Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên đậu.
Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.
| Dịch hại | Số thuốc đã đăng ký |
|---|---|
| Sâu xanh | 1 |
| Lở cổ rễ | 1 |
| Thối do vi khuẩn | 1 |
(Ban hành kèm Quyết định số /QĐ-UBND, ngày / /2025
của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1. Thời gian kiến thiết cơ bản (KTCB): thời gian từ lúc trồng đến lúc thu lứa lá đầu tiên từ 4 đến 6 tháng.
2. Thời kỳ kinh doanh:12-14 năm, tính từ tháng 7.
3. Chu kỳ kinh doanh: chu kỳ kinh doanh khoảngtừ 13-15 năm, phụ thuộc vào thực tế kỹ thuật thâm canh.
4. Mục Tiêu năng suất:20-25 tấn/ha/năm.
II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1.Nhiệt độ:nhiệt độ thích hợp 24-320C, khi nhiệt độ trên 400C một số bộ phận của cây dâu bị chết, ở nhiệt độ 00C cây dâu ngừng sinh trưởng, nhiệt độ không khí tăng trên 120C thì cây dâu bắt đầu nảy mầm.
2. Nước và ẩm độ không khí:là cây trồng tương đối chịu hạn, nhưng nếu thiếu nước thì cây ngừng sinh trưởng. Trung bình cứ 100 cm2 lá trong một giờ thì phát tán 1,8 gam nước. Điều đó chứng tỏ cây dâu có nhu cầu nước rất lớn. Ẩm độ thích hợp cho cây dâu sinh trưởng từ 70-80%.
3.Ánh sáng:là loại cây trồng ưa ánh sáng, năng suất chất lượng lá có quan hệ mật thiết với điều kiện chiếu sáng. Số giờ chiếu sáng 10-12 giờ/ngày là tốt nhất. Thiếu ánh sáng lá dâu mỏng, thân mềm yếu, chất lượng lá dâu kém. Cây dâu có thể hấp thu ánh sáng có độ dài từ 400-800µ.
4.Đất đai:có khả năng thích ứng tốt với nhiều loại đất, tuy nhiên để có năng suất chất lượng lá tốt và kéo dài chu kỳ kinh doanh, cần chọn đất có bề dày tầng canh tác >1m, pH từ 6,5-7,0. Tuy nhiên cây dâu có khả năng thích ứng với pH từ 4,5-9,0. Cây dâu chịu mặn kém, ở những nơi có độ mặn thấp < 0,2% cây sinh trưởng tốt. Độ mặn ≥1% cây sẽ chết.
II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1.Giống và tiêu chuẩn cây, hom dâu giống
1.1. Giống
Một số giống dâu đang trồng phổ biến tại Lâm Đồng là giống bầu đen, giống S7-CB, giống VA-201, tổ hợp lai TBL-03, giống VA-186, giống dâu Sa nhị luân,...
Cây dâu có thể trồng bằng hạt (nhân giống hữu tính) hoặc trồng bằng cách giâm hom (nhân giống vô tính).
1.2. Tiêu chuẩn cây, hom dâu giống: tuổi cây trong vườn ươm 60-70 ngày trở lên, chiều cao cây 30cm trở lên, đường kính thân cây con: 0,02cm trở lên, cây dâu không bị sâu bệnh, không lẫn giống.
Chú ý:trước khi nhổ cây 15 ngày không được bón đạm để cứng cây.
Tiêu chuẩn hom dâu giống: hom dâu giống phải đạt từ 8 tháng tuổi trở lên, đường kính hom từ 0,6-1cm, không có nguồn nấm bệnh. Không bị lẫn giống.
Chọn hom ở những ruộng dâu tốt có tuổi cành từ 8 tháng đến 1 năm, không sâu bệnh, đường kính cành từ 0,6-1cm là tốt nhất, chặt bỏ phần ngọn. Nếu trồng dâu cắm đứng hom chặt dài 20-30cm, hom phải có từ 3 mắt trở lên, chặt vát 2 đầu cách mầm 2cm, không dập nát, bó lại theo một phía ngọn. Hom chặt xong nên trồng ngay cần phải bảo quản cẩn thận không bị héo. Phương pháp bảo quản tốt nhất là đào hố sâu khoảng 40cm, dài rộng tùy theo số lượng hom, hom được xếp quay ngọn lên phía trên, phủ cỏ rác và được tưới nước thường xuyên có thể bảo quản được 25 ngày. Không nên trồng những hom đã nẩy mầm.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1 Thời vụ trồng
Thời vụ trồng tốt nhất ở Lâm đồng là đầu mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 5 dương lịch hoặc cuối mùa mưa từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11. Nếu trồng bằng cây con được nhân giống trong vườn ươm thì tốt nhất là tháng 5 để tránh phải tốn công tưới nước.
