Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ.
(Ban hành kèm theoQuyết định số /QĐ-UBNDngày //2025
của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I.Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1.Thời kỳ kiết thiết cơ bản (KTCB):
- Đối với cây bơ ghép: 04 năm (01 năm trồng mới + 03 năm chăm sóc).
- Đối với cây bơ thực sinh: 05 năm (01 năm trồng mới + 04 năm chăm sóc).
2. Thời kỳ kinh doanh:
- Đối với cây bơ ghép: 21-26 năm, tính từ năm thứ 5.
- Đối với cây bơ thực sinh: 20-25 năm, tính từ năm thứ 6.
3.Chu kỳ kinh doanh:chu kỳ kinh doanh từ 25-30 năm, tùy theo vào thực tế kỹ thuật thâm canh.
4. Mục tiêu năng suất:đạt khoảng từ 14-15 tấn/ha.
I. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1. Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa:
- Nhiệt độ:thích hợp từ 12 – 280C, cây bơ có thể chịu nhiệt độ lạnh -70C, thậm chí -100C. Các giống bơ Mexico chịu lạnh tốt nhất còn các giống Antilles chịu lạnh kém nhất nên được trồng nhiều ở các nước thuộc vùng nhiệt đới. Biên độ nhiệt độ ngày đêm cũng có tác động rõ nét đến sinh trưởng và phát triển của cây, đặc biệt sự phát dục của hoa. Nhiệt độ ban đêm là 15 - 200C và ban ngày là 200C, thích hợp cho sự phát triển hoa, tăng trưởng của ống phấn và sinh trưởng các giai đoạn phôi. Cây bơ sinh trưởng phát triển tốt nhất ở nhiệt độ trung bình 240C, nhiệt độ tối cao 350C và tối thấp 120C.
- Ẩm độ:cây bơ không yêu cầu ẩm độ cao, nhưng không phải là cây của vùng khô hạn, cây bơ chỉ sinh trưởng phát triển tốt nơi nào có lượng mưa đầy đủ lượng mưa tối thích cho cả năm là 1.000 - 1.500 mm, độ ẩm 75 - 85%. Đặc biệt lúc ra hoa và hình thành trái cần ẩm độ cao, nhưng gặp trời mưa dầm, mưa to thì quá trình thụ phấn không bình thường vì nước mưa sẽ cuốn trôi hạt phấn, hoa sẽ rụng nhiều. Ngoài ra sự khô hạn cũng gây bất lợi cho quá trình hình thành trái, làm rụng quả non nhiều. Hầu hết các giống bơ đều nhạy cảm với điều kiện dư thừa nước, độ ẩm cao, thoát nước kém.
2. Độ cao và gió:
- Độ cao: cây bơ có nguồn gốc ở các xứ nhiệt đới Trung Mỹ phân bố ở độ cao dưới 2.700 m so với mặt nước biển, càng lên cao cây càng chậm ra hoa kết quả, phẩm chất quả bơ thay đổi theo khí hậu và độ cao của các vùng khác nhau. Lâm Đồng là vùng trồng bơ rất tốt.
- Gió: thích hợp với những vùng có gió nhẹ, tránh trồng bơ ở những nơi có gió mạnh trong điều kiện khô nóng.
3. Ánh sáng: thích hợp sinh trưởng phát triển cây bơ cần trên 2.000 giờ nắng/năm. Nắng to gây sém, nám quả, cành, thân cây.
4. Đất đai:
- Có thể trồng bơ trên nhiều loại đất khác nhau đất sét pha cát, đất pha sét, đất thịt nặng, phù hợp nhất là đất phải thông thoáng, dễ thoát nước, giàu chất hữu cơ, có mạch nước ngầm sâu hơn 2m, pH thích hợp 5 - 7, bơ không ưa đất quá chua hoặc quá kiềm. Ở những đất có pH quá cao, nhiều yếu tố kim loại bị giữ lại trong đất làm cây không hấp thu được. Cây bơ mọc tốt hơn ở đất trung tính hay kiềm so với đất chua trung bình hay rất chua.
- Độ dày tầng đất: có tầng canh tác sâu ≥ 1 m.
- Độ sâu mực nước ngầm: đảm bảo tối thiểu từ mặt đất đến mực nước ngầm > 2m.
II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống:
- Sử dụng các giống được cấp Quyết định công nhận lưu hành, tự lưu hành, lưu hành đặc cách, các giống trong danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh có thẩm quyền ban hành và được chuyển tiếp theo quy định hoặc đã được Quyết định công nhận cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng.
- Một số giống bơ hiện đang sản xuất tại Lâm Đồng:
+ Giống bơ BLĐ/034:quả bơ có hình dáng thuôn dài với chiều dài khoảng từ 27 – 35 cm, khi chín có vỏ màu xanh bóng, nhân thịt màu vàng, hạt lép hoặc không có hạt. Cân nặng của quả từ 300 – 800 g, bơ có độ dẻo, độ béo cao và được đánh giá là giống bơ thơm dẻo vào loại 1 so với các giống bơ khác. Thịt quả chiếm tỉ lệ hương thơm khá cao (75 – 82%), vị ngọt béo ngậy khó lẫn với các loại bơ còn lại.
