cây để tránh gió lay đứt rễ. Tưới nước ngay sau khi trồng để làm chặt gốc và giữ ẩm.

Tủ gốc giữ ẩm cho cây sau khi trồng bằng rơm rạ hoặc cỏ khô cách gốc 10-20 cm tránh cỏ dại, tránh rửa trôi và xói mòn khi gặp mưa

2.5. Phân bón và kỹ thuật bón phân

- Chủng loại phân bón, lượng phân bón cho cây chùm quân (ha):

Thời kỳ bón

Lượng nguyên chất (kg/ha/năm)

Lượng thương phẩm (kg/ha/năm)

Số lần bón/năm

Hữu cơ (tấn)

N

P2O5

K2O

Ure

Super Lân

Kali Clorua

Năm 1

3,5

62.5

62.5

62.5

136

391

104

4-6 lần

Năm 2

3,5

125

125

62.5

272

781

104

4-6 lần

Năm 3

3,5

125

125

62.5

272

781

104

4-6 lần

Năm 4

3,5

125

125

125

272

781

208

4- 6 lần

Từ năm thứ 5 trở đi

5,0

125

125

250

272

781

417

3 – 4 lần

- Phương pháp bón:

+ Phân hữu cơ và hữu cơ vi sinh rải đều trên phần đất dưới tán cách gốc 1-1,5 m, xới nhẹ đất với độ sâu 5-10 cm, tưới đẫm nước.

+ Phân vô cơ: Rải đều lên phần đất dưới tán cách gốc 1-1,5 m, xới nhẹ đất để trộn phân vào đất, tưới đẫm nước hoặc pha phân vô cơ với nước (10%) để tưới sau đó tưới đẫm nước. Sau khi bón phân có thể tủ đất bằng tàn dư thực vật.

- Thời kỳ bón:

Giai đoạn kiến thiết cần bón 4-6 lần/năm, bón khi lá già.

Giai đoạn kinh doanh: Bón từ 3 – 4 lần/năm.

+ Lần 1: Bón 40% lượng phân bón, sau khi thu hoạch để giúp cây phục hồi.

+ Lần 2-4: Bón 60% lượng phân bón vào giai đoạn trước khi ra hoa và sau khi đậu trái tùy theo tình hình sinh trưởng của cây.

2.6. Chăm sóc

2.6.1. Tưới nước

Trong tuần đầu tiên sau trồng, tưới đủ ẩm cho cây 1 lần/ngày vào buổi chiều mát, sau đó 3-5 ngày tưới 1 lần trong một tháng đầu. Tháng thứ 2 sau trồng tưới định kỳ 4 - 6 lần/tháng trong mùa khô.

Lưu ý cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi cây trong giai đoạn ra hoa trái đang lớn và lúc quả sắp chín. Tưới nước đều đặn 3-5 ngày/lần.

2.6.2. Làm cỏ

Việc làm cỏ định kỳ là một biện pháp quan trọng giúp cây phát triển khỏe mạnh, đặc biệt là cây trong giai đoạn cây con và ra hoa đậu quả. Có thể làm cỏ thủ công hoặc sử dụng máy phát cỏ, vun gốc cho cây để giữ ẩm và hạn chế cỏ mọc lại.

2.6.3. Tỉa cành, tạo tán

Chùm quân là cây bụi nếu trồng tự nhiên không tiến hành tỉa tán cây sẽ phát triển cao lên đến 10m gây trở ngại cho quá trình thu hoạch, vì thế khi trồng kinh doanh biện pháp tỉa cành tạo tán rất quan trọng nhằm khống chế chiều cao của cây thích hợp để thu hoạch thuận tiện và giảm chi phí thu hoạch.

Khi cây còn nhỏ tỉa bỏ cành vượt để cành phân bố đều trên cây. Khi cây lớn cần được tỉa cành tạo tán hàng năm hoặc sau khi thu hoạch để loại bỏ: những cành bị sâu bệnh, ốm yếu, cành nằm bên trong tán không có khả năng mang trái, cành đan chéo nhau, cành vượt trong thời kỳ cây đang mang trái nhằm hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡng. Tỉa cành được thực hiện sau khi thu hoạch quả hoặc trước khi cây ra hoa.

2.7. Phòng trừ sâu bệnh hại

2.7.1. Biện pháp phòng trừ tổng hợp

a) Biện pháp canh tác

- Luôn vệ sinh vườn, dọn sạch cỏ rác, tàn dư thực vật khác và xử lý cách xa vườn trồng.Chọn cây giống sạch bệnh, cây giống đạt tiêu chuẩn, độ đồng đều cao, phát huy ưu điểm của giống, sức sống khỏe, năng suất cao.