2.2 Mật độ trồng
Tùy thuộc loại đất, giống dâu, phương thức canh tác và điều kiện đầu tư thâm canh mà xác định mật độ trồng hợp lý, thông thường mật độ trồng hàng cách hàng 1,2-1,5m, cây cách cây 0,2-0,3m, khoảng 42.000 cây/ha.
2.3Chuẩn bị đất
- Cây dâu có thể trồng được trên nhiều loại đất nhưng thích hợp nhất là đất bãi ven sông, đất đồi thấp, thoát nước tốt, không bị ngập úng lâu ngày, có độ pH từ 5 – 8. Không trồng dâu ở gần các khu công nghiệp hoặc trồng xen kẽ với các loại cây trồng khác vì khi xử dụng hoa chất, thuốc trừ sâu cho các cây trồng đó sẽ ảnh hưởng đến lá dâu nuôi tằm.
- Thiết kế vườn dâu: chọn đất bằng, vùng đồi có độ dốc nhỏ hơn 150. Đất dốc dưới 60, dốc cục bộ 80 thiết kế hàng thẳng song song với đường bình độ chính. Đất dốc trên 60 thiết kế hàng dâu theo đường đồng mức, làm gờ tầng, trong quá trình chăm sóc dần dần sẽ tạo thành các bậc thang hẹp để hạn chế xói mòn.
- Đất được cày sâu 35-40cm trước khi trồng dâu 25-30 ngày. Những nơi mới khai hoang cần gom sạch rễ cây, cỏ dại. Sau khi cày đất và thiết kế lô thửa, tiến hành đào rãnh, rạch hàng, rộng 0,3-0,5m; sâu 0,35-0,4m và khoảng cách giữa các hàng là 1m. Vùng đồi núi chú ý rạch hàng theo đường đồng mức, vùng ven sông rạch hàng xuôi theo dòng nước chảy. Nếu trồng dâu bụi tốt nhất là đào hố kích thước 40x40x40cm, lấy đất mặt để riêng sau này đưa xuống hố trồng.
- Bón lót trước trồng: tùy theo chất đất tốt hay xấu mà quyết định lượng phân bón lót. Những vùng đất bạc màu cần phải kết hợp cải tạo đất trước khi trồng bằng cách bón vôi, lân, phân hữu cơ vi sinh. Đối với những vùng đất nghèo dinh dưỡng lượng bón lót 15-20 tấn phân hữu cơ vi sinh, phân lân nung chảy 700 kg, 1000 kg vôi cho 1 hecta.
- Cách bón: ngay sau khi đào rãnh cho phân hữu cơ, lân, vôi và một phần đất vào rãnh, trộn đều sau đó phủ thêm một lớp đất khoảng 5cm ở trên mặt và tiến hành trồng. Trong trường hợp phân chưa hoai mục, sau khi trộn phân 10-15 ngày thì mới tiến hành trồng.
2.4. Kỹ thuật trồng
- Trồng dâu bằng hom: cắm hom xiên áp dụng với đất có tỉ lệ sét cao và đất ẩm, cắm hom xiên 450 cắm sâu ¾ chiều dài hom vào trong đất – ¼ hom trên mặt đất. Cắm thẳng đứng áp dụng đất đồi có độ ẩm kém cắm hom thẳng đứng trong đất chiều dài hom được chôn trong đất chỉ chừa 1 mắt trên mặt đất.
- Trồng dâu bằng cây con: khi đặt cây dâu không để rễ cây tiếp xúc trực tiếp với lớp phân bón ở rãnh, giữ cho rễ cây dâu con thẳng, không bị cuộn lại, lấp đất kín phần cổ rễ, nén chặt đất xung quanh gốc.
Chú ý:khi lấp đất xuống rãnh chỉ lấp 2/3 chiều sâu của rãnh, sau khi đặt cây dâu xuống rãnh giữ cho cây thẳng, lấp tiếp phần đất còn lại sao cho luống dâu cao hơn rãnh 10-15cm để khi mưa không bị đọng nước ở gốc.
-Chăm sóc dâu trồng mới: sau khi trồng 10-15 ngày, hom bắt đầu nẩy mầm, tưới nước và làm cỏ thường xuyên tránh va chạm vào cây khi làm cỏ. Sau trồng 2-3 tháng nên trồng dặm để đảm bảo mật độ, có thể trồng dặm bằng hom hoặc cây con, tốt nhất là dặm bằng cây con.
