Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên chanh dây.
Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.
QUY TRÌNH
Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây chanh dây trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND, ngày / /2025 của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB):06 tháng kể từ khi trồng.
2. Thời kỳ kinh doanh:Kéo dài từ 1,5 đến 2,5 năm (tương đương 18 - 30 tháng), được tính từ tháng thứ 7 sau khi trồng.
3. Chu kỳ kinh doanh:từ 02 đến 03 năm, tùy thuộc vào điều kiện và kỹ thuật thâm canh.
4. Mục tiêu năng suất:Đạt từ 40 - 45 tấn/ha.
II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1. Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa
- Nhiệt độ: Thích hợp từ 16-30oC, không có sương muối.
- Ẩm độ: 75-80%.
- Lượng mưa: Trung bình từ 1.600 mm trở lên, phân bố đều, trong thời kỳ ra hoa ít bị mưa.
2. Độ cao và gió
- Độ cao: Chanh dây quả tím thích hợp vùng á nhiệt đới, cao độ 1.000-1.200m so mặt biển cho chất lượng quả tốt. Ngược lại giống quả vàng thích hợp vùng nhiệt đới, độ cao < 600m.
- Gió: Cần dùng các vật liệu che chắn nhằm hạn chế gió khi cây còn non.
3. Ánh sáng:
Cây chanh dây cần nhiều ánh sáng, tốt nhất là ánh sáng trực tiếp từ mặt trời, để quang hợp và phát triển tốt. Cây chanh dây ưa khí hậu ấm áp, nhiệt độ lý tưởng từ 20-25°C, và không chịu được nhiệt độ dưới 10°C hoặc trên 30°C.
4. Đất đai:
Cây chanh dây không kén đất, có thể trồng ở những vùng có khí hậu nóng, kể cả đất có pH cao. Tốt nhất là chọn đất thoát nước tốt, không để nước đọng. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng canh tác sâu >50cm, độ mùn trên 1% và pH 5,5-6. Thíchhợpvớicácloạiđấtthoángxốp, giàuchấthữucơnhư:Đấtthịtnhẹ,đấtđỏ Bazan…
III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống
- Sử dụng các giống được cấp Quyết định công nhận lưu hành, tự lưu hành, lưu hành đặc cách, các giống trong danh mục giống cây trồng được phép
sản xuất, kinh doanh các ngành có thẩm quyền ban hành hoặc đã được Quyết định công nhận cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng.
- Kỹ thuật ươm giống: Có thể sử dụng nhiều biện pháp như: gieo hạt, giâm cành, chiết cành, ghép cải tạo chất lượng giống để trồng. Nhưng để duy trì đặc tính di truyền tốt chủ yếu dùng biện pháp ghép cành.
+ Gieo hạt: Hạt giống sau khi gieo từ 10-14 ngày nảy mầm, khi cây được 2 lá thì bỏ vào túi nilon 12 x 15cm, khi cây được 5-7 lá đem trồng.
+ Giâm cành: Lấy cành đã trưởng thành năm ngoái, mỗi cành lấy 3 mắt, đoạn dưới cắt đến mắt, đoạn trên phải cắt cao hơn mầm, giâm cành xuống chừa 1 phiến lá ở trên và cắt ½ phiến lá. Khi giâm cành, 2 mắt dưới cắm vào đất, tưới nước đầy đủ và duy trì độ ẩm không khí, tránh ánh nắng trực tiếp rọi vào, sau khoảng 30 ngày cây mọc rễ.
+ Ghép cành: Dùng chanh dây quả vàng sinh trưởng, phát triển mạnh, chịu ẩm, chịu hạn, kháng bệnh héo úa, thích hợp để làm gốc ghép.Cành ghép chọn cành phát triển tốt sạch bệnh trong năm (15-20 cm), áp dụng biện pháp ghép nêm, sau khi ghép xong dùng dây nilon cố định vết ghép, tránh ánh nắng trực tiếp rọi vào, sau 15 ngày tháo dây nilon, sau 1 tháng tiến hành trồng được.
- Một số giống chanh dây chính tại Lâm Đồng: Đài nông 1 (quả tím), giống chanh dây Thông đỏ, chanh dây tím Hi-Seng và chanh dây vàng ngọt Hi-Chung, và một số giống do các công ty nhập khẩu từ Đài Loan.
1.2. Tiêu chuẩn cây giống
- Tiêu chuẩn cây giống: Lựa chọn, sử dụng cây giống sạch bệnh, sinh trưởng tốt (có chồi ngọn mập khỏe, chiều dài chồi ngọn từ 3 - 5 cm trở lên, gốc ghép thẳng, mối ghép khô, bộ rễ khỏe…).
- Xử lý giống: Sau khi nhận giống, để trong mát từ 10 – 12 tiếng trước khi đưa cây đi trồng hoặc sang bầu lớn (lưu ý:Hạn chế tưới nướctrong thời gian này); phun phòng 1 lượt thuốc bảo vệ thực vật trừ nấm phòng nguy cơ bị nhiễm nấm bệnh ở gốc hoặc ngọntrước khi trồng cây ra đồng; lưu ý khi lấy cây cần nhẹ nhàng, cầm tại phần gốc hoặc bầu cây để tránh ảnh hưởng tới mối ghép.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng
Chanh dây có thể trồng quanh năm, tuy nhiên thích hợp nhất là trồng vào đầu mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 6 dương lịch, cây sẽ sinh trưởng tốt hơn, giảm công tưới.
2.2. Mật độ và khoảng cách
Tùy theo điều kiện đất đai, địa hình và khả năng thâm canh, có thể trồng các mật độ: 1.660 cây/ha: khoảng cách 3 x 2m; 1.330 cây/ha: khoảng cách 3 x 2,5m; 1.100 cây/ha: khoảng cách 3 x 3 m; 850 cây/ha: khoảng cách 3 x 4 m (mật độ này thường áp dụng nhiều nhất tại địa phương).
2.3. Chuẩn bị đất
- Thu dọn cỏ dại, tàn dư thực vật, loại bỏ các cây là ký chủ của virus và môi giới truyền bệnh như dây nhãn lồng, rau muối, bầu bí, dưa chuột, mướp đắng, susu, cà tím, ớt,... trên khu vực dự định trồng chanh dây;
- Làm đất tơi xốp, san phẳng khu vực trồng, bố trí rãnh tiêu thoát nước hợp lý, đặc biệt trên các khu vực đồi dốc để tránh bị rửa trôi, xói mòn và hạn chế bệnh thối rễ;
- Xử lý mối, tuyến trùng và các sâu hại dưới đất bằng thuốc bảo vệ thực vật trước khi trồng.
