Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên chè.
Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.
| Dịch hại | Số thuốc đã đăng ký |
|---|---|
| Nhện đỏ | 71 |
| Rầy xanh | 68 |
| Bọ cánh tơ | 46 |
| Bọ xít muỗi | 26 |
| Bọ trĩ | 22 |
| Kích thích sinh trưởng | 18 |
| Sâu cuốn lá | 4 |
| Đốm xám | 4 |
| Chấm xám | 3 |
| Thối búp | 3 |
| Nhện đỏ nâu | 3 |
| Đốm nâu | 3 |
| Rệp | 2 |
| Rệp sáp | 1 |
| Thối rễ do nấm bệnh | 1 |
| Bệnh đốm nâu | 1 |
| Tuyến trùng | 1 |
| Thán thư | 1 |
| Rỉ sắt | 1 |
| Cỏ lá rộng | 1 |
(Ban hành kèm theoQuyết định số /QĐ-UBNDngày //2025
của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I.Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1.Thời kỳ kiết thiết cơ bản (KTCB): 03 năm.
2. Thời kỳ kinh doanh:22-27 năm, tính từ năm thứ 4.
3.Chu kỳ kinh doanh: 25 - 30 năm.
4. Mục tiêu năng suất (chè búp tươi):18 -20 tấn/ha
II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1. Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa.
- Nhiệt độ: nhiệt độ thích hợp là từ 18 - 250C.
- Độ ẩm và lượng mưa: độ ẩm không khí 80 - 85% và lượng mưa hàng năm từ 1.500 - 2.000 mm thích hợp nhất cho chè phát triển. Tại Lâm Đồng tuy lượng mưa lớn nhưng tập trung từ tháng 5 - 11, còn lại các tháng mùa khô cây chè bị thiếu nước vì vậy chống hạn trong mùa khô cho cây chè và hạn chế xói mòn trong mùa mưa cần được quan tâm chú ý.
2. Độ cao: nơi đồi có độ dốc bình quân dưới 60 (cục bộ có thể tới 80) thiết kế hàng chè thẳng theo hàng dài nhất, song song với đường bình độ chính, hàng cụt xếp ở bìa lô. Độ dốc trên 60 bố trí theo đường đồng mức.
3. Ánh sáng: yêu cầu của cây chè đối với ánh sáng cũng thay đổi tùy theo tuổi cây và giống chè ở thời kỳ cây con yêu cầu ánh sáng ít hơn, cho nên ở vườn ươm, người ta thường che râm để đạt tỷ lệ sống cao và cây sinh trưởng nhanh
4. Đất đai: đất trồng cóTỷ lệ mùn tổng số > 2%, pHkcl = 4,5 – 5,5, tầng đất dày > 0,8m trở lên, mực thủy cấp sâu hơn 100 cm. Kết cấu tơi xốp, thoát nước tốt; độ dốc bình quân không quá 150.
III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống:các giống chè cành cao sản:Bao gồm cácgiống TB14, LĐ97, LDP1, LDP2, PH1,…
1.2. Tiêu chuẩn cây giống xuất vườn: Cây con đạt 8-10 tháng tuổi; có 6 - 8 lá thật trở lên, chiều cao cây tính từ mặt bầu 25 cm thân mọc thẳng; đường kính thân 2,5 mm có 1/3 thân đã hóa gỗ; cây không bị sâu, bệnh dị hình, không biểu hiện sâu bệnh.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng:tốt nhất trồng trong tháng 6.
2.2. Mật độ, khoảng cách: mật độ và khoảng cách trồng: Tùy điều kiện đất đai, mức độ đầu tư thâm canh và trình độ canh tác, nên trồng theo khoảng cách 1,5 m x 0,8 m; mật độ 8.333 cây/ha hoặc 1,4 m x 0,8 m; mật độ 8.928 cây/ha
2.3. Chuẩn bị đất:Đất trồng chè yêu cầu phải đảm bảo độ sâu, được san ủi nơi có độ dốc cục bộ, không có đá và gốc cây to, được phơi ải, sạch cỏ dại.