+ Giống bơ Lamb Hass:cây phát triển khỏe mạnh, sinh trưởng tốt, có sức đề kháng sâu bệnh cao. Vỏ quả cứng dày, có độ sần sùi, thời gian chín kéo dài rất thuận lợi cho việc bảo quản hoặc di chuyển đường dài, hạn chế tình trạng quả bị dập. Quả bơ Lamb Hass có hình dạng khá giống quả lê, trọng lượng quả trung bình từ 300 – 600 g, quả to, lượng tinh dầu cao chiếm khoảng 18%. Thịt quả có màu vàng kem tươi, vị béo không ngán, hương thơm đặc trưng, hạt nhỏ thường gắn chặt với thịt quả nhưng lại dễ tách, thịt quả chiếm tỉ lệ 75% quả.
+ Giống bơ Booth 7:trọng lượng quả đạt 280 – 450 g. Năng suất trung bình: 160 – 180 kg/cây. Đạt tương đương với giống bơ chính vụ. Tỷ lệ thịt quả đạt 70 – 75%, thịt quả vàng kem, dẻo, béo không xơ. Vỏ quả già màu xanh, vỏ dày, quả hình tròn, cỡ quả trung bình đạt khoảng 350 g/quả.
1.2. Tiêu chuẩn cây giống
Về hình thái chung: cây sinh trưởng khỏe, thân cây thẳng và vững chắc; vỏ cây không bị tổn thương cơ giới phạm vào phần gỗ. Không có chồi vượt ở phần gốc ghép. Vết ghép đã liền và tiếp hợp tốt. Cây giống phải sạch sâu, bệnh, mặt bầu không có cỏ dại.
Vị trí vết ghép: cách mặt bầu từ 15 cm đến 20 cm.
Bộ lá: phần thân ghép đã có ít nhất 6 lá; lá ngọn đã thuần thục, cứng cáp. Lá có kích thước và hình dạng đặc trưng của giống.
Đường kính thân: trên 0,6 cm.
Chiều cao cây: từ 40 cm đến 60 cm.
Tuổi cây: từ 3 đến 4 tháng kể từ ngày ghép.
Huấn luyện ngoài ánh sáng hoàn toàn từ 10 - 15 ngày
Cây lấy chồi ghép phải là cây đầu dòng hoặc từ vườn cây đầu dòng, được chăm sóc tốt, không vị sâu bệnh hại.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng:
Có thể trồng quanh năm, nhưng mùa khô bắt buộc phải có tưới nước. Thời vụ trồng thích hợp vào đầu mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 8 dương lịch.
2.2.Mật độ, khoảng cách:
Mật độ và khoảng cách trồng thuần: khoảng cách 7 x 8 m (178 cây/ ha) hoặc 6 x 8 m (208 cây/ha). Trồng xen trong vườn cây công nghiệp mật độ khoảng 70 - 100 cây/ha, khoảng cách 10 x 10 m hoặc 10 x 12 m hoặc 9 x 12 m.
2.3. Chuẩn bị đất:
Chọn đất thoát nước tốt, làm đất và đào hố trước khi trồng 3 - 4 tháng để đất kịp ải. Đối với vùng đất thấp, có khả năng thoát nước kém, cần thiết kế mương thoát nước trong và xung quanh vườn; giữa các hàng cây bố trí các líp cạn hoặc làm luống có chiều cao tối thiểu 0,5 m và bề rộng luống 6 m để thoát nước trong vườn.
Đối với đất trồng có độ dốc >200 cần thiết kế hàng trồng theo đường đồng mức, độ rộng đường đồng mức tối thiểu đạt 4 m.
2.4. Đào hố, bón lót:
- Đào hố: đào hố theo quy cách: 60 x 60 x 60 cm; đất xấu đào hố với kích thước 70 x 70 x 70 cm.
- Bón lót: dùng phân chuồng hoai đã xử lý, bón lót 10 - 15 kg/hố, kết hợp với 0,5 kg phân lân nung chảy và 0,5 kg vôi đảo đều trước trồng 15 - 20 ngày.
2.5. Kỹ thuật trồng:
- Cách trồng: dùng cuốc móc giữa hố 1 lỗ vừa bịch cây con; xé bỏ bầu sao cho không bị vỡ bầu; đặt cây vào hố trồng, lấp đất ngang mặt bầu cây con; những nơi đất cao, sườn dốc, nên trồng âm sâu hơn mặt đất; lấp kín mặt bầu, dậm chặt; cắm cọc và buộc giữ cây con khỏi đổ ngã; vun mua rùa xung quanh gốc cây chống đọng nước; sau đó phủ rơm rạ hay cỏ khô tủ lên mô để giữ ẩm (không tủ sát gốc cây); che mát cây con thời gian đầu (chú ý: không che quá 50% ánh sáng mặt trời). Mô đất cần bồi rộng theo tán cây hàng năm.
- Trồng dặm: sau khi trồng trong thời gian một tháng, thường xuyên kiểm tra cây chết để trồng dặm kịp thời. Chọn cây giống tốt để trồng dặm là những cây cùng giống, có cùng tuổi với cây trồng trên vườn đã được dự phòng (khoảng 5 - 10%) và chú ý chăm sóc những cây trồng dặm nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho cây trồng dặm phát triển kịp các cây trồng trước. Sau 2 tháng bón phân và chăm sóc bình thường.