- Mật độ trồng hợp lý, trồng xen cây che bóng, chăm sóc kịp thời: Trồng với mật độ thích hợp, tránh trồng dày gặp ẩm độ cao tạo điều kiện nấm bệnh phát triển.

- Sử dụng phân bón đầy đủ, cân đối, hợp lý và đúng giai đoạn (cung cấp đầy đủ chất hữu cơ, các nguyên tố đa, trung, vi lượng cho cây) tránh tình trạng bón thừa chất này hoặc thiếu chất kia để giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, tăng sức đề kháng với dịch hại.

- Áp dụng các biện pháp canh tác khác như làm bồn, tỉa cành, tạo tán hợp lý cho vườn cây, tưới nước đầy đủ và đúng thời điểm trong mùa khô, chống ngập úng trong mùa mưa, thu hái kịp thời những trái chín, ... để giúp cây khỏe tăng sức đề kháng với dịch hại.

b) Biện pháp cơ giới vật lý

Loại trừ các đối tượng dịch hại bằng các biện pháp như: cắt, nhổ bỏ, tiêu hủy các bộ phận hoặc cây bị sâu bệnh hại nặng, tiêu diệt bằng tay các loại sâu hại với mật độ thấp. Sử dụng đèn để bẫy các loại côn trùng gây hại.

c) Biện pháp sinh học

Bảo vệ và sử dụng thiên địch, vi sinh vật có ích như bọ rùa đỏ (Rodolia sp.), bọ mắt vàng, nhện, nấm Trichoderma…; duy trì môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật có ích; sử dụng các loại thuốc sinh học trong phòng trừ dịch hại.

d) Biện pháp hóa học

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là biện pháp cuối cùng trong hệ thống kỹ thuật bảo vệ thực vật, khi các biện pháp kể trên không có hiệu quả hoặc hiệu quả quá thấp, sâu hại phát triển mạnh (mức độ phá hại của sâu bệnh vượt ngưỡng kinh tế) có nguy cơ làm giảm năng suất, chất lượng thì cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh hại, không để phát triển thành dịch.

Không sử dụng thuốc hóa học tùy tiện, chỉ nên sử dụng các loại thuốc có phổ tác động hẹp, thuốc thế hệ mới phân giải nhanh, thuốc ít độc đối với thiên địch nhưng hiệu quả đối với các loài sâu bệnh hại. Ưu tiên sử dụng các loại thuốc thảo mộc và thuốc có nguồn gốc sinh học. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phải theo nguyên tắc 4 đúng. Phun thuốc bảo vệ thực vật phải đảm bảo thời gian cách ly thuốc. Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đăng ký sử dụng trên cây ăn trái co trong Danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam ban hành hàng năm và tuân thủ theo nguyên tắc ”4 đúng”.

2.7.2. Một số sâu, bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ

a) Sâu ăn lá (Grapholita molesta)

- Triệu chứng gây hại: Sâu ăn lá của cây làm suy yếu và giảm năng suất. Nếu xâm nhập vào quả, chúng gây hỏng và làm giảm chất lượng trái.

- Biện pháp phòng trừ: Hàng năm sau khi thu hoạch, cần tạo tán, tỉa cành thông thoáng để hạn chế sâu trưởng thành đẻ trứng. Thường xuyên thăm vườn, kiểm tra và phát hiện sâu kịp thời. Vệ sinh vườn sạch sẽ, nếu có điều kiện nên thả kiến vàng, ong mắt đỏ cùng các loại thiên địch ăn sâu. Thu gom các cành lá có ổ trứng và sâu non mới nở đem tiêu hủy. Đối với kén dùng phương pháp thu gom đem đốt tiêu diệt. Phun thuốc hóa học vào giai đoạn cây ra đọt non, sâu bắt đầu đẻ trứng (mùa Hè, mùa Thu) và phun trị khi cây bắt đầu xuất hiện sâu non.Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng chưa có thuốc đăng ký phòng trừ sâu ăn lá/cây chùm quân, có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất đăng ký trừ sâu ăn lá trên các cây ăn quả khác như Abamectin, Emamectin benzote để phòng trừ.

b) Rệp sáp (Planococcus lilacinus).

- Triệu chứng gây hại: Còn có tên gọi khác là rầy bông hay rệp sáp phấn là loài gây thiệt hại nhiều nhất. Chúng thường tập trung và chích hút trên đọt non, lá non và trái làm cho đọt, lá non bị còi cọc, trái không thể phát triển được. Loài rệp này ít di chuyển, chúng sống cộng sinh với kiến đen. Kiến đen tha rệp từ cây này sang cây khác khi những bộ phận rệp đang chích hút đã cạn kiệt nhựa. Ngược lại, trong chất bài tiết của rệp có chứa nhiều chất đường mật làm thức ăn cho kiến.