Thời gian làm đất vào cuối mùa mưa năm trước, đầu mùa khô để có thời gian phơi ải, tăng độ phì và diệt mầm mống sâu bệnh, đối với đất mới khai hoang ít mùn, đất phục hóa nên một vụ cây phân xanh cải tạo đất trước khi trồng, cây phân xanh là cây có khả năng cải tạo đất, tốt nhất là các cây họ đậu làm phân bón,tăng chất dinh dưỡng cho cây. Sau khi làm đất, gieo một vụ cây phân xanh (muồng lá nhọn, cốt khí, các loại đậu... lượng gieo 10-12kg hạt/ha; gieo vào tháng 2-3). Trước khi trồng chè được 1 tháng cắt toàn bộ hàng cây phân xanh giữa 2 hàng chè vùi dưới rãnh + phân chuồng + phân lân lấp đất chờ trồng chè. Làm đất trồng chè phải đạt yêu cầu: Sâu, sạch, ải, vùi lớp đất mặt có nhiều hạt cỏ xuống dưới, san ủi dốc cục bộ. Cày sâu lật đất 35 - 40 cm. Trường hợp không thể cày sâu, cuốc lật toàn bộ để đất được ải, xốp, diệt cỏ dại.
2.4. Đào hố, bón lót:
- Đào hố: trước khi cuốc hố cần định trước khoảng cách cây và cây, nên dùng dây thiết kế theo hàng, cắm tiêu. Cuốc ngay tâm tiêu với kích thước hố 30 x 30 x 30 cm và cuốc theo hàng đã được thiết kế, sâu 25 - 30 cm để trồng.
- Bón lót: rải phân chuồng + lân chia đều các hố, liều lượng: Lượng bón đạt yêu cầu từ 18-20 tấn hữu cơ chuồng hoai (đất xấu bón nhiều) và 1.000kg lân/ha (dùng lân nung chảy hoặc Super lân). Đối với các loại phân hữu cơ lượng phân bón lót từ 4,5-5 tấn/ha. Bón trước khi trồng 20-30 ngày, sau khi bón tiến hành đảo phân lấp hố cách mặt đất 7-10 cm.
2.5. Kỹ thuật trồng: Kỹ thuật trồng: rải phân chuồng + lân chia đều các hố, mỗi hố rải 1 cây. Dùng cuốc trộn đất và phân, dao rạch bỏ túi nilon, tránh bị đứt rễ, không làm bầu vỡ cây chè dễ bị chết. Đặt cây thẳng hàng theo chiều gió rồi lấp đất chặt xung quanh hố. Trồng mặt bầu thấp hơn mặt đất 2-3 cm, nếu trồng sâu sẽ bị mối ăn hoặc quá cạn bị gió lay làm chết cây. Trồng xong rải hoặc phun thuốc trừ mối vào gốc bằng Vibam 5GR từ 25-30 kg/ha.
2.6. Phân bón và kỹ thuật bón phân:
2.6.1. Bón phân chè trồng mới: sau khi trồng bón nhử 69kg N + 50kg K2O/ha tương đương với lượng phân thương phẩm 150kg urê + 83kg KCL chia làm 10 lần bón (trung bình 15 ngày một lần), khi bón nhử, phải bón cách gốc > 10cm.
2.6.2. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)
Tuổi cây (năm) | Phân hữu cơ (kg/ha) | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | Lượng thương phẩm (kg/ha/năm) | Sốlần bón/năm | ||||
N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali | |||
1 | 10.000 | 391 | 128 | 10-12 | 848 | 776 | 215 | 10-12 |
2 | 10.000 | 460 | 152 | 10-12 | 998 | 921 | 256 | 10-12 |
3 | 15.000 | 522 | 160 | 10-12 | 1133 | 970 | 306 | 10-12 |
Lưu ý: với chè mới trồng hoặc KTCB phải bón cách xa gốc > 10 cm. Thường xuyên thay đổi các loại phân không nên bón quá nhiều đạm và lân vì đất dễ bị chua và chai cứng.