Định hình cây khi hái lá: sau trồng mới 4-6 tháng sau có thể thu hái lá nâng dần, không nên tận thu. Tỉa để mỗi gốc từ 2 -3 thân chính, thường xuyên tỉa cành cấp 2.
2.5. Phân bón và kỹ thuật bón phân
Bảng 1. Lượng phân bón cho cây dâu tằm (kg/ha)
Tuổi cây | Phân nguyên chất | Phân thương phẩm | ||||
N | P2O5 | K2O | Ure | Super lân | Kali clorua | |
Năm 1 (giai đoạn kiến thiết cơ bản) | 140 | 100 | 150 | 300 | 600 | 250 |
Từ năm thứ 2 trở đi (giai đoạn kinh doanh) | 230 | 130 | 180 | 500 | 800 | 300 |
- Cách bón:phân bón cho dâu cần chia làm nhiều lần để tăng hiệu suất sử dụng phân bón. Sau khi bón phân, nên tưới nước 1-2 lần để cây dễ hấp thụ.
*Thời kỳ kiến thiết cơ bản:
Sau trồng 1 tháng bón đợt đầu tiên, định kỳ 1-1,5 tháng bón một lần
* Thời kỳ kinh doanh:
Phân hữu cơ: liều lượng bón hàng năm khoảng 15 – 20 tấn phân chuồng hoai hoặc 1.500 kg phân vi sinh, chủ yếu bón trước hoặc sau khi thu hoạch 15 ngày.
Phân vô cơ: theo nguyên tắc mỗi lứa hái một lần bón.
- Bón đợt 1: sau đốn một tháng với liều lượng 100 kg phân urê + 200 kg super lân + 55 kg kali/ha.
- Bón đợt 2: ngay sau thu hoạch lứa thứ 2 với 140 kg phân urê + 200 kg super lân + 75 kg kali/ha
- Bón đợt 3: ngay sau thu hoạch lứa thứ 4 với 160 kg phân urê + 200 kg super lân + 95 kg kali/ha.
- Bón đợt 4: ngay sau thu hoạch lứa thứ 6 với 100 kg phân urê + 200 kg super lân + 75 kg kali/ha.
2.6. Chăm sóc
2.6.1 Làm cỏ
Ruộng dâu mới trồng cây còn nhỏ, sinh trưởng chậm, cỏ dại có điều kiện phát triển nhanh, cạnh tranh ánh sáng, thức ăn với cây dâu. Cỏ dại phát triển còn là nơi cho sâu bệnh trú ngụ, phát sinh, vì vậy cần chú ý làm cỏ kịp thời cho ruộng dâu mới trồng, kết hợp làm cỏ và xới xáo đất để giữ ẩm, tạo thông thoáng cho cây dâu sinh trưởng phát triển tốt.
Tùy điều kiện từng nơi có thể làm cỏ gốc 6 lần, cỏ giữa hàng 2 lần kết hợp với việc dùng thuốc trừ cỏ có hoạt chất như: Glufosinate ammonium…nên phun vào lúc cỏ đang phát triển, lúc trời nắng và xới xáo gốc 1-2 lần/năm.
2.6.2 Tưới nước
- Nhu cầu nước của cây dâu:dâu là loại cây trồng tương đối chịu hạn, nhưng không có nghĩa là thiếu nước không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây. Vìnước là điều kiện sinh tồn của cây, nước cần thiết cho các hoạt động quang hợp, vận chuyển, trao đổi chất… 1kg lá dâu trong một ngày tiêu hao 8,46 lít nước để phát tán. Lượng nước cần cho cây dâu phát tán và lượng nước chứa trong cây đều lấy từ đất. Do đó, nước trong đất không đủ sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý bình thường của cây.
- Kỹ thuật tưới nước:để xác định nhu cầu cần tưới nước của cây dâu có thể dựa vào những căn cứ sau: quan sát trạng thái sinh trưởng của cây. Khi thấy sinh trưởng của cây yếu dần, 2 - 3 lá ở phía ngọn héo và co lại, một số lá phía dưới chuyển sang màu vàng thì đó là dấu hiệu cây dâu bị thiếu nước. Nếu mầm đỉnh ngừng sinh trưởng là cây dâu đang ở thời điểm khô hạn nghiêm trọng. Dựa vào lượng mưa trung bình hàng tháng. Nếu lượng mưa chỉ đạt 100 - 150 mm/tháng thì cần phải tưới cho dâu.