2.4. Đào hố, bón lót
- Kích thước hố trồng 60 x 60 x 60 cm; có thể đào hố bằng máy hoặc thủ công; hố được đào trước khi trồng từ 20-30 ngày; khoảng cách các hố căn cứ theo địa hình thực tế của vườn trồng, nếu tái canh cần đào hố so le với hố cây vụ trước.
- Bón lót: Đào hố xong xử lý đất bằng vôi, dùng phân chuồng hoai trộn lẫn với phân lân, vôi hoặc dùng phân hữu cơ vi sinh để bón lót. Thực hiện bón trước khi trồng từ 25-30 ngày với lượng: phân chuồng 15-20 tấn/ha (có thể thay bằng phân hữu cơ vi sinh với lượng từ 3 – 4 tấn/ha) + vôi 1.000kg/ha, kết hợp với nấm Trichoderma(1kg/1 tấn phân chuồng); trộn đều hỗn hợp này với lớp đất mặt.
2.5. Kỹ thuật trồng
- Trước trồng 1-2 ngày nên tưới đẫm hố trồng để đủ độ ẩm và kết cấu đất được ổn định giúp rễ cây nhanh phát triển, hấp thu dinh dưỡng tốt.
- Đào lỗ ở giữa hố đã chuẩn bị (tùy thuộc vào kích thước của bầu), bóc bỏ túi, bầu (chú ý không để vỡ bầu, dùng dao sắc rạch đứt túi bầu nhưng không gây hại đến rễ cây và bóc túi bầu); đặt cây vào lỗ (đặt mặt bầu bằng với mặt luống; chú ý: mặt bầu không sâu hoặc cao hơn mặt đất của hố); lấp đất chặt vừa phải tránh gây tổn thương bộ rễ. Trồng xong tưới đẫm nước để giữ ẩm cho cây, cắm cọc bảo vệ, che nắng và tủ gốc để giữ ẩm cho cây con, thời gian che nắng giai đoạn đầu khoảng 15 ngày.Sau đó rải một số chế phẩm trừ mối, kiến, dế để tránh cây bị cắn phá khi còn non.Dùng cây chống cắm xung quanh và dùng các vật liệu che chắn nhằm hạn chế gió.
- Làm bồn: Để nâng cao hiệu quả cho việc bón phân và tưới nước do đó cần phải làm bồn cho cây. Chiều cao bồn từ 10-15 cm, kích thước bờ bồn cách gốc khoảng 1 mét khi cây bước vào giai đoạn kinh doanh.
- Thường xuyên kiểm tra vườn cây, trồng dặm kịp thời khi cây chết; giai đoạn đầu mới trồng có thể trồng xen các loại cây ngắn ngày thuộc họ đậu để nâng cao thu nhập. Làm sạch cỏ dại và nhặt bỏ các dây lươn gần gốc ở giai đoạn mới trồng và khi lên giàn để tạo độ thông thoáng cho vườn.
Lưu ý: Không nên trồng xen các loại cây họ bầu bí, cà để tránh lây lan các mầm bệnh sang cây chanh dây.
2.6. Phân bón và kỹ thuật bón phân
Lượng phân bón cho chanh dây mật độ trồng 850 cây/ha.
2.6.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)(1-6 tháng tuổi)
Thời kỳ bón | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | Lượng thương phẩm (kg/ha/năm) | Số lần bón/năm | |||||
Hữu cơ (tấn) | N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali Clorua | ||
1 – 6 tháng | 15-20 | 170 | 170 | 145 | 370 | 1.062 | 242 | |
Ngoài ra, bổ sung thêm vôi với lượng 1.000 kg/ha. Có thể thay phân đơn bằng phân NPK 20 - 20 -15: 850kg; KCl: 29kg.
2.6.2. Thời kỳ kinh doanh(từ 7 tháng tuổi trở lên)
Thời kỳ bón | Lượng nguyên chất (kg/ha) | Lượng thương phẩm (kg/ha) | Số lần bón/năm | |||||
Hữu cơ (tấn) | N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali Clorua | ||
15-20 ngày bón 1 lần | 15-20 tấn/năm | 400 | 204 | 820 | 870 | 1.275 | 1.367 | Phân hữu cơ: 02 lần. Phân hóa học 20 lần. |
Có thể thay phân đơn bằng phân NPK 20 - 20 -15: 1.020kg;Ure:426kg;KCL: 1.112kg
2.6.3. Kỹ thuật bón phân
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)
* Sử dụng phân đơn:
Hạng mục | Phân hữu cơ (tấn) | Vôi (kg) | Ure (kg) | Super lân (kg) | Kali Clorua (kg) | Thời gian bón |
Bón lót | 15 - 20 tấn | 1.000 kg | - | - | - | Bón trước khi trồng 15-20 ngày |
Bón thúc | 28 - 32 kg/lần | 18 - 22 kg/lần | 20 NST | |||
28 - 32 kg/lần | - | 18 - 22 kg/lần | 15 ngày bón 1 lần (chia đều 10-12 lần bón) | |||
- | 531 kg | - | 60 NST | |||
- | 531 kg | - | 150 NST |
Bón thúc: Phân Ure và kali bón sau trồng 20 ngày, các lần tiếp theo cứ 15 ngày bón 1 lần (chia đều 10-12 lần bón) bón 28-32kg urê + 18-22kg KCL.
Phânlânbón riêngvàchiahailầnbón,lầnthứnhấtsaukhitrồng60ngày, lần tiếp theo 150 ngày sau trồng. Bón lấp xung quanh bồn (dùng nĩa để nĩa đất nhằm tránh gây đứt rễ).
* Sử dụng phân NPK:
Bón thúc: sau trồng 15 ngày bón 29kg KCL + 70kg NPK 20-20-15 và các lần tiếp theo cứ 15 ngày (chia đều 10-12 lần bón) bón 70-85kg NPK 20-20-15 mỗi lần.
- Thời kỳ kinh doanh
* Sử dụng phân đơn:
Hạng mục | Phân hữu cơ (tấn) | Ure (kg) | Super lân(kg) | Kali Clorua (kg) | Thời gian bón |
Bón bổ sung | 10 tấn/lần | Đầu và giữa mùa mưa (02 lần) | |||
Bón thúc | 30 - 40 kg/lần | 50 - 55 kg/lần | 15 -20 ngày bón 1 lần (bón khoảng 20 lần). | ||
425 kg/lần | 45 ngày bón 1 lần (bón 3 lần trong mùa mưa). |
Phân đạm và kali (bón khoảng 20 lần), cứ 15-20 ngày bón 1 lần: 30-40kg Urê + 50-55kg Kaliclorua/ha/lần bón.