2.6.3. Thời kỳ kinh doanh
- Bón phân hữu cơ hoặc hữu cơ sinh học với liều lượng 5.000 kg/ha nên bón 2 năm/lần. Dùng bò cày hoặc máy rạch hàng, bón kết hợp 100% phân lân (nung chảy) và magiê sulfate 100 - 130 kg + 20 kg kẽm sulfate/ha/năm. Bón xong cày lấp lại. Không dùng phân hữu cơ, chất thải chăn nuôi chưa ủ hoai mục để bón.
- Phân đa lượng:tùy theo điều kiện đất đai (hàm lượng mùn, dinh dưỡng khoáng, mức năng suất thu hoạch) áp dụng bón phân N:P:K theo tỷ lệ 3:1:1, với lượng 30 kg N/tấn sản phẩm chè búp tươi. Lượng phân cụ thể như sau:
Tuổi cây (năm) | Phân hữu cơ (kg/ha) | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | Lượng thương phẩm (kg/ha/năm) | Sốlần bón/năm | ||||
N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali | |||
4 | 5.000 | 599 | 181 | 203 | 1.299,8 | 1.096,9 | 339,01 | 10-12 |
5 | 5.000 | 760 | 231 | 251 | 1.649,2 | 1.399,9 | 419,17 | 10-12 |
6 | 5.000 | 898 | 280 | 299 | 1.948,7 | 1.696,8 | 499,33 | 10-12 |
7 | 5.000 | 1.198 | 412 | 398 | 2.599,7 | 2.496,7 | 664,66 | 10-12 |
- Những năm không bón phân hữu cơ, khi bón phân vô cơ nên bón kết hợp phân trung vi lượng: Magiê sulfate 100- 130 kg (bón chia làm 2 lần/năm) + 20 kg kẽm sulfate (bón 1 lần)/ha/năm; bón ngay sau khi trộn đều với phân vô cơ. Hoặc có thể sử dụng magiê sulfate để phun qua lá với liều lượng 5 kg/ha.
2.6.4. Kỹ thuật bón phân
Phân đạm bón theo tán chè lúc ẩm độ đất 70-80%, vùi sâu 6-8 cm, bón 5-6 lần/năm, từ tháng 4-11; phân Urê có thể thay bằng phân phân đạm SA.
Lân bón vào đầu vụ (tháng 4-5) 1 lần cùng với các phân khác; Super lân có thể thay bằng phân lân nung chảy
Kali bón cùng phân đạm, clorua kali (KCL) thay bằng sunfat kali (K2SO4)
Hàng năm nên thay đổi các dạng phân hoặc phối hợp theo tỷ lệ thích hợp để không làm dư thừa các chất có trong phân mà cây không hấp thụ. Cũng có thể dùng phân hỗn hợp NPK.
+ Phân trung, vi lượng: vùng trồng chè ở Lâm Đồng trên đồi dốc, lượng mưa lớn và tập trung nên các yếu tố vi lượng bị rữa trôi làm cho đất bị thiếu hụt vi lượng, nhất là magiê, kẽm. Việc cung cấp chất vi lượng có thể thông qua bón phân hữu cơ, một phần trong phân hóa học nhưng với hàm lượng rất thấp. Dạng vi lượng thường dùng cho chè là Sunfat magiê (MgSO4) và Sunfat kẽm (ZnSO4).
Lượng bổ sung: bón gốc phối trộn tỷ lệ 50kg MgSO4 và 3,5kg ZnSO4.
+ Phân hữu cơ:không những cung cấp dinh dưỡng cho cây mà còn cải thiện tính chất vật lý, hóa học, sinh học trong đất. Nguồn phân hữu cơ bao gồm phân chuồng, phân xanh và các nguyên liệu ép xanh.
Sử dụng phân hữu cơ sinh học có thành phần chính: Chất hữu cơ >25%; N 2,5-3%; P205 0,3%; K201-1,3%; lượng bón 2,5 tấn/ha/năm.