- Lượng nước tưới:năm trồng mới và 2 năm tiếp theo tưới 200-300m3/ha/lần tưới. Các năm kinh doanh cần 400m3/ha/lần tưới.
- Chu kỳ tưới:tuỳ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây, loại đất và điều kiện khí hậu. Thường 15-20 ngày tưới một lần.
- Phương pháp tưới: Tưới phun hoặc tưới rãnh. Phương pháp tưới phun đơn giản và tiết kiệm lao động nhưng tiêu phí nhiều nước. Tưới rãnh tiết kiệm được nước, phù hợp với tưới cho diện rộng.
2.6.3Đốn dâu
Là biện pháp kỹ thuật để điều khiển dâu lá theo ý muốn.
- Đốn tạo hình dâu khóm: Dâu sau trồng 12 tháng đốn thân chính cách mặt đất 15-20cm, tỉa bớt cành cấp 1, giữ mỗi khóm 5-6 cành cấp 1.
Sau lần đốn thứ nhất 12 tháng, đốn cành cấp 1 cách thân chính 6-6cm, mỗi cành cấp 1 có 3-4 mắt khỏe.
Từ năm thứ 3 trở đi đốn cành cấp 2 cách vết đốn cũ 5 -6cm. Sau 8 – 10 năm khi bộ cành cấp 1, cấp 2 và cành sản xuất già và sức nẩy mầm yếu cần tiến hành đốn trẻ lại.
- Đốn thấp hàng năm: áp dụng đối với dâu rạch hàng, hàng năm khi dâu ngừng sinh trưởng đốn sát mặt đất hoặc bới gốc đốn dưới mặt đất 6-6cm, khi dâu nẩy mầm vun gốc trở lại.
- Đốn sát (đốn trẻ lại): Dâu sau trồng 5-10 năm thường bị già hóa phần thân cành, để dâu sinh trưởng tốt cho năng suất cao cần tiến hành đốn sát gốc trở lại sau đó tạo hình như dâu trồng mới.
- Đốn phớt: áp dụng khi dâu sinh trưởng chậm, khi đốn chú ý nếu dâu lấy hom trồng mới thì chỉ đốn phớt ngọn 20cm. Nếu dâu không lấy hom thì có thể đốn lững cao 1-1,5m.
Sau lần đốn này thu hoạch dâu cành và đốn thấp trở lại.
- Thời vụ đốn: tại Lâm Đồng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
- Kỹ thuật đốn: chọn ngày trời mát để đốn, dụng cụ đốn tốt nhất là dùng cưa máy, tránh làm dập nát vết đốn. Nếu đốn tạo hình hoặc đốn cao chú y tỉa bỏ sạch cành nhỏ (cành tăm), bỏ những mầm dâu đã nảy trước khi đốn để dâu sinh trưởng đều. Đốn lần thứ nhất cách mặt đất 10-15cm, tỉa bớt cành cấp 1, mỗi khóm giữ 4-6 cành. Các đợt đốn sau đó đốn cách vết đốn cũ 2-3cm, sau đốn 25-35 ngày tiến hành tỉa định mầm. Đồi với dâu đang tạo cành cấp 1, cấp 2 tỉa bỏ mầm yếu, mầm bệnh, giữ lại số lượng mầm để tạo tán cho cây. Đối với dâu đốn thấp chỉ tỉa bỏ mầm yếu, giữ lại tất cả những mầm có khả năng cho năng suất.
Dâu sau trồng 10-15 năm thường bị già hóa phần thân cành. Để dâu sinh trưởng tốt cho năng suất cao cần tiến hành đốn sát gốc trở lại, sau đó tạo hình như dâu trồng mới.
Khi dâu sinh trưởng chậm, có thể đốn phớt, đốn lững (chú ý nếu dâu lấy hom trồng mới chỉ đốn phới ngọn 20cm). Nếu dâu không lấy hom thì có thể đốn lững cao 1 -1,5m, sau lần đốn này thu hoạch dâu cành và đốn thấp trở lại.
2.7.Phòng trừ sâu, bệnh hại
Dâu tằm là cây dài ngày, sản phẩm chính là lá cho con tằm ăn, đây là cây trồng có nhiều đối tượng sâu, bệnh gây hại làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lá, nhiều vườn bị sâu, bệnh gây hại dẫn đến tình trạng lá dâu không sử dụng cho tằm ăn hoặc nặng quá có thể làm cây chết.