Phân lân chia làm 3 lần bón, bón lấp xung quanh bồn (dùng nĩa để nĩa đất nhằm tránh gây đứt rễ).
Trong giai đoạn kinh doanh cần bón thêm phân hữu cơ hoặc phân chuồng hoai với lượng 15-20 tấn/năm, bón 2 lần vào đầu và giữa mùa mưa.
* Sử dụng phân NPK:
Phân NPK 20 - 20-15 + đạm + kali (bón khoảng 20 lần), cứ 15-20 ngàybón 1 lần: 50kg NPK 20 - 20-15 + 20-22kg Urê + 55-60kg Kaliclorua/ha/lần bón.
Lưu ý:
- Phân chuồng hoai mục hoặc phân hữu cơ công nghiệp đào rãnh sâu 5-10 cm cách gốc 40 - 50 cm tránh gây tổn thương bộ rễ, trộn đều các loại phân rải xuống, lấp kín đất và tưới nước.
- Tranh thủ thời tiết thuận lợi để bón phân, khi bón tốt nhất lấp kín phân, nếu không gặp mưa phải tưới nước ngay sau khi bón phân.
- Đào rãnh cách gốc 1-1,2 m các loại phân trộn đều với nhau bón xong lấp kín đất. Lần bón thứ hai không chồng lên vị trí đã bón phân lần trước.
- Cây chanh dây là cây vừa phát triển cành lá, vừa nuôi quả, có sinh khối lớn nên việc cung cấp dinh dưỡng cần được bổ sung thường xuyên và kịp thời. Sau mỗi đợt cắt xả cành cần bón bổ sung thêm phân hữu cơ để giúp cây nhanh phục hồi, phát triển tốt.
- Ngoài ra, trong quá trình canh tác cần phun thêm các loại phân bón qua lá có chứa các trung, vi lượng như Ca, Mg, S, B, Mo, Fe,… nhằm thúc đẩy cây sinh trưởng phát triển, kích thích ra hoa đậu trái sau các lần thu hoạch.
Dựa vào tính chất đất và sự phát triển của cây mà sử dụng phân bón theo nguyên tắc 4 đúng (đúng loại, đúng liều,đúng lúc, đúng cách).
2.7. Chăm sóc
2.7.1. Làm cỏ
Thường xuyên phá lớp váng đất mặt tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển giúp cây sinh trưởng tốt.
Cây chanh dây có bộ rễ ăn cạn, cho nên việc diệt cỏ dại chủ yếu dùng biện pháp thủ công, hạn chế tối đa việc làm đứt rễ làm cây dễ nhiễm bệnh.
2.7.2. Tưới nước
Chanh dây là cây trồng có bộ rễ ăn nông, khả năng huy động nước và chịu úng của rễ kèm; do đó trong quá trình chăm sóc cần tưới và tiêu nước hợp lý.
- Vào mùa mưa, đối với những chân đất trũng cần phải lên luống, đào mương, sẽ rảnh để tiêu thoát nước cho vườn cây.
- Vào mùa khô, việc cung cấp đủ nước sẽ giúp cây sinh trưởng và phát triển mạnh, tăng khả năng ra hoa, đậu quả và nuôi quả; lượng nước tưới và số lần tưới tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của mỗi vùng, thông thường từ 3-5 ngày tưới nước 1 lần, đảm bảo độ ẩm đất trên vườn ổn định từ 50-60%.
- Có nhiều phương pháp tưới cho cây: tưới tràn, tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa,... trong đó phương pháp tưới nhỏ giọt có nhiều ưu điểm và đem lại hiệu quả cao (như: tiết kiệm nước, đảm bảo độ ẩm đất, chi phí thuê mướn nhân công giảm và có thể kết hợp tưới với cung cấp chất dinh dưỡng thông qua hệ thống tưới).
- Kết hợp tưới phân theo hệ thống tưới tiết kiệm để giúp cây chanh dây hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả hơn.
2.7.3. Tạo hình, tạo tán
- Cắt tỉa và tạo tán:Sau khi trồng, cây sinh trưởng nhanh, dùng dây nilon buộc vào cột cho cây leo tới đầu giàn. Mỗi cây chọn nhánh khoẻ nhất để cho cây nhanh leo lên giàn, cắt bỏ các chồi mọc từ nách lá trên thân chính khi cây chưa lên giàn, chỉ chừa một số cành ở vị trí cách giàn khoảng 20 - 30 cm.
- Bấm ngọn: Khi cây phát triển cách giàn 10cm thì tiến hành bấm ngọn. Khi chồi mới xuất hiện, chọn 4 chồi cấp 1 mới, điều chỉnh theo 4 hướng chính của giàn. Giữ các cành cấp 2 phân bố đều theo các cành cấp 1 và độ dài cành nên cách mặt đất 20 - 25cm để tránh lây nhiễm nguồn bệnh từ đất.
- Cắt tỉa:Chanh dây sinh trưởng và phát triển rất mạnh, lượng sinh khối lớn nên cần thường xuyên cắt tỉa để giàn thông thoáng, tạo nhiều cành thứ cấp, đặc biệt trong mùa mưa cần hai tuần phải cắt tỉa 1 lần. Sau khi thu hoạch ta cắt bỏ hết để cho nhú đọt non và tiếp tục tạo tầng mới.
Chú ý: Dụng cụ cắt tỉa phải được sát trùng (Javel, NaClO, cồn 700) triệt để (trước và sau khi cắt, di chuyển từ cây này sang cây khác) nhằm hạn chế khả năng lây nhiễm bệnh virus. Thu gom, tiêu hủy các bộ phận đã cắt tỉa và vệ sinh vườn sạch sẽ
2.7.4. Tỉa trái
Sau mỗi đợt thu hoạch quả, cần cắt bỏ các cành thứ cấp đã mang quả ở vị trí cách điểm phân cành 15-20 cm để tạo ra nhiều cành thứ cấp cho quả đợt kế tiếp.
Sau một năm ra trái cần cắt, đốn xen kẽ các cành trên mặt giàn. Cắt toàn bộ các cành rủ xuống dưới giàn, cắt sát dây thép của giàn.
2.8. Phòng trừ sâu, bệnh hại
2.8.1. Quản lý dịch hại tổng hợp
- Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) cho cây chanh dây là cách tiếp cận bền vững nhằm kiểm soát sâu bệnh hại, ưu tiên giảm thiểu việc sử dụng thuốc hóa học, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người.