Lưu ý: nên bón tăng lượng phân hữu cơ sinh học trên nền đất hữu cơ kém hàm lượng chất hữu cơ < 2,5%.
Có thể sử dụng phân chuồng ủ hoai 20-25 tấn/ha, 3 năm/lần. Phân hữu cơ bón vào đầu mùa mưa, rạch hàng, bón lấp.
+ Phân bón lá:khi đã bón cân đối các loại phân cho cây chè (phân gốc) để ổn định năng suất và nâng cao chất lượng chè thành phẩm, nên dùng các loại chế phẩm dinh dưỡng bón qua lá. Liều lượng theo khuyến cáo rên bao bì. Phun ngay sau lứa hái (2- 3 lứa hái/lần), phun lúc sáng sớm hoặc chiều mát, không mưa.
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản:
Hạng mục | Ure (%) | Super lân (%) | Kali Clorua (%) | Thời gian bón |
Lần 1 | 10 | 10 | 10 | 15 NST |
Lần 2 | 10 | 10 | 10 | 15 NSB lần 1 |
Lần 3 | 10 | 10 | 10 | 15 NSB lần 2 |
Lần 4 | 10 | 10 | 10 | 15 NSB lần 3 |
Lần 5 | 10 | 10 | 10 | 15 NSB lần 4 |
Lần 6 | 10 | 10 | 10 | 15 NSB lần 5 |
Lần 7 | 10 | 10 | 10 | 15 NSB lần 6 |
Lần 8 | 10 | 10 | 10 | 15 NSB lần 7 |
Lần 9 | 10 | 10 | 10 | 15 NSB lần 8 |
Lần 10 | 10 | 10 | 10 | 15 NSB lần 9 |
- Thời kỳ kinh doanh:
Hạng mục | Ure (%) | Super lân (%) | Kali Clorua (%) | Thời gian bón |
Lần 1 | 20 | 100 | 20 | Tháng 4 |
Lần 2 | 20 | 20 | Tháng 5 - 6 | |
Lần 3 | 20 | 20 | Tháng 7 - 8 | |
Lần 4 | 20 | 20 | Tháng 9 - 10 | |
Lần 5 | 20 | 20 | Tháng 11 |
2.7. Chăm sóc
2.7.1. Làm cỏ
- Chè thời kỳ KTCB: giữ cho vườn chè luôn sạch cỏ, cỏ trong gốc chè nhổ bằng tay. Mỗi năm phải làm cỏ từ 4-6 lần; kết hợp xới xáo với các lần làm cỏ, bón phân. Tiến hành tủ giữ ẩm vào cuối mùa mưa hàng năm (tháng 11-12) nhưng không được lấp gốc. Thông thường tủ cách gốc 5-7 cm tránh mối phá hại.
- Chè thời kỳ kinh doanh: làm sạch cỏ từ 4-6 lần/năm, mùa khô dãy cỏ gom vào gốc, mùa mưa dãy cỏ gom ra ngoài hàng chè. Mùa mưa kết hợp dùng thuốc hóa học để diệt đúng đối tượng cỏ dại theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
2.7.2. Trồng cây che bóng, chắn gió
- Cây phân xanh: Trồng cây che bóng tạm thời bằng muồng hoa vàng. Khi trồng chè được 1 tháng, cây phân xanh gieo giữa hàng chè khoảng cách 1m/hố, khi cây chè phát triên phá dần ép cây phân xanh làm phân. Ngoài ra trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, khoảng cách giữa 2 hàng chè đất còn trống cần có cây trồng xen để giữ ẩm cho đất vào mùa khô, hạn chế xói mòn trong mùa mưa, khống chế cỏ dại, có nguồn phân xanh bổ sung chất hữu cơ cho đất, cây trồng xen tốt nhất là cây họ đậu như lạc, đậu tương.
- Cây chắn gió: Xung quanh lô, trồng các loại cây muồng đen, keo lá tràm, keo tai tượng. Khoảng cách giữa các hàng 40-50m, trồng hàng kép nanh sấu, cây cách cây 3 m, nên bố trí hàng chắn ngang hướng gió chính.