Để phòng trừ có hiệu quả các loại sâu bệnh hại cây dâu, nhằm đảm bảo sản lượng cũng như chất lượng lá cho tằm ăn. Trong quá trình canh tác cần thực hiện một số biện pháp phòng trừ như vệ sinh vườn trồng, tạo thông thoáng, thu gom tàn dư thực vật và cỏ rác đem ra ngoài tiêu hủy đốt. Sử dụng các giống dâu có tính kháng bệnh cao để trồng, đảm bảo mật độ trồng phù hợp với từng giống, không trồng quá dày, chăm sóc bón phân đầy đủ, cân đối.
Thu hái lá đúng lứa, không sử dụng hết lượng lá đã đến thời kỳ thu hoạch, cũng phải hái hết để hạn chế quá trình lây lan của sâu bệnh hại.
Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi thật cần thiết, ưu tiên sử dụng thuốc có nguồn gốc sinh học.
*Lưu ý đảm bảo thời gian cách ly để không tồn dư thuốc trên lá nuôi tằm
a) Sâu cuốn lá (Diaphania pyloalis Walkor)
- Đặc điểm gây hại: Sâu cuốn lá gây hại chủ yếu trong điều kiện thời tiết khô hạn, sâu cuốn lá phát triển rất nhanh, phá hoại nghiêm trọng làm cho vườn dâu bị khô vàng. Khi mới nở sâu non tập trung ở mặt dưới của lá, ăn phần thịt lá và biểu bì dưới. Sau tuổi 3, sâu nhả tơ và cuộn lá lại, ẩn ở bên trong để ăn lá dâu. Sau khi ăn hết lá này sâu lại chuyển sang lá khác. Khi cây dâu bị ăn hết lá, sâu non nhả tơ nhờ gió đu đưa để chuyển sang cây khác tiếp tục gây hại. Phân của sâu thải ra ở mặt lá dâu khi tằm ăn có thể nhiễm bệnh.
- Biện pháp phòng trừ
+ Biện pháp canh tác: vệ sinh vườn dâu, sau khi đốn cày lật đất, cuốc đất xung quanh gốc dâu, để phơi gốc dâu 5-7 ngày để diệt các loài trứng, ấu trùng dưới gốc dâu.Nếu sâu mới xuất hiện với số lượng ít, ngắt các lá có sâu đem đi tiêu hủy.
+ Biện pháp hóa học: danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký phòng trừ sâu cuốn lá hại cây dâu tằm. Nếu sâu cuốn lá phát triển với mật độ cao có thể sử dụng Bini 58EC để phòng trừ.
Lưu ý đảm bảo thời gian cách ly sau khi sử dụng thuốc từ 7 -10 ngày để không ảnh hưởng đến tằm. Nên chọn thời điểm phun trước giai đoạn tuổi 3 là hiệu quả nhất vì lúc này sâu non chưa cuộn lá lại nên khả năng tiếp xúc của thuốc là tốt nhất. Phun lúc trời dâm mát, phun kỹ cả 2 mặt lá.
b) Sâu khoang (Spodopterasp.)
- Đặc điểm gây hại: là loài sâu ăn tạp, xuất hiện trên vườn trồng quanh năm, cắn phá cây trồng từ tuổi 1, đến tuổi 5, tuổi 6 gây hại rất mạnh. Chúng gây hại từ sáng sớm, khi mặt trời lên sâu chui xuống dưới tán lá nấp đến chiều mát tiếp tục gây hại. Sâu khoang thường xuất hiện và gây hại trên vườn nhiều cỏ dại, vườn thu hoạch không đúng lứa.
- Biện pháp phòng trừ.
+ Cày đất và vệ sinh đồng ruộng sau đốn sát hàng năm, phát quang bụi rậm ở những điểm tiếp giáp với ruộng dâu. Thu hoạch kịp thời không để quá lứa có thể cắt đứt vòng chu chuyển của sâu khoang từ lứa này sang lứa khác hạn chế nguồn tích lũy, lây lan ngay từ đầu vụ.
+ Kiểm tra khi phát hiện mật số sâu trên vườn cao, có thể sử dụng thuốc có hoạt chất: Emamectin benzoate (Tasieu 1.9EC)để phòng trừ. Lưu ý đảm bảo thời gian cách ly của thuốc 15 ngày sau khi phun để không ảnh hưởng đến tằm.
c) Rệp vảy ốc (Pseudau lacapsis Pentagona)
- Đặc điểm gây hại: Rệp non và rệp trưởng thành đều tập trung ở trên cành dâu để hút nhựa làm cho cành dâu khô héo rồi chết. Nếu rệp ký sinh ở mầm nách làm cản trở sự nảy mầm, nếu ký sinh ở phần cổ rễ cây dâu con thì làm cho toàn cây héo.