- Các nguyên tắc và biện pháp chính:
+ Canh tác: Chọn giống khỏe, sạch bệnh; chuẩn bị đất tốt (thoát nước, cân bằng pH, bón lót hữu cơ và Trichoderma); trồng mật độ hợp lý; tưới tiêu và bón phân cân đối; cắt tỉa cành thông thoáng; vệ sinh vườn.
+ Bảo vệ thiên địch: Tạo điều kiện cho các loài côn trùng có ích phát triển để kiểm soát sâu hại tự nhiên.
+ Theo dõi và phát hiện sớm: Thường xuyên thăm vườn để nắm bắt tình hình sâu bệnh, mật độ và mức độ gây hại.
+ Áp dụng tổng hợp các biện pháp:
+ Thủ công/Vật lý: Bắt sâu, ngắt ổ trứng, thu gom quả rụng, sử dụng bẫy dẫn dụ (pheromone, bẫy đèn).
+ Sinh học: Sử dụng các chế phẩm sinh học (ví dụ: nấm Trichoderma để trừ nấm bệnh đất) và lợi dụng thiên địch.
+ Hóa học (chỉ khi cần thiết): Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học một cách có chọn lọc và hợp lý (đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc, đúng cách), ưu tiên thuốc ít độc và luân phiên hoạt chất để tránh kháng thuốc.
2.8.2. Sâu hại
a) Nhệnđỏ:
- Đặc điểm gây hại: Nhện đỏ gây hại bằng cách hút dịch của mô tế bào lálàm cho mặt trên của lá bị vàng loang lổ, nếu mật độ cao làm lá bị xoăn lại, lá mau rụng và chậm ra lá non. Gặp điều kiện thuận lợisinh sản rất nhanh, làm chotừng mảng lớn của lábị vàng, khô, thậm chí toàn bộ lá bị khô cháy và rụng.Hoa bị thui chột không đậu trái được, trái non bị hại lốm đốm vàng và có thể bị rụng, gây thiệt hại lớn cho nhà vườn. Nhện đỏ thường phát sinh và gây hại nặng trong mùa khô nóng hoặc những thời gian bị hạn trong mùa mưa.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: cắt bỏ những lá có mật số nhện quá cao đã chớm bị vàng úa đem tiêu hủy để diệt nhện. Có thể dùng máy bơm nước có áp suất lớn xịt mạnh tia nước vào mặt dưới của lá để rửa trôi bớt nhện.
+ Biện pháp hoá học: do nhện đỏ có tính kháng thuốc rất mạnh nên khi phát hiện trên cây có nhiều nhện cần dùng luân phiên nhiều loại thuốc. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất sau đây: Abamectin; Emamectin benzoate; Pyridaben; Propargite… (sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn thuốc). Xịt ướt đều hai mặt của lá.
b) Bọ xít (Nezara viridula, Leptoglossus australis)
- Đặc điểm gây hại:Bọ xít gây hại bằng cách tấn công (chích hút) vào hoa, đọt non và quả non làm cho quả lốm đốm, nếu gây hại nặng làm cho quả rụng.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: vệ sinh vườn, dọn cỏ dại, phát quang bờ lô, bụi rậm, bón cân đối N-P-K, dùng vợt tay để bắt bọ xít vào lúc sáng sớm hay chiều mát. Kiểm tra vườn phát hiện và thu gom ổ trứng của chúng đem tiêu huỷ.
+ Biện pháp hóa học: nếu mật độ cao có thể tham khảo sử dụng luân phiên một số hoạt chất sau đâyAbamectin1.8%+Matrine 0.2%; Alpha-cypermethrin (min 90%); ChlorpyrifosMethyl (min 96%); Dimethoate (min 95%)…. (sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn thuốc).
c) Bọ trĩ (Thysanoptera sp)
- Đặc điểm gây hại: là loài gây hại dạng chích hút, chúng thường xâm nhập vào bộ phận hoa, lá, quả non để chích hút làm cho hoa khó thụ phấn, quả khó hình thành, gây hại trái làm trái méo mó, dị hình, bề mặt trái bị nám.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: hàng năm xới xáo, thu gom tàn dư thực vật trên đất để tiêu hủy, bón phân, làm cỏ... đúng yêu cầu kỹ thuật. Tưới phun trực tiếp vào các bộ phận bị hại khi bọ trĩ rộ có thể giảm đáng kể tác hại của bọ trĩ.
+ Biện pháp hóa học:có thể sử dụng hoạt chất Abamectin37g/l+ Azadirachtin 3 g/l (Vinup 40 EC); Azadirachtin(min 15%) (Minup 0.3EC) đã đăng ký để phòng trừ bọ trĩ trên cây chanh dây.
d) Bọ phấn (Bemisia tabaci)
- Đặc điểm gây hại: là loài gây hại dạng chích hút, chúng thường xâm nhập vào bộ phận hoa, lá, quả non để chích hút làm cho hoa khó thụ phấn, quả khó hình thành. Bọ phấn tập trung ở mặt dưới lá, chích hút nhựa làm cây suy yếu, bị héo, vàng lá.
Chất bài tiết của bọ phấn tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển. Bọ phấn thường gây hại trong mùa khô, chúng phân tán nhờ gió.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp cơ giới vật lý: dùng bẫy dính màu vàng để thu hút con trưởng thành.
+ Biện pháp hóa học:Hạn chế phun thuốc hóa học và bảo vệ các loài thiên địch có ích. Có thể tham khảo sử dụng thêm một số hoạt chất sau đây: Thiamethoxam, Dinotefuran; Abamectin;Citrus oil……… (sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn thuốc)
đ)Rệpcácloại:Có nhiều loại: Rệp sáp (Planococcus citri and P.kenya), Rệp muội (Aphis gossypi),Rệp đào (Myzus persicae) vàrệp vừng màu xanh quả đào (Myzus persicae)…
- Đặc điểm hại: Các loài rệp này gây hại phổ biến trên cây chanh dây, chúng gây hại bằng cách bám vào các bộ phận như: thân, lá, quả non, các khe cạnh giữa cuống quả, lá chúng hút nhựa để sống, làm giảm sự quang hợp của lá, làm cho lá, quả rụng bất thường. Nguy hiểm nhất là rệp sáp chích hút nhựa cây làm cây chậm phát triển, quả nhỏ. Chất bài tiết của rệp là môi trường cho nấm bồ hóng đen phát triển, bám đen cả cành lá và vỏ trái làm giảm giá trị sản phẩm. Hai loài rệp đào (Myzuspersicae)vàrệp muội (Aphis gossypii)đốitượng mangmột loài virusrất nguy hiểm đó là woodiness (PWV).