- Biện pháp phòng trừ: Không trồng dày để vườn thông thoáng. Thường xuyên dọn sạch cỏ rác, lá cây tủ xung quanh gốc cây để phá vỡ nơi trú ẩn của kiến. Nếu thấy trên thân chùm quân và xung quanh gốc có kiến nên phun thuốc ở thân, cành. Khi rệp sáp xuất hiện 2 - 3 con/đợt non (lá non, nụ hoa) phun luân phiên các loại thuốc BVTV với liều lượng theo khuyến cáo.Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng chưa có thuốc đăng ký phòng trừ rệp sáp/cây chùm quân, có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất đăng ký trừ rệp sáp trên các cây ăn quả khác như Spirotetramat, Spinosad… để phòng trừ.

c) Ruồi đục quả (Bactrocera spp.)

- Triệu chứng gây hại: Ruồi trưởng thành màu vàng, cánh trong hoạt động vào ban ngày, đẻ trứng lên trái phần tiếp giáp với vỏ và thịt trái, trứng hình quả chuối màu trắng ngà sau chuyển sang màu vàng nhạt. Giòi nở ra đục vào trong ăn thịt trái, vỏ trái nơi ruồi đục vào có màu đen, mềm, ứa nhựa, tạo điều kiện cho nấm bệnh tấn công.

- Biện pháp phòng trừ: Do ruồi cái thích ăn protein. Dùng protein thủy phân (bả mồi) để diệt ruồi. Vệ sinh vườn, thường xuyên thu gom và tiêu hủy toàn bộ trái bị rụng trên mặt đất.

d)Sâu đục thân, đục cành (Cossus cossus)

- Triệu chứng gây hại: Sâu chuyên phá hoại trên thân cây hoặc cành của cây chùm quân. Chúng chủ yếu sống bằng cách ăn nhựa cây, lõi cây và sinh sản ấu trùng trên cây. Khi nở thì ấu trùng sẽ tiếp tục phá hoại thân cây làm cho cây bị lở loét, khô cành, gãy nhánh và chết cây trong nếu kéo dài.

- Biện pháp phòng trừ: Dọn sạch vườn tược, tạo độ thông thoáng cao. Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng chưa có thuốc đăng ký phòng trừ sâu đục thân, cành/cây chùm quân, khi mới phát hiện, cành còn tươi xanh, có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất Alpha-cypermethrin, Cartapbơm vào lỗ đục, dùng vôi bịt miệng lỗ để tiêu diệt ấu trùng và ổ của chúng phía bên trong.

e) Bệnh thán thư (Collectotrichum gloeoporioides)

Triệu chứng: Bệnh gây hại nặng vào mùa mưa, trên lá, cành non, phát hoa. Trên hoa và trái non bệnh nặng sẽ bị đen sau đó khô và rụng.

Biện pháp phòng trừ: Cắt tỉa cành cho vườn thông thoáng cho cây quang hợp tốt hơn, cắt hoa, trái non và cành nhiễm bệnh tiêu hủy sau đó vệ sinh thu gom, thiêu hủy (chôn hoặc đốt). Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh thán thư/cây chùm quân, có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất đăng ký trừ thán thư trên các cây ăn quả khác như Azoxystrobin, Chlorothalonil để phòng trừ

IV. Thu hoạch, bảo quản

1. Thu hoạch

Thời gian thu hoạch từ tháng 7 có thể kéo dài đến tháng 10 tuỳ theo giống. Thu hái khi quả đã chín, chuyển màu từ xanh sang đỏ hoặc tím tuỳ theo đặc điểm của giống. Không nên thu quả khi đã chín mềm trên cây dễ bị dập nát, khó bảo quản, vận chuyển. Khi thu hái cần nhẹ nhàng, không làm dập nát, sây sát.

2. Bảo quản

Nơi bảo quản sản phẩm phải sạch sẽ, ít có nguy cơ ô nhiễm sản phẩm. Trường hợp sử dụng các chất bảo quản chỉ sử dụng các chất được phép sử dụng theo quy định hiện hành.

3. Vận chuyển

Phải vận chuyển bảo quản sản phẩm trong điều kiện thích hợp theo yêu cầu của sản phẩm, không lẫn với các hàng hóa khác có nguy cơ gây ô nhiễm.

Quy trình khác cùng nhóm

Căn cứ pháp lý

  • Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 — quy định nguyên tắc phòng, chống sinh vật gây hại thực vật.
  • Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT — ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng — nguồn của danh sách thuốc gợi ý theo dịch hại.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