- Biện pháp phòng trừ
+ Trồng với mật độ hợp lý, tạo độ thông thoáng cho ruộng dâu, sử dụng hom dâu không có rệp gây hại, vệ sinh đồng ruộng, tiêu hủy những cành dâu có rệp gây hại nặng, tưới nước đầy đủ cho cây vào mùa khô để hạn chế rệp phát triển.
+ Có thể dùng dung dịch hỗn hợp nước, xà phòng, dầu hỏa để phun.
Công thức: 1/2 kg xà phòng (hoặc dầu rửa bát) + 1 lít dầu hỏa + 25 lít nước. Khuấy đều cho tan để phun hoặc dùng vải thấm để lau. Phương pháp này dễ làm, hiệu quả cao, không ảnh hưởng đến lá dâu nuôi tằm.
Ngoài ra có thể sử dụng thuốc BVTV Bini 58 40EC để phòng trừ rệp hại dâu tằm. Lưu ý đảm bảo thời gian cách ly của thuốc 7 -10 ngày trước thu hoạch để không ảnh hưởng đến tằm.
d) Bọ phấn (Bemisia tabasi)
- Đặc điểm gây hại: Bọ phấn phát triển trong mùa khô và phát tán nhờ gió, có khả năng sinh sản cao, bọ phấn dùng miệng chích hút ngọn non, lá cây và tiết ra chất dịch làm giảm năng suất, chất lượng cây trồng. Đồng thời là tác nhân gây truyền vi rút, gây xoăn lá cây trồng.
- Biện pháp phòng trừ
+ Vệ sinh đồng ruộng, phát quang cỏ dại, hạn chế nơi trú ngụ của bọ phấn, hạn chế trồng xen dâu tằm với các cây trồng ký chủ của bọ phấn, không trồng dâu quá dày, bón phân đầy đủ, cân đối.
+ Có thể sử dụng thuốc Oshin 20WP để phòng trừ. Lưu ý đảm bảo thời gian cách ly của thuốc từ 7 -10 ngày sau khi phun để không ảnh hưởng đến tằm.
e) Bệnh bạc thau (Phyllactinia Moricola. Saw)
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Bệnh bạc thau rất phổ biến. Tuỳ theo khí hậu từng vùng mà thời kỳ phát bệnh có khác nhau, bệnh thường gây hại mạnh khi thời tiết nóng ẩm. Lá dâu bị bệnh nhẹ thì chất lượng giảm, nếu bị nặng thì tằm không ăn, chỉ bò lên mặt trên của lá.
+ Đầu tiên mặt dưới của lá xuất hiện các vết bệnh màu trắng, lúc đầu nhỏ sau loang to dần rồi chuyển thành màu vàng nâu và chứa rất nhiều hạt phấn, bao gồm các sợi nấm và conidi.
- Biện pháp phòng trừ
+ Trồng các giống dâu có khả năng kháng bệnh cao, mật độ trồng dâu hợp lý, không trồng quá dày, bón phân đầy đủ, cân đối, vệ sinh đồng ruộng, tạo thông thoáng, xử lý tàn dư bệnh, khai thác lá đúng lứa, làm cỏ thường xuyên.
+ Phun thuốc phòng trừ dịch hại phát triển khi đến ngưỡng phòng trừ (tỷ lệ bệnh 15-20%), có thể sử dụng Anvil 5SC để phòng trừ. Thời gian cách ly của thuốc 10 ngày sau khi phun để không ảnh hưởng đến tằm.
f) Bệnh ghỉ sắt (Aecidium mori)
- Triệu chứng gây bệnh:bệnh gây hại trên lá, cuống lá, gân lá và trên cành. Nấm phát tán nhờ gió. Vết bệnh ở lá màu vàng nhạt sau chuyển sang vàng cam và vàng nâu trên cả hai mặt lá. Bệnh nặng lá khô cứng, mầm dâu uốn cong dễ gẫy, không sinh trưởng.
- Biện pháp phòng trừ
+ Chọn trồng giống dâu chống chịu bệnh: thông thường những giống có bề mặt lá thô, nháp thì bị bệnh nặng hơn những giống có lá bóng, nhẵn, mật độ trồng phù hợp để tạo cho ruộng dâu thông thoáng, bón phân cân đối, không nên bón quá nhiều đạm, thu hái lá đúng lứa
+ Khi bệnh đã phát triển đến ngưỡng phòng trừ (tỷ lệ bệnh 15-20%) có thể sử dụng Anvil 5SC để phòng trừ. Thời gian cách ly của thuốc để đảm bảo an toàn với tằm là 10 ngày.
g) Bệnh mề gà (Septobasidium bogoriense, Septobasidium tanakae)
- Triệu chứng gây bệnh:
Bệnh phân bố rộng ở các vùng trồng dâu. Bệnh chủ yếu gây hại trên cành và thân dâu đã già làm trở ngại đến việc sinh trưởng của cây.