2.6. Phân bón và kỹ thuật bón phân:
2.6.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)
Thời kỳ bón | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | Lượng thương phẩm (kg/ha/năm) | Số lần bón/năm | |||||
Hữu cơ (tấn) | N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali Clorua | ||
Năm 1 | 10 | 50 | 51 | 64 | 109 | 283 | 107 | Bón 3 lần |
Năm 2 | 15 | 50 | 51 | 64 | 109 | 283 | 107 | Bón 3 lần |
Năm 3 | 15 | 50 | 51 | 64 | 109 | 283 | 107 | Bón 3 lần |
Năm 4 -5 | 15 | 50 | 51 | 64 | 109 | 283 | 107 | Bón 3 lần |
2.6.2. Thời kỳ kinh doanh
Thời kỳ bón | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | Lượng thương phẩm (kg/ha/năm) | Số lần bón/năm | |||||
Hữu cơ (tấn) | N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali Clorua | ||
Thời kỳ kinh doanh | 15 | 270 | 272 | 256 | 587 | 1.511 | 427 | Bón 3 lần |
Bón lần 1 thêm phân chuồng hoai mục từ 15 tấn/ha.
* Phân bón lá
- Giai đoạn tạo mầm hoa: bổ sung phân bón lá có hàm lượng lân và kali cao MKP, KNO3 (10 - 60 - 10) theo hướng dẫn của nhà sản xuất để lá sớm thành thục giúp quá trình phân hóa mầm hoa hiệu quả.
- Giai đoạn ra hoa, đậu quả non: trước khi xổ nhụy, phun phân bón lá có chứa Canxi - Bo + Kali theo hướng dẫn của nhà sản xuất để tăng tỷ lệ đậu quả.
2.6.3. Kỹ thuật bón phân
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản:
Cách bón: đào sâu 10 - 15 cm, cách gốc 30 - 40 cm hoặc theo hình chiếu tán cây, rải phân đều và lấp đất lại, tưới đủ ẩm cho cây. Hàng năm bón bổ sung phân hữu cơ trong đợt bón lần 1. Trong 4 năm đầu, lượng phân chia 3 lần bón/1năm:
Hạng mục | Ure | Super lân | Kali Clorua | Thời gian bón |
Lần 1 | 30% | 100% | 40% | Tháng 4 |
Lần 2 | 30% | 20% | Tháng 7 | |
Lần 3 | 40% | 40% | Tháng 10 |
- Thời kỳ kinh doanh:phân vô cơ bón 3 lần/năm. Tùy theo tình hình sinh trưởng và năng suất của cây bón lượng phân cho phù hợp hàng năm. Phân hữu cơ bón lần 1 cùng với phân ure, super lân và kali clorua.
Hạng mục | Ure | Super lân | Kali Clorua | Thời gian bón |
Lần 1 | 45% | 50% | 50% | Tháng 10 - 12 |
Lần 2 | 30% | 50% | Tháng 4 – 5 | |
Lần 3 | 25% | 50% | Tháng 9 – 10 |
2.7. Chăm sóc
2.7.1. Làm cỏ
Mùa mưa làm sạch cỏ 3 - 4 lần theo băng trên hàng. Làm sạch cỏ trong gốc thường xuyên và duy trì cỏ theo băng giữa hàng bơ đặc biệt vào mùa khô, tủ cỏ khô quanh gốc để giữ ẩm. Nên để cỏ trên mô nhưng cần làm cỏ xung quanh gốc bơ để gốc được khô ráo, vì ẩm độ cao sẽ thích hợp cho nấm Phytophthora palmivora phát triển và gây hại. Trong mùa khô cần dùng cỏ khô hoặc rơm rạ phủ đất giữ ẩm xung quanh gốc cây, nên phủ cách gốc 10 - 50 cm tùy độ lớn của cây.
2.7.2. Che bóng
Trong thời gian đầu sau trồng, nếu gặp điều kiện nắng nóng kéo dài. Cần tiến hành che bóng cho cây mới trồng bằng vật liệu lưới nilon (lưới đen) hoặc cành lá để che bớt khoảng 30 - 40% ánh sáng trực tiếp.
2.7.3. Tưới nước
- Lượng nước và chu kỳ tưới phụ thuộc lớn vào nhiệt độ, độ ẩm không khí và tốc độ thoát hơi nước trong đất và phương pháp tưới.
- Sau khi trồng tưới đủ ẩm cho cây, giai đoạn cây còn nhỏ, bộ rễ bơ ăn cạn, vấn đề tưới nước giữ ẩm và phủ gốc là cần thiết để hạn chế cây bơ bị chết do nóng khô vào mùa nắng nhất là những vườn bơ trồng bằng cây ghép. Tốt nhất nên tưới phun và lưu ý không nên tưới quá đẫm vào bồn gốc. Thời kỳ kinh doanh cần tưới đủ nước để cây sinh trưởng và phát triển; nhất là tháng 11 - 12 cần tưới để cây tăng khả năng ra hoa và kết quả.