-Biệnphápphòng trừ:
+ Cắt tỉa những cành sâu bệnh, cành vô hiệu để giảm nơi sinh sống của rệp. Vệ sinh vườn, dọn sạch cỏ rác, lá cây mục ở xung quanh gốc để phá vỡ nơi trú ngụ của kiến, mùa nắng dùng vòi bơm nước phun vào chổ có nhiều rệp đeo bám có tác dụng rửa trôi bớt rệp, đồng thời tạo ẩm độ trên cây làmgiảmmật độ rệp.Kiểmtrađểphát hiện sựxuấthiện củarệp,nếu thấycó rệp dù với số lượng ít cũng phải diệt trừ ngay.
+ Sử dụng hoạt chất Emamectin benzoate (Map Winner 5WG) đã đăng ký để phòng trừ rệp trên cây chanh dây.
+ KhôngnênsửdụngliêntụcmộtloạithuốcBVTVnhiềulần/vụ,hoặcquacácnămliêntục,đểtránhhiệntượng"quenthuốc"củarệpsáp.
e)Ruồiđụctrái
- Đặc điểm gây hại:có 2 loài ruồi đục trái gây hại trên chanh dây: Bactrocera cucurbitae và Ceratitis capitata. Trái non bị hại nhăn nheo và rụng sớm, vết thương do ruồi đục sẽ làmgiảmgiá trị thương mại của quả, sự tác động và gây hại của ruồi đục trái trên chanh dây thường không nghiêm trọng như trên các cây trồng khác vì vậy nếu gây hại ở mức độ nhẹ thì chưa cần phòng.
-Biệnphápphòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: vệ sinh vườn, cắt tỉa lá già, bệnh, thu gom những trái rơi rụngđemchônsâu có khửtrùngbằngvôi. Thuhái tráisớmhơn bìnhthường, không để trái chín quá lâu trên cây. Sử dụng biện pháp bao trái bằng túi giấy hoặc báo trước khi trái chín để hạn chế trưởng thành đẻ trứng trên trái. Có thể dùng chấtpheromondẫndụvớitênthương mại làVizubon-Dđể làmbẩydẫndụ vàtiêudiệtcontrưởngthànhđực(conruồiđực).Biệnphápnàymuốncókếtquả cao nên vận động nhiều nhà vườn cùng tiến hành đồng loạt trên diện rộng.
+ Biện pháp hoá học: sử dụng Protein thủy phân trộn chất độc làm bả diệt ruồi đục trái.Mỗi tuần phun 1 lần lúc 8-10 giờ sáng, ruồi sẽ đến ăn và chết làm giảm được số lượng nên không gây hại được.
g)Sâuđụcthân:
- Đặcđiểmgâyhại: sâutrưởngthànhtìmnhữngkẽnứtcủa thân cây để đẻ trứng, sâu non nở ra đục vào thân cây tạo thành đường vòng quanh thân, dần dần đục sâu vào trong thân làm rỗng thân. Khi cây vừa bị sâu hại, lá non ở đầu nhánh có màu xanh hơi đậm, hơi xoăn và nhỏ hơn lá bình thường. Cây bị hại nặng thì lá vàng và héo, vỏ thân cây chanh dây có dấu hiệu nứt nẻ.
-Biệnphápphòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: cần tạo hình và cắt tỉa nhánh được tiến hành thường xuyên. Sau thu hoạch cắt hết tất cả các cành trên giàn đã cho trái, để lại thân và các cành từ mặt đất tới giàn.
+ Biện pháp vật lý: quan sát kỹ các thân cây nếu có vết đục của sâu đục thân thì dùng dụng cụ rạch phần thân để bắt sâu, sau đó dùng bao nilon sạch buộc lại vết đạ rạch, kể cả vết đục.
+ Biện pháp hoá học: đối với cây bị hại nhẹ dùng thuốc phun kỹ lên thân cây, tham khảo một số hoạt chất như: Abamectin;Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Cypermethrin….… (sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn thuốc).
2.8.3. Bệnh hại
a)Bệnhdovi khuẩn:
*Bệnhđốmdầudovikhuẩn:(Pseudomonaspassiflorae)
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Bệnh gây hại trên lá, thân và quả dẫn đến sự mất mùa thậm chí có thể gây chết cây. Trên lá bệnh tạo nên những vết thương từ mầu o liu tới màu nâu, thường bao quanh bởi quầng sáng màu vàng nhạt, bệnh nặng dẫn đến rụng lá, trên thân còn non, dấu hiệu đầu tiên của sựxâm nhiễm là những vết lõm màu xanh đen, mọng nước. Sau sẽ phát triển thành màu nâu sáng, có viền rõ ràng với phần không bị bệnh.
+ Trên thân gỗ già, triệu chứng ban đầu là những đốm nhỏ hình tròn có màu xanh đen, hơi lõm xuống, sau đó lan rộng ra và có màu nâu tối, những vết bệnh này bao quanh chồi non và gây chết cây. Những dấu hiệu đầu tiên của sự nhiễm bệnh trên trái là trái nhỏ, màu xanh tối, vết bệnh phát triển thành những vòng tròn, thô nhám, mảng lốm đốm mọng nước, làm trái rụng sớm và thối trái. Đốm dầu thường xảy ra vào mùa thu và mùa khô.
*Bệnhhéorũvikhuẩn:(Pseudomnassyringae)
- Triệu chứng gây bệnh: loài vi khuẩn này có mối liên hệ mật thiết đối với mầm bệnh của vi khuẩn gây bệnh đốm dầu. Triệu chứng của 2 loại bệnh này tương tự nhau, và cách thức phòng trừ cũng giống nhau. Nếu quản lý tốt bệnh đốm dầu thì bệnh héo vi khuẩn sẽ ít có khả năng xuất hiện.
- Biệnphápphòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: sau khi thu hoạch, thu gom sạch tàn dư của cây, đặc biệt là những cây bị bệnh và cỏ trên vườn đem tiêu hủy để hạn chế nguồn bệnh ban đầu trên đồng ruộng cho vụ sau. Không nên trồng dày để vườn luôn thông thoáng, giảm bớt độ ẩm trong ruộng. Bón phân cân đối giữa đạm, lân và kali, tăng cườnthêmphân hữu cơ, vôi bộtvà phân kalihoặc trotrấu cũng có tácdụng làm giảm tác hại của bệnh. Kiểm tra vườn để phát hiện và nhổ bỏ sớm những câybị bệnhđemtiêuhủyđểtránh lâylan racâykhác.Sau khinhổbỏbón vôi bột vào chỗ vừa nhổ để khử trùng đất.