Vết bệnh có màu tím phát triển ở mặt ngoài của thân, cành làm mầm không nảy được trông như dán cao. Bệnh nặng, nấm ký sinh bao bọc chung quanh làm khô thân, cành và thân cây bị chết. Bệnh xuất hiện và gây hại nặng khi mùa mưa kéo dài, độ ẩm không khí cao.
- Biện pháp phòng trừ
+ Vệ sinh vườn trồng, tiêu nước kịp thời, trồng dâu với mật độ khoảng cách phù hợp, thường xuyên làm sạch cỏ dại nhất là trong mùa mưa, bón phân cân đối, đầy đủ để cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng sức đề kháng sâu bệnh.
+ Biện pháp hóa học: Diệt trừ môi giới lan truyền bệnh là rệp vẩy ốc bằng thuốc Bini 58EC. Chú ý đảm bảo thời gian cách ly của thuốc 10 ngày để không ảnh hưởng đến tằm.
d)Bệnh xoăn lá (virus)
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Bệnh xoăn lá ở cây dâu biểu hiện qua một số đặc trưng: lá nhỏ lại, uốn cong về phía mặt dưới. Đôi khi hình thái của lá thay đổi, lá dài ra, cành của cây bị bệnh phát triển kém, biểu hiện cành nhỏ, ngắn, đốt ngắn, mầm nách nảy sớm, nảy nhiều nên tạo ra nhiều cành tăm. Khi bệnh nặng các cành tăm khô, chết. Bệnh xoăn lá thường xuất hiện nhiều ở ruộng dâu đốn hè.
+ Con đường lây lan của bệnh là do côn trùng môi giới là con rầy chích hút lá dâu bị bệnh rồi truyền sang cây khác làm lây lan bệnh rất nhanh.
- Biện pháp phòng trừ
+ Chọn giống chống chịu bệnh, không dùng cây con hoặc hom dâu bị bệnh để trồng, không để ruộng dâu bị ngập úng lâu, bón phân cân đối, thời vụ đốn dâu hợp lý, hạn chế đốn trái vụ liên tục nhiều năm, xử lý sớm, nhổ bỏ, thu gom tiêu hủy cây bị bệnh, hạn chế nguồn bệnh lây lan.
+ Phun thuốc diệt côn trùng môi giới (rầy rệp) lan truyền bệnh bằng các loại thuốc Oshin 20WP, Bini 58 40EC, thời gian cách ly của thuốc là 7-10 ngày.
e) Bệnh tuyến trùng
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Cây dâu tằm bị bệnh thường phát triển còi cọc, các lá già vàng trước, sau đó lan dần lên các lá non phía trên làm cho lá bị cháy và rụng, cây bị nặng rụng hết lá và chết. Bộ rễ có các cục u sưng sần sùi với kích thước to, nhỏ khác nhau tùy mức độ gây hại của tuyến trùng, u sưng xuất hiện ở cả các rễ nằm dưới mặt đất và các rễ ăn nổi trên mặt đất.
+ Tuyến trùng thường không gây chết cây ngay nhưng làm cho cây dâu tẳm không thể phát triển bình thường, còi cọc. Triệu chứng cũng không xuất hiện đồng đều trên toàn vườn do mật độ phân bố tuyến trùng không đều.
- Biện pháp phòng trừ
+ Biện pháp canh tác
Sử dụng hom giống hoặc cây giống sạch bệnh, không có triệu chứng nhiễm tuyến trùng để trồng mới cây dâu tằm.
Luân canh cây trồng: không nên trồng lại dâu tằm ngay trên các vườn dâu nhiễm nặng bệnh tuyến trùng. Cần có thời gian luân canh ít nhất 01 năm đối với các vườn nhiễm nặng >30% cây bị bệnh. Các loại cây trồng có thể luân canh với dâu tằm gồm mè, đậu, bắp (ngô), lạc…
Tạo hệ thống mương rãnh thoát nước tốt cho vườn dâu, tránh để nước chảy tràn từ vườn này qua vườn khác làm lây lan nguồn bệnh.