- Cây con cần được tưới nước đầy đủ để giảm tỉ lệ cây chết, giúp cây khỏe, nhanh cho trái. Trong mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt.
- Tưới nước đủ ẩm từ sau khi trồng đến khi thu hoạch. Tiêu nước kịp thời khi ngập úng. Áp dụng biện pháp tưới nhỏ giọt hoặc tưới phun mưa tại gốc. Năm thứ nhất đến thứ 3 sau trồng: 50 – 100 lít nước cây lần; tưới 2 – 3 lần vào giữa và cuối mùa khô. Khi cây cho quả: 100 – 200 lít cây lần; tưới 2 – 3 lần từ sau khi hoa bắt đầu nở.
- Tiêu nước: Nơi đất bằng phẳng, thoát nước chậm phải đào rãnh thoát nước. Cách 2 hàng bơ đào 1 rãnh (sâu 40 cm, rộng 30 cm), xuôi theo độ dốc của vườn. Vào mùa mưa cần phá bỏ bồn tưới để tránh ngập úng khi mưa lớn.
2.7.4. Tạo hình, tạo tán
Tiến hành tạo hình, tạo tán không để cây cao quá 6 mét và cành tỏa đều về các phía (những cành khỏe mọc đều ra các hướng nhằm tạo bộ cành khung). Việc cắt cành khô, cành nhỏ yếu cũng phải được thực hiện sau thu hoạch nhằm tạo sự thông thoáng, giúp cây sinh trưởng phát triển tốt và ngăn ngừa không cho sâu bệnh lây nhiễm.
Trong năm thứ hai, thứ ba khi cây chưa cho trái cần tỉa bỏ những cành bị che khuất, cành yếu, cành bị sâu bệnh, cành mọc quá gần mặt đất. Chỉ để 1 ngọn với các cành ngang khỏe mạnh phân bố đều trên thân chính. Cần quét dung dịch chống nấm bệnh cho các vết cắt có đường kính lớn hơn 1 cm. Lưu ý: Tỉa cành xong mới tiến hành bón phân.
2.7.5. Tỉa trái
Sau thời kỳ đậu trái, tiến hành tỉa trái, thông thường mỗi chùm hoa để trung bình 5 - 7 trái. Chùm ở rìa tán để nhiều hơn, ngược lại ở sâu trong tán để ít hơn, tỉa bỏ trái nhỏ dị dạng.
2.8. Phòng trừ sâu, bệnh hại
2.8.1. Quản lý dịch hại tổng hợp
Để phòng trừ sâu, bệnh hại trên vườn cây bơ cần áp dụng đồng bộ các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM):
- Biện pháp canh tác: Sử dụng giống sạch bệnh; mật độ trồng thích hợp, trồng đúng thời vụ; quản lý cỏ dại; tưới, tiêu nước hợp lý; vệ sinh vườn cây, loại bỏ các cây, cành lá bị bệnh ra khỏi vườn và tiêu hủy.
- Biện pháp cơ học: Sử dụng bẫy, bả dẫn dụ trưởng thành, loại bỏ các ổ trứng trên vườn cây.
- Biện pháp sinh học: bảo vệ thiên địch trong vườn cây, nuôi kiến vàng (Oecophylla smaragdina), đồng thời ngăn chặn sự xâm nhập của kiến hôi (Dolichodorus thoracicus); sử dụng chế phẩm có nguồn gốc sinh học để phòng trừ sâu, bệnh.
- Biện pháp hóa học: sử dụng thuốc BVTV phải tuân thủ nguyên tắc 4 đúng, lựa chọn thuốc ít độc hại, trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam; tuân thủ quy định an toàn cho người lao động và các quy định an toàn thực phẩm.
2.8.2. Sâu hại
2.8.2.1. Mọt đục cành (Euwallacea sp.)
a) Đặc điểm gây hại
Mọt trưởng thành đục vào mặt dưới của cành, xâm nhập vào giữa, đào thành một hầm ngầm và bắt đầu đẻ trứng. Sâu non phát triển ở thành vách của hầm ngầm. Mọt non (ấu trùng) tiếp tục đục khoét, sinh sôi và lây lan. Phần đường hầm do mọt đào sẽ chuyển màu nâu đen và có dấu hiệu bị ẩm mốc trầm trọng. Cành bị hại có biểu hiện khá rõ rệt, lá có màu nâu sẫm và bị héo rũ nhanh chóng, rồi chết khô trên cây. Bẻ cành xuống, chẻ đôi thấy một đoạn cành đã bị mọt đục rỗng ở giữa.
b) Biện pháp phòng trừ tổng hợp
- Vệ sinh vườn, tỉa cành thông thoáng, cắt và đốt bỏ cành, thân cây bị mọt hại nặng đem đi tiêu hủy.
- Quét gốc và thân chính bằng Norshiled vào cuối mùa mưa.
- Thường xuyên theo dõi và kiểm tra mọt trong cuối mưa – đầu mùa khô.