- Cây che bóng cần có sức sinh trưởng mạnh, không có cùng đối tượng sâu bệnh như cây chè, là cây thân gỗ cao như muồng đen, keo dậu, keo tây, trồng 20 x 20m/cây. Ngoài ra có thể trồng xen cây ăn trái như sầu riêng ghép vừa che bóng vừa tăng hiệu quả kinh tế, mật độ trồng xen là: 12x14m (60cây/ha).
2.7.3. Tưới nước
Yêu cầu tưới nước của cây chè trong mùa khô, tuy không nhiều nhưng nếu được tưới thì năng suất búp sẽ tăng nhất là đồi với chè cành có bộ rễ ăn nông. Tùy điều kiện để áp dụng các cách tưới như tưới tràn, tưới phun mưa,... làm sao đảm bảo yêu cầu nước và có hiệu quả kinh tế. Trong mùa khô nếu có điều kiện cứ khoảng 20-25 ngày tưới 1 lần, mỗi lần 500-700m3 nước/ha.
2.7.4. Đốn tạo hình chè kiến thiết cơ bản
- Đốn tạo hình lần 1: sau khi trồng để cây chè phát triển tự nhiên đến 1 năm tuổi (không bấm ngọn sớm), cây có đường kính thân tại gốc hơn 1cm thì dùng kéo cắt thân chính ở độ cao 20 - 25 cm. Cắt trên đoạn phân cành cấp 1. Các cành cấp 1, cấp 2 cắt ở độ cao 45 - 50 cm. Thời vụ đốn vào tháng 5 - 6.
- Đốn tạo hình lần 2: trước khi đưa vào kinh doanh, độ cao vết đốn từ 40 - 45 cm. Thời vụ đốn vào đầu tháng 10. Nếu áp dụng thu hái bằng máy từ năm thứ 3 của của thời kỳ kiến thiết cơ bản thì đốn tạo hình lần 2 sẽ được chuyển sang tháng 10 của năm kế tiếp.
2.8. Phòng trừ sâu, bệnh hại
2.8.1. Quản lý dịch hại tổng hợp
Ưu tiên thực hiện quản lý dịch hại (IPM), mục đích là áp dụng các biện pháp canh tác, biện pháp sinh học, biện pháp cơ giới, biện pháp hoá học hoặc những kỹ thuật khác phòng trừ dịch hại để giảm tới mức thấp nhất sử dụng hoá chất để trừ dịch hại:
- Phòng trừ bằng những biện pháp canh tác (trồng trọt) thông thường, như trồng giống khoẻ, chăm sóc tốt và duy trì việc trồng cây che bóng, cây trồng xen, duy trì che phủ đất;
- Mở rộng việc tìm hiểu về diễn biến của các đối tượng gây hại chính, tìm hiểu về sự phát triển của thiên địch;
- Thiết lập các ngưỡng gây hại của các tác nhân gây hại chính (rầy xanh, nhện đỏ, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi), dựa vào mức thiệt hại kinh tế (Rầy xanh 3-5 con rầy non/khay, Bọ cánh tơ 4 con/lá, Nhện đỏ 3 con/lá, Bọ xít muỗi bắt đầu thấy lác đác chòm lá có vết kim châm màu đen …);
- Trong trường hợp sử dụng thuốc hoá học trừ dịch hại là cần thiết, thì tính chọn lọc của thuốc là quan trọng để giảm bớt sự mất cân bằng sinh thái, an toàn sản phẩm và đảm bảo sự an toàn cho người lao động.
2.8.2. Sâu hại
a) Bọ xít muỗi (Helopeltis theivora Waterhouse)
- Triệu chứng gây hại: Bọ xít muỗi (BXM) dùng vòi chích hút nhựa búp chè, tạo nên những vết châm hình tròn lúc đầu có màu xanh nhạt sau chuyển thành màu nâu đậm. Cả bọ xít trưởng thành lẫn