Vệ sinh đồng ruộng: đối với trồng mới dâu tằm trên đất nhiễm tuyến trùng trước khi trồng phải vệ sinh đồng ruộng, đào thu gom nhặt sạch toàn bộ rễ cây nhiễm bệnh để tiêu hủy.
Làm đất kỹ, cày phơi đất ít nhất 2 tháng trước khi trồng kết hợp rải vôi (1.000kg/ha),bừa trộn đều vào đất ở độ sâu 20-30cm.
Tăng cường bón phân hữu cơ (phân chuồng hoai từ 15 -20 tấn/ha hoặc phân hữu cơ vi sinh) kết hợp các chế phẩm nấm đối kháng như Trichoderma, có tác dụng hạn chế tuyến trùng và đối kháng với một số nấm bệnh gây hại trong đất. Hạn chế xới xáo trong vườn cây bị bệnh để tránh làm tổn thương bộ rễ.
Thường xuyên kiểm tra vườn dâu để phát hiện kịp thời các cây bị bệnh. Trường hợp vườn dâu tằm có cây bị bệnh nặng khó phục hồi cần nhổ bỏ, thu gom rà rễ cây, đưa ra khỏi vườn tiêu hủy sớm để hạn chế lây lan. Tuyệt đối không chất đống thân gốc rễ cây dâu tằm nhiễm bệnh tuyến trùng trên ruộng.
+ Biện pháp hóa học
Đối với trồng mới dâu tằm trên đất nhiễm tuyến trùng: phải tiến hành xử lý đất trước khi trồng bằng các loại thuốc như Sincosin 0.56SL (10ml/8lit) + Argispon 0.56SL (10ml/8 lít); Stop 5SL (1 lít/ha) hoặc Tiêu tuyến trùng 18EC (hoạt chất tinh dầu quế 18%), liều lượng sử dụng 100ml/8 lít, hoặc Tervigo 020SC (hoạt chất Abamectin), liều lượng 0,5 lít/ha, lượng nước thuốc 1.500 lít/ha kết hợp với các chế phẩm sinh học như Trichoderma spp., Trichoderma viride để phòng trừ tuyến trùng và nấm bệnh trong đất.
Đối với vườn dâu tằm nhiễm tuyến trùng thời kỳ đang cho thu hoạch: cần nhổ bỏ cây bị hại nặng kết hợp rải vôi xử lý đất xung quanh khu vực bị bệnh. Sử dụng thuốc Sincosin 0.56SL (10ml/8lit) + Argispon 0.56SL (10ml/8 lít); Stop 5SL (1 lít/ha) hoặc Tiêu tuyến trùng 18EC, liều lượng 100ml/8 lít hoặc Tervigo 020SC, liều lượng 0,5 lít/ha, lượng nước thuốc 1.500 lít/ha kết hợp với thuốc điều hòa sinh trưởng Ric 10WP (liều lượng sử dụng 100g/10 lít), xử lý theo phương pháp tưới kỹ xung quanh gốc trong vùng rễ cây để phòng trừ tuyến trùng và phục hồi bộ rễ. Tùy theo áp lực của bệnh có thể xử lý từ 2 – 3 lần thuốc BVTV cách nhau 15 ngày. Lưu ý đảm bảo thời gian cách ly của các loại thuốc trước khi thu hoạch lá cho tằm ăn từ 7 – 10 ngày.
IV. Thu hoạch chế biến bảo quản
1. Thu hoạch
- Phương pháp hái lá: chọn lá theo đúng yêu cầu của tằm, ít ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, giảm tỷ lệ sâu bệnh, tốn công lao động. Việc thu hái trên một lô dâu cần tập trung trong khoảng 7-10 ngày, không nên kéo dài làm ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc vườn dâu. Hái dâu cho tằm ăn tốt nhất vào 8-10 giờ sáng, không nên hái quá sớm hoặc buổi trưa.
- Phương pháp thu hoạch bằng cách cắt cành: ít tốn công lao động, làm cho tươi dâu, dễ bảo quản, làm cho khoảng cách giữa các lứa nuôi dài hơn và có thời gian để chăm sóc. Phương pháp cắt cành chỉ nên áp dụng cho những vùng đất tốt, những hộ gia đình có điều kiện thâm canh cao.
2. Bảo quản
Đối với lá dâu nuôi tằm nên xếp theo lớp và phủ vải thấm nước, dâu cho tằm lớn chất thành đống có chiều dày không quá 20cm, giữ ẩm bằng cách phủ vải thấm nước (không phủ bằng nilon), cứ 2-4 giờ đảo một lần. Phòng bảo quản lá dâu phải thoáng mát, có cửa thông gió để giảm nhiệt độ của phòng.