+ Biệnpháphoáhọc:thamkhảosửdụngmột trongnhữngloạithuốc cócác hoạt chất:Oxytetracycline+ Streptomycin;Streptomyceslydicus,Metalaxyl-M, …. phun xịt khi cây chớm bệnh.
b)Bệnhđốmnâu:(Alternariapassiflorae)
-Triệu chứng gây bệnh: đây là một bệnh nghiêm trọng, ảnh hưởng đến lá, thân và quả, xuất hiện vào mùa xuân và đầu mùa hè.
Trên lá, đầu tiên xuất hiện những đốm màu nâu nhỏ, sau đó lan rộng ra thànhđốmlớncótâmmàusángvàcóhìnhdạngbấtđịnh.Trênthân,vếtbệnhcó hình thon dài với màu nâu đen, thường xuất hiện gần nách lá hoặc gân lá (do bị tổn thương cơ giới, cây bị chảy nhựa). Khi vết bệnh bao quanh thân cây thì chồi non sẽ bị héo, quả teo lại và rụng sớm. Trên quả, vết bệnh đầu tiên chỉ nhỏ như mũi kim sau lan rộng thành những vòng tròn lớn với vết nâu lõm có tâm màu nâu. Dần dần phần vỏ quả xung quanh vết bệnh bị nhăn nheo và quả bị rụng.
-Biệnphápphòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: vệ sinh vườn, loại bỏ lá bệnh và những cành kém hiệu quả để cây thông thoáng.
+ Biện pháp hóa học: Tham khảo sử dụng các thuốc hoạt chấtPropiconazoleAzoxystrobin;Chitosan;Chlorothalonil; Fosetyl-aluminium+Mancozeb; Hexaconazole….để phòng trừ. Chúýphunvàonhữngđợtláravàođầumùa mưa.
c)Bệnhđốmxám:(Septoria passiflorae)
-Triệu chứng gây bệnh: bệnh tấn công các bộ phận lá, thân, và quả, gây hại nặng có thể làm rụng lá, rụng quả sớm dẫn đến giảm năng suất. Bệnh thường xuất hiện trong suốt mùa hè và mùa thu.
Trên lá, vết bệnh thường không có hình dạng cố định, chỉ là những đốm nhỏ màu nâu sáng, nhanh chóng lan rộng và làm lá rụng. Trên thân, vết bệnh xuất hiện tương tự như ở trên lá nhưng có đặc điểm vết bệnh thường lõm sâu vào trong thân. Trên quả, vết bệnh đầu tiên cũng là những đốm nhỏ, tương tự như trên lá và thân. Sau đó những đốm này tạo thành những vết thương tổn lớn gây nên hiện tượng rụng lá và quả.
- Phòng trừ bằng biện pháp hoá học: tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chấtChitosan; Chitosan+Oligo-Alginate; Eugenol; Trichodermaspp; ….. (sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn thuốc).
d)Bệnhthốihạch:(Sclerotiniasclerotiorum)
-Triệu chứng gây bệnh: trên thân, vết bệnh lan rộng làm bong lớp vỏ, làmgãy đổ chồi non. Các hạch nấm màu đen, cứng hình thành là nguyên nhân làmcho bệnh lây lan từ vụ nàyqua vụ khác và thường ảnh hưởng đến chồi ngọn. Loài nấm này cũng có thể gây hại trên trái, vết bệnh lan nhanh và có màu nâunhạtbaophủtoànbộtrái,cuốicùngtrêntráisẽhìnhthànhcáchạchnấmmàuđen có nhìn thấy bằng mắtthường, lúc này trái sẽ bị rụng. Bệnh này pháttriển thuận lợi trong điều kiện ẩm ướt kéo dài và nhiệt độ từ 15 -200C.
-Biệnphápphòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: vệ sinh vườn trồng, tiêu huỷ tàn dư cây bệnh. Trồng mật độ hợp lý, tỉa bỏ bớt lá già, lá gốc để tạo độ thông thoáng, tránh ẩm độ cao trong đất.
+ Biện pháp hóa học: Có thể tham khảo dùng một số loại thuốc có hoạt chấtTrichoderma viride; Trichoderma spp…… (sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn thuốc)
e) Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides/Cephaleuros virescen)
- Triệu chứng gây bệnh: trên lá: lá xuất hiện những hình dạng bất định, màu nâu sẫm, kích thước vết bệnh từ 1 – 4mm. Trên chồi non: Chồi non có màu nâu, chậm phát triển, nhanh chóng khô héo khi gặp trời nắng hoặc thối ngọn khi gặp trời mưa. Trên hoa: Hoa của cây trồng xuất hiện những đốm đen, sau đó hoa bị rụng dần. Trên quả: Vết bệnh là những đốm tròn có màu vàng nhạt, xung quanh vết bệnh có viền màu xanh xám, kích thước vết bệnh nhỏ từ 1 – 3mm. Khi vết bệnh lan rộng thì vết bệnh thường lan ra cả quả với mức độ lớn gần như bao phủ toàn bộ quả. Khi gặp thời tiết ẩm sẽ tạo điều kiện cho các bào tử gây bệnh phát triển mạnh, cây bị thối rửa.
- Biệnphápphòng trừ:
+ Cắt, tỉa những bộ phận của cây bị bệnh như: lá, ngọn cây, cuống, quả… đem đi tiêu hủy, rắc vôi để tránh mầm bệnh lây lan.
+ Thường xuyên dọn dẹp cỏ, tạo môi trường thông thoáng, có đủ nắng, không bị quá dư thừa ẩm.
+ Thường xuyên kiểm tra vườn cây, xem xét, ghi nhận các dấu hiệu bị hại để kịp thời xử lý.
+ Biện pháp xử lý bệnh: Ngay khi phát hiện bệnh cần cắt tỉa nhổ bỏ những cây bị bệnh và đem đi tiêu huỷ để ngăn chặn tối đa nguy cơ lây lan sang cây khoẻ mạnh. Hiện nay, thuốc BVTV có hoạt chất Chlorothalonil (Daconil 75WP, 500 SC) đã đăng ký phòng trừ bệnh thán thư trên cây chanh dây.
g)Bệnhhéorũ:(Fusariumavenaceum,Giberella,baccata,Gibberella saubinetii)
-Triệu chứng gây bệnh:trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, nấm bệnh phát triển nhanh, vết bệnh có thể xuất hiện trên cả cổ rễ và thân. Đầu tiên cây có biểu hiện vàng lá sau đó thân lá và trái héo rũ xuống và chết dần. Ở phần thân,nơitiếpxúcvớimặt đất,cácbó mạch dẫnbịnấmtấn côngtạocácvếtbệnh nâu đen vòng quanh thân làmcho nước và dinh dưỡng không thể truyền được từ rễ lên, gây hiện tượng héo rũ thân lá dẫn đến chết cây.
-Biệnphápphòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: hạn chế việc tạo vết thương cho cây trong quá trình chăm sóc, bón phân, tỉa cành, làm cỏ, giữ cho vườn luôn sạch sẽ. Phòng trừ tốt các loại bệnh do nấmvà các loài sên, nhớt.Phần gốc câycần được bảo vệ chống lại ảnh hưởng của thuốc diệt cỏ và đặt các viên thuốc để dẫn dụ sên nhớt đếntiêu diệt. Những cây bị bệnh cần được di chuyển cẩn thận, đem phơi khô và đốt.
+ Biện pháp hoá học: có thể tham khảo sử dụng Trichoderma 3,2 x 109bào tử/g; sử dụng 3kg/1000m2 trộn với phân chuồng hoặc phân vi sinh bón vào đất.
h)Bệnhthốirễ
-Triệu chứng gây bệnh: gây ra bởi Phytophthora cinnamomi thường hoạt động vào mùa hè và mùa thu và Phytophthora megasperma thường hoạt động mùa xuân. Cả 2 loại nấm nàyđềutấn côngtrêncâytrưởngthànhngoài vườnlẫn trongvườn ươmgâychết cây, nhưng tác hại chính của chúng là nguyên nhân mở đường cho sự tấn công của nấm Fusarium và chết cây do thối ngọn. Phytophthora cinnamomi là một loại nấmrễ gây bệnh tắc mạch dẫn và gây chết đối với nhiều loài thực vật. Bệnh phát triển mạnh trong môi trường ẩm và ký sinh trên rễ và mô thân gần gốc. Bệnh làm suy yếu hoặc giết chết cây vì gây cản trở việc vận chuyển nước và dinh dưỡng trong cây. Trên cây trưởng thành xuất hiện các triệu chứng cháy lá. Lá chuyển sang màu xanh nhạt rồi chuyển sang màu đồng. Trên trái xuất hiện các vết bệnh lớn, màu xám. Hoa và trái xanh của cây bệnh rất dễ bị rụng.
-Biệnphápphòng trừ:Điều chỉnh chế độ tưới nước cho phù hợp cũng là biện pháp để giảm sự tấn công của bệnh. Có thể tham khảo một số hoạt chất như: Trichoderma viride, Bacillus subtilis; Chitosan; CuprousOxide….(sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn thuốc).
i)Virus:
-Triệu chứng gây bệnh: trong các loại bệnh gây hại cây chanh dây thì bệnh do virus gây ra là dịch hại nguy hiểm và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất; bệnh thường không làm chết cây nhưng cây bị bệnh phát triển kém, trái ít, rụng nhiều, tỷ lệ trái cho thu hoạch thấp; bệnh virus có thể xuất hiện ngay khi cây còn nhỏ (2 - 4 tháng tuổi) hoặc khi cây đã cho thu hoạch. Hiện nay, đã phát hiện được 5 loài virus gây hại trên cây chanh dây với các triệu chứng đặc trưng:
- Cucumber mosaic virus (CMV): lá bị khảm vàng, gây vết đốm trên lá và trên quả.
- East Asian Passiflora virus (EAPV): lá bị khảm vàng, quăn queo biến dạng, quả cũng bị méo mó biến dạng. Virus EAPV có 2 chủng:
+ Chủng IB gây triệu chứng quả biến dạng nhưng không hóa gỗ;
+ Chủng AO gây triệu chứng quả biến dạng, hóa gỗ, dễ nhầm lẫn với bệnh virus gây hóa gỗ Passionfruit Woodiness virus (PWV).
- Euphorbia leaf curl virus (EuLCV): lá vàng, lốm đốm, các lá non hơi cong.
- Papaya leaf curl Guangdong virus (PaLCuGDV): lá xoăn, vàng, lốm đốm, các lá non hơi cong.
- Passionfruit Woodiness virus (PWV): lá bị khảm với sự xuất hiện của các đốm vòng, quả có hiện tượng bị hóa gỗ hoặc hóa bần, vỏ dày và cứng.
Virus gây hại trên chanh leo với nhiều dạng biểu hiện bệnh khác nhau, phụ thuộc vào chủng loại virus gây hại và khả năng nhiễm một hay nhiều chủng virus trên cùng mẫu bệnh.
- Sựlantruyềnbệnh:
Các loài virus gây hại chanh dây lây nhiễm chủ yếu qua đường nhân giống vô tính (giâm, chiết, ghép cành từ các cây bị bệnh), dụng cụ cắt tỉa khi nhân giống hoặc trong quá trình canh tác, côn trùng môi giới truyền bệnh như rệp muội Myzus persicae, Aphis gossypii,Aphis fabae và bọ phấn Bemisia tabacii. Riêng virus Cucumber mosaic virus (CMV) có thể lan truyền qua hạt giống.
- Cucumber mosaic virus (CMV): do rệp muội (rầy mềm) truyền virus gây bệnh, phổ biến là các loài: Myzus persicae, Aphis fabae, Aphis craccivora,…(truyền không bền vững, có thể truyền qua hạt giống). Cây ký chủ gồm ớt, dưa chuột, cà rốt, thuốc lá, đậu tương, cà chua, khoai tây, chanh leo, …
- East Asian Passiflora virus (EAPV): do rệp muội truyền virus gây bệnh phổ biến là các loài: Aphis gossypii, Hyperomyzus lactucae, Myzus persicae truyền bệnh (truyền không bền vững). Cây ký chủ là chanh leo.
- Euphorbia leaf curl virus (EuLCV): do bọ phấn trắng (Bemisia tabaci) truyền virus gây bệnh (truyền bền vững). Cây ký chủ gồm đu đủ, trạng nguyên, thuốc lá, chanh leo.
- Papaya leaf curl Guangdong virus (PaLCuGDV): do bọ phấn trắng (Bemisia tabaci) truyền virus gây bệnh (truyền bền vững). Cây ký chủ gồm đu đủ, thuốc lá, chanh leo.