- Hiện nay danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ mọt đục cành hại cây bơ. Có thể tham khảo sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất Abamectin;Abamectin + Matrine;…
2.8.2.2. Sâu cuốn lá (Gracilaria percicae Busk)
a) Đặc điểm gây hại
- Bướm thường đẻ trứng trên lá mới ra, trứng nở thành sâu và lớn dần lên theo lá, nhưng thông thường nhất là sâu nhả tơ cuốn lá lại để làm tổ.
- Sâu dài 10 mm, màu xanh và có những lằn đen ngang không rõ rệt.
- Trưởng thành sâu làm nhộng trong các tổ lá, sau 5 - 7 ngày rồi vũ hóa.
b) Biện pháp phòng trừ
- Nếu có điều kiện trước khi phun thuốc nên dỡ bỏ các tổ lá do sâu cuốn lại để tăng hiệu lực của thuốc.
- Hiện nay danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký trên cây bơ, có thể tham khảo một số hoạt chất để phòng trừ như: Azadirachtin; Abamectin hoặc Citrus oil,...phun ướt đều tán lá.
2.8.2.3. Bọ xít muỗi (Helopeltis sp.)
a)Đặc điểm gây hại
- Bọ xít muỗi non và trưởng thành gây hại các bộ phận non của cây như lá non, chồi non, hoa vàtrái non của cây bơ tạo các vết thâm đen:
+ Trên lá non, chồi non: Vết chích là những vết chấm màu nâu đen, hại nặng sẽ làm phiến lá bị cong.
+ Trên hoa: Các chùm hoa bị hại bị khô đen.
+ Trên quả bơ: Quả bơ bị hại có nhiều vết chích màu đen, phát triển dị dạng, nấm bệnh dễ dàng xâm nhập từ vết chích gây nên bệnh ghẻ vỏ quả bơ.
- Bọ xít muỗi thường xuất hiện, gây hại vào sáng sớm (trước 9 giờ) và chiều tối (sau 16 giờ). Ngày âm u thì hoạt động cả ngày.
b) Biện pháp phòng trừ tổng hợp
* Biện pháp canh tác
- Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại, tỉa cành, trồng xen với mật độ phù hợp để vườn bơ thông thoáng hạn chế nơi trú ngụ của bọ xít muỗi.
- Bón phân N-P-K cân đối, không bón quá nhiều phân đạm; tăng phân kali vào thời kỳ cây bơ ra đọt non, hoa và quả non.
* Biện pháp sinh học: bảo vệ các loài thiên địch của bọ xít muỗi như kiến vàng, bọ ngựa và nhện lớn bắt mồi. Trong đó kiến vàng là loài thiên địch hữu hiệu nhất, chúng ăn ấu trùng và trưởng thành bọ xít muỗi, xua đuổi ngăn cản bọ xít muỗi ăn hoặc đẻ trứng trên đọt non.
* Biện pháp hóa học
- Sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ bọ xít muỗi khi có nguy cơ gây hại nặng, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và phải tuân theo nguyên tắc “4 đúng”.
+ Loại thuốc: trong danh mục chưa có thuốc đăng ký trừ bọ xít muỗi trên cây bơ nên có thể tham khảo sử dụng một số hoạt chất như: Abamectin, Emamectin benzoate, Abamectin + Matrine; Cypermethrin.
+ Phun thuốc vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát hoặc những ngày thời tiết âm u. Phun khi phát hiện bọ xít muỗi ở tuổi 1-3. Phun trừ đồng loạt trên diện rộng, phun từ ngoài vào trong theo hình xoắn ốc và phun ướt đều tán cây. Phun trừ bọ xít muỗi cư trú trong các bụi rậm, tán cây rậm rạp xung quanh vườn bơ.
2.8.2.4. Vòi voi đục ngọn (Alcides sp.)
a)Đặc điểm gây hại
- Bọ vòi voi hại trên ngọn chồi non của cây bơ. Trưởng thành thường đục lỗ trên chồi ngọn để đẻ trứng. Triệu chứng ban đầu của bọ vòi voi gây hại là các chồi ngọn chỗ vết đục có phân đùn ra, ngọn cây héo dần và sau đó khô lại.
- Thành trùng bọ vòi voi ban ngày ít hoạt động, chủ yếu hoạt động vào ban đêm và chiều tối. Khi bị phát hiện chúng nằm im và giả chết.
- Sau khi trứng nở sâu non đục qua lớp vỏ vào trong, nơi bị đục thường có phân đùn ra. Sâu non đục ở phần ngọn cành cây bơ tạo thành đường hầm dài 15 – 20 cm.
b) Biện pháp phòng trừ
* Biện pháp canh tác
- Thường xuyên vệ sinh vườn bơ, đặc biệt các vườn bơtrồng gầnbìa rừng để hạn chế nơi trú ngụ của bọ vòi voi đục ngọn.
- Thăm vườn thường xuyên vào sáng sớm hoặc chiều tối (5 - 6 giờ) đặc biệt đối với vườn bơ trồng ven bìa rừng để kiểm tra mật độ bọ vòi voi đục ngọn để phát hiện và phòng trừ kịp thời.
- Đối với cây mới bị hại nên cắt bỏ những đoạn cành đã bị sâu gây hại, kể cả những cành đã bị khô, thu gom lại đem tiêu hủy để diệt sâu, nhộng bên trong, hạn chế mật độ sâu cho các đợt kế tiếp.
* Biện pháp sinh học: bảo vệthiênđịchđểhạnchếsự xuấthiện,gâyhạicủa vòi voi đục ngọn. Thiên địchchủyếucủa vòi voiđụcngọnđiềulà kiếnvàng.
* Biện pháp hóa học: vào giai đoạn cây phát triển mạnh chồi non, theo dõi nếu xuất hiện nhiều bọ vòi voi trưởng thành và ấu trùng tuổi 1, 2 có thể sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất đã đăng ký phòng trừ sâu đục ngọn hại cây ăn trái như: Abamectin, Emamectin benzoate + Matrine.
2.8.2.5. Rệp sáp (Pseudococcus citriRisse)
a) Đặc điểm gây hại
- Rệp thường xuất hiện vào mùa mưa, chích hút nhựa lá và đọt non, quả non làm cây giảm sức tăngtrưởng.
- Rệp cái đẻ trứng ở các kẻ lá non, nách cành non. Đây là bộ phận non, mềm và giàu chất dinh dưỡng nên rệp dễ dàng phát triển. Rệp tập trung từng đám ở kẻ lá, chồi non, chùm hoa và quả non. Phá hại các cuống của hoa và quả. Mùa khô rệp bò xuống sống ở gốc cây. Nhựa cây và chất dịch do rệp tiết ra làm thức ăn cho loài nấm Bornetinia corium phát triển, sợi nấm đan thành tổ bao che rệp. Rệp chích hút rễ và gốc cây làm rễ phát triển kém, cây sinh trưởng yếu, lá vàng có thể bị chết dần.
b) Biện pháp phòng trừ
- Cắt tỉa những cành sâu bệnh, cành già, cành vượt nằm trong tán lá để vườn cây thông thoáng.
- Dùng máy Bơm xịt mạnh tia nước vào chỗ có nhiều rệp đeo bám có tác dụng rửa trôi bớt rệp.
- Có thể tham khảo sử dụng hoạt chất Spirotetramat để phòng trừ.
2.8.3. Bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ
2.8.3.1. Bệnh thối rễ: (Phytophthora cinnamoni)
a) Triệu chứng gây bệnh
- Những chân đất có độ giữ ẩm cao, nấm xâm nhập làm hư rễ chính (rễ cọc), sau đó nấm lan tràn phá hủy cả bộ rễ làm cây chết rụi. Cây bệnh rất ít ra rễ tơ. Rễ tơ nhiễm bệnh màu đen, dễ gãy và chết.
- Cây bị bệnh có tán lá xơ xác, lá đổi sang màu xanh nhạt rồi rụng. Cành chết dần từ ngọn xuống thân chính. Đặc biệt với cây con trong giai đoạn vườn ươm rất dễ bị nhiễm bệnh và gây chết hàng loạt.
- Cây bệnh vẫn mang nhiều quả nhưng quả nhỏ, năng suất thấp.
b) Biện pháp phòng trừ
- Trồng trên đất thoát nước tốt, tạo mương rãnh thoát nước.
- Không dùng cây giống có nguy cơ chứa nấm bệnh.
- Hiện nay danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh thối rễ hại cây bơ. Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc BVTV có hoạt chất Phosphorous acid; Mancozeb + Metalaxyl-M; Validamycin… để phòng trừ.
- Sử dụng nấm đối kháng Trichodenma tưới vào đất để tăng sinh khối rễ và cải tạo đất giúp phòng trừ bệnh tái phát.
2.8.3.2. Bệnh đốm lá (Cerocospora purpurea)
a) Triệu chứng gây bệnh
- Bệnh đốm lá trên cây bơ do nấm Cerocospora purpurea gây ra.
- Bệnh hại lá và trái, nấm bệnh xuất hiện rải rác trên lá, có hình dạng và kích thước gần giống nhau, hình có góc cạnh hoặc hơi tròn, màu nâu. Những đốm này có thể liên kết với nhau tạo thành mảng. Trên trái bệnh tạo nên những mụn lồi cỡ 5 mm, có màu nâu nhạt đến nâu đậm. Trái bị bệnh mất giá trị. Bệnh tồn tại trên lá già, bào tử nấm phát tán khi có điều kiện thích hợp.
b) Biện pháp phòng trừ
- Thường xuyên cắt tỉa cây bơ trong vườn, nhằm tạo độ thông thoáng tối đa cho vườn cây.
- Hiện nay danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh đốm lá hại cây bơ. Khi phát hiện bệnh có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc BVTV có hoạt chất như Difenoconazole, Cholorothalonil, … phun ướt đều tán lá với liều lượng sử dụng theo khuyến cáo của trên bao bì.
2.8.3.3. Bệnh khô cành (Colletotrichum cloeospriodes)
a) Triệu chứng gây bệnh: Nấm xâm nhập vào trên cành làm tắc nghẽn và phá hủy các mạch li be dẫn đến cành khô và chết. Trên trái đã già, gần chín, nấm thường xâm nhập vào những chỗ do trái cọ sát hoặc bị thương tích hay do côn trùng chích hút, ăn vỏ quả làm cho trái bị nhũn thường ở phần cuối trái.
b) Biện pháp phòng trừ: phun dung dịch Boóc đô để phòng bệnh vào đầu mùa mưa, Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký trên cây bơ, khi phát hiện bệnh có thể tham khảo một số hoạt chất để phòng trừ nhưPropineb, Copper Hydrocide, Mancozeb; Hexaconazole;Prochloraz; ... để trị bệnh.
2.8.3.4. Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporiodes)
a) Triệu chứng gây bệnh
Bệnh phát sinh ở điều kiện môi trường có độ ẩm không khí cao, mưa nhiều. Bệnh gây hại trên tất cả các bộ phận của cây từ thân cành, lá và trái.
- Triệu chứng trên cành: Nấm xâm nhiễm vào cành làm cành khô chết do nấm gây hại làm mất nước và làm chết tế bào mạch dẫn. Các cành cơ trở lên giòn và dễ gây, các vết bệnh chạy dọc theo thân cành.
- Triệu chứng bệnh trên trái: Bệnh thán thư phát sinh phát triển từ lúc trái già chín (trên cây, chưa thu hoạch). Sau khi thu hoạch bệnh tiếp tục phát triển gây thối đen trái và hầu như trái không có giá trị sử dụng. Bệnh khi mới xuất hiện là các chấm nâu đen nhỏ trên bề mặt vỏ trái với đường kính từ 0,3-0,5cm. Sau khi thu hoạch bệnh phát triển mạnh hơn, kích thước vết bệnh lớn dần lên(trên 1cm), các vết bệnh có dấu hiệu lan rộng bề mặt trái và hơi lõm xuống, màu đen thẫm hỏng thịt quả bên trong, đây là triệu chứng điển hình của bệnh thán thư.
b) Biện pháp phòng trừ
- Thu gom những cành, lá, quả bị bệnh đem đi tiêu hủy để tránh lây lan.
- Tỉa cành, tạo tán để tạo thông thooáng cho vườn cây. Loại bỏ những cành thấp, nằm sát với mặt đất. Chọn lựa những trái khoẻ mạnh và đủ tiêu chuẩn để thu hoạch.
- Hiện nay danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh thán thư hại cây bơ. Khi phát hiện bệnh có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như Propineb;Copper Hydrocide; Mancozeb; Hexaconazole; Prochloraz; Azoxystrobin + Difenoconazole; ... để trị bệnh.
2.8.3.5. Bệnh héo rũ (Verticillium albo – atrum)
a) Triệu chứng gây bệnh
Cây bị nhiễm nấm thường đột nhiên bị héo lá trên một phần cây hoặc khắp cây. Lá bị chết rất nhanh, chuyển thành vàng nhưng rất khó rụng. Nếu lột vỏ của cành hoặc rễ cây đã chết sẽ thấy những đường sọc màu nâu ở phần tiếp giáp vỏ và gỗ. Nấm tồn tại trong đất và gây hại ở bất kỳ tuổi nào của cây. Cây bệnh có thể chết luôn hoặc sống trở lại, đối với những cây bị bệnh một phần thì phần bệnh không thể cho trái trong vòng 1 hoặc 2 năm.
b) Biện pháp phòng trừ
- Thường xuyên thăm vườn để phát hiện bệnh sớm, cắt tỉa cành lá hợp lý tạo độ thông thoáng cho vườn. Chăm sóc cây tốt, bón phân cân đối, đầy đủ dinh dưỡng để cây có sức đề kháng cao chống chịu tốt với sâu bệnh.
- Hiện nay, danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh héo rũ trên cây bơ. Khuyến cáo phun thuốc hoặc tưới dung dịch Copper Hydrocide để phòng bệnh vào đầu mùa mưa, dùng thuốc có hoạt chất Fosetyl Aluminiumtưới hoặc quét lên các vùng thân, rễ bị bệnh, cắt xén kỹ khi cây vừa có triệu chứng bệnh, sau khi cây bị bệnh phục hồi cắt bỏ những nhánh nhỏ đã bị chết.
2.8.3.6. Bệnh nứt thân xì mủ
a) Triệu chứng gây bệnh
- Bệnh nứt thân xì mủ trên cây bơ do Phytophthora sp gây ra. Bệnh lây lan mạnh trong điều kiện mưa ẩm, tán dày kém thông thoáng, đất trồng bị suy thoái, pH đất thấp, nhiều nấm hại tồn tại. Bệnh làm cây suy yếu, kém phát triển, dần dần chết cây. Điều này làm ảnh hưởng đến năng suất cũng như giá trị kinh tế người trồng.
- Trên thân, cành: lúc đầu xuất hiện một vết thối nhỏ màu nâu sẫm chảy nhựa. Vết bệnh thường xuất hiện ở phần thân sát gốc. Vết bệnh làm cho vỏ thân cây bị úng nước, thối nâu bằng những vùng bất dạng, sau đó khô, nứt dọc và chảy mủ, vỏ cây bị bong ra, phần gỗ thân cây bị thối nâu.
- Vết bệnh gây loét và ăn sâu vào trong các mạch dẫn, khi cạo bỏ phần vỏ sẽ thấy các mạch dẫn có màu cam hoặc biến nâu. Cây bệnh bị yếu sức, ngọn cây ít phát triển, tán lá suy giảm. Bệnh nặng kéo dài khiến cây kiệt quệ, kém phát triển.
- Bệnh thường xuất hiện ở vườn bơ rậm rạp, trồng mật độ dày, thoát nước kém. Vào mùa mưa, ẩm độ cao là điều kiện thuận lợi để nấm bệnh gây hại phát triển.
b) Biện pháp phòng trừ
- Thu gom cành lá vỏ nhiễm bệnh mang ra khỏi vườn tiêu hủy. Cắt tỉa vườn thông thoáng. Cải tạo nền đất, cải thiện khả năng thoát nước của đất trồng. Bổ sung dinh dưỡng tăng sức đề kháng cho cây.
- Khi cây trồng nhiễm bệnh, đối với những cây có vết bệnh còn nhỏ thâm đen và chảy gôm trên thân, cành dùng dao sắc bén cạo bỏ phần mô chết, bôi dung dịch thuốc có hoạt chất như Metalaxyl, Mancozeb, Fosetyl-aluminium, thuốc gốc đồng,…lên mặt cắt xung quanh.
2.8.3.7. Bệnh ghẻ vỏ quả
a) Triệu chứng gây bệnh
- Bệnh ghẻ vỏ quả trên cây bơ do nấm Sphaceloma perseae gây ra. Nấm bệnh tấn công ở tất cả các bộ phận của cây nhưng nhiều nhất là ở quả. Bệnh phát tác mạnh hơn rất nhiều khi gặp điều kiện thuận lợi như: mưa nhiều, độ ẩm cao, nấm sẽ nhanh chóng theo dòng nước tới các mô non của lá, cành, quả cây bơ để phát triển.
- Trên vỏ quả hình thành vết bệnh bầu dục, hơi gồ lên, màu nâu - nâu tím. Khi quả gài, các vết bệnh liên kết, tâm vết bệnh co lại gây nứt, tạo thành mạng, toàn vỏ sần sùi. Chất lượng thịt quả không bị ảnh hưởng nhưng trông bên ngoài vỏ rất xấu.
- Bệnh lây lan bằng các con đường gió, mưa, côn trùng. Các vết cắn do bọ trĩ gây ra chính là nơi thuận lợi cho nấm gây bệnh xâm nhập.
- Tùy vào từng loại giống mà mức độ ảnh hưởng của bệnh sẽ thay đổi, giống không có khả năng kháng bệnh sẽ bị rụng quả và giảm năng suất nghiêm trọng.
b) Biện pháp phòng trừ
- Khi phát hiện cây nhiễm bệnh, tiến hành cắt bỏ và thu gom những cành, quả bị nhiễm mang đi tiêu hủy để tránh lây lan nấm bệnh.
- Thường xuyên thăm vườn để vệ sinh và tỉa cành hợp lý, tạo thông thoáng cho vườn, hạn chế bọ trĩ.
- Phun phòng nấm và bọ trĩ, Bón phân cân đối, cải tạo nền đất không để ứ đọng nước, tạo điều kiện cho côn trùng và nấm hại phát triển.
Lưu ý: hiện nay, Danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ dịch hại trên cây bơ. Vì vậy các loại thuốc khuyến cáo phòng trừ các dịch hại trên chỉ để tham khảo sử dụng, trước khi dùng trên diện rộng phải thử nghiệm trên diện tích nhỏ nếu không có ảnh hưởng xấu mới triển khai áp dụng để tránh gây thiệt hại cho sản xuất.
III. Thu hoạch, sơ chế, chế biến và bảo quản
1. Thu hoạch
Chỉ thu hái những quả đã chín sinh lý, khi quả chuyển màu vỏ từ sáng bóng, xanh sang màu xanh đậm; căn cứ vào sự đổi màu của vỏ quả hoặc cầm quả lắc nhẹ nghe tiếng va đập của hạt vào thành quả là thu được. Không thu hoạch quả non và loại bỏ quả rụng.
Dùng kéo cắt cành để cắt cuống quả và phải để chừa lại cuống phụ sát phần quả khoảng 1 – 2 cm. Tránh gây tổn thương thân cây, làm ảnh hưởng đến việc ra quả tiếp theo.
Trái bơ sau khi thu hoạch phải được vận chuyển kịp thời về nơi bảo quản quả phải đảm bảo thoáng mát, khô ráo.
2. Sơ chế, chế biến
Địa điểm, nhà xưởng, nước, sơ chế, thu gom và xử lý chất thải, vệ sinh cá nhân; thiết bị, dụng cụ sơ chế,…phải tuân theo quy chuẩn, tiêu chuẩn Quốc gia.
3.Bảo quản
Trái bơ có thể bảo quản lạnh hoặc nhiệt độ thường, các giống bơ có thể bảo quản lạnh ở nhiệt độ từ 7 - 120C, ẩm độ từ 85 - 90%. Ở nhiệt độ 200C quả bơ chín sau 6 - 10 ngày, ở nhiệt độ 25 - 27 0C trái chín sau 5 - 7 ngày.