-Biệnphápphòngtrừ:
+Sử dụng giống sạch bệnh:sử dụng cây giống có nguồn gốc rõ ràng, không bị nhiễm virus gây bệnh. Không nhân giống (giâm, chiết, ghép) từ những cây có triệu chứng bệnh, ở những khu vực đã nhiễm bệnh.
+ Biện pháp canh tác
Đất trồng: xử lý hố trước khi trồng bằng vôi bột, bón lót bằng phân hữu cơ và chế phẩm sinh học trước khi trồng.
Khử trùng dụng cụ cắt tỉa khi nhân giống hoặc trong quá trình canh tác bằng cồn nước javen 1% hoặc cồn.
Bảo vệ cây con không bị côn trùng môi giới xâm nhập truyền bệnh virus bằng lưới chuyên dụng hoặc trồng trong nhà lưới chống côn trùng (lưới mắt nhỏ 90-120 ô/cm2).
Tạo tán, tỉa cành để vườn thông thoáng; bón phân trung vi lượng kết hợp phun phân bón lá giúp cây phát triển ngọn, thân cành khỏe và chống chịu sâu bệnh.
Không trồng luân canh, xen canh chanh leo với các cây là ký chủ của virus và môi giới truyền bệnh như dây nhãn lồng, rau muối, bầu bí, dưa chuột, mướp đắng, su su, cà tím, ớt, cây thuốc lá, thuốc lào, cây đu đủ, … trên khu vực trồng chanh leo.
Thường xuyên kiểm tra để phát hiện sớm, thu gom và tiêu hủy triệt để các bộ phận của cây bị nhiễm bệnh, loại bỏ và thay thế các cây có biểu hiện của bệnh virus như xoăn, khảm vàng lá và ngọn.
Sau thu hoạch cắt toàn bộ các cành trên mặt giàn đã cho quả. Để lại thân và các cành từ mặt đất tới giàn. Khi chồi mới nhú ra từ 2 – 3 cm cần phun thuốc phòng, trừ côn trùng môi giới để bảo vệ các chồi non. Phải khử trùng dụng cụ cắt tỉa bằng nước javen 1% hoặc cồn trước khi chuyển sang cắt tỉa cây khác. Thu gom cành, lá, quả sau khi cắt tỉa đem ủ đống hoặc chôn lấp cho hoai mục.
+ Phòng chống côn trùng môi giới truyền bệnh
Đối với vườn ươm cây chanh leo giống: nhân giống trong nhà lưới sạch côn trùng môi giới (lưới mắt nhỏ 90-120 ô/cm2) là biện pháp hiệu quả nhất để bảo vệ cây con khỏi các côn trùng gây hại, đặc biệt là các môi giới truyền virus.
+Đối với cây mới trồng: ngăn chặn côn trùng môi giới từ khi mới trồng tới khi cây chuẩn bị lên giàn bằng cách quây lưới mắt nhỏ (mắt nhỏ 90-120 ô/cm2), may thành hình trụ dài 2,5 m x rộng 0,7 m, kín đầu phía trên, có cửa bên sườn để đóng, mở khi cần chăm sóc.
Đối với cây ngoài vườn: phòng trừ côn trùng môi giới truyền bệnh bằng các biện pháp đặt bẫy dính vàng, hoặc dùng giấy bạc tạo ánh sáng xua đuổi côn trùng chích hút, sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ.
+ Biện pháp hoá học
Phun phòng trừ các môi giới truyền virus như rầy, rệp, bọ phấn và côn trùng khác ở giai đoạn cây con và khi cây ra chồi non. Sử dụng các thuốc BVTV có hoạt chất như: Abamectin37g/l+ Azadirachtin 3 g/l (Vinup 40 EC); Azadirachtin(min 15%) (Minup 0.3EC) đăng ký phòng trừ bọ trĩ; Emamectin benzoate (Map Winner 5WG) đăng ký phòng trừ rệp. Liều lượng, nồng độ và phương pháp sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.
k)Tuyến trùng:
-Triệu chứng gây bệnh: Chanh dây có 4 loài tuyến trùng gâyhại gồmPratylenchus sp; Scutellonema truncatum; Helicotylenchus sp; Meloidogyne javanica. Tuyến trùng không nhìn thấy được bằng mắt thường, kích thước thấy được khi được soi qua kính hiển vi điện tử. 4 loài tuyến trùng đều tấn công bộ phận rễ cây chúng xâm nhập vào rễ theo vết thương cơ giới, hệ thống mạch dẫn của rễ như hệ thống dẫn nước, dinh dưỡng. Khi chúng xâm nhập vào bộ phận rễ, chúng hút dinh dưỡng để sống, tuyến trùng tấn công vào rễ làm cho bộ rễ phình to lên ở những đoạn có thành phần Kitin, xenlulo kém, khi bộ rễ phình to sẽ làm tắc hệ thống dẫn nước, dinh dưỡng sẽ làm cho cây chanh dây héo một cách bất thường, làm lá vàng, quả non rụng giống như triệu chứng thiếu nước.
-Biệnphápphòng trừ:
Biện pháp canh tác: bón phân cân đối, chọn giống tốt, chống chịu với sâu bệnh… vệ sinh vườn trồng ngắt tỉa cành lá, tạo độ thông thoáng cho cây.
Biện pháp hóa học: hiện nay, thuốc có hoạt chất Clinoptilotite (Map Logic 90WP) đã đăng ký phòng trừ tuyến trùng trên cây chanh dây xử lý theo liều lượng khuyến cáo.
IV. Thu hoạch, sơ chế, chế biến và bảo quản
1. Thu hoạch
Chanh dây từ lúc đậu trái đến khi thu hoạch khoảng 3 tháng. Trái chanh dây chín là những trái già tự rụng hoặc khi thấy vỏ trái đãchuyển sang màu tím là thu hái được.
Khi thu hoạch không được để trái bị trầy xước, giảm giá trị thương phẩm.
2. Sơ chế
Sau khi thu hoạch, vận chuyển ngay vào khu sơ chế hoặc nơi thoáng mát để phân loại, đóng gói và vận chuyển đến nơi tiêu thụ sớm nhất.
3. Bảo quản
Đốivới trái ăntươibảoquảntrongthùnggiấycarton hoạcsọttre theo yêu cầu của người mua hàng.
Đối với trái dùng để múc dịch quả thủ công làm nguyên liệu, đựng trong xô nhựa có lót bịch ny lông, dịch quả được cột chặt trong bịch ny lông và vận chuyển đến nơi chế biến trong ngày. Nếu để lâu phải có kho lạnh bảo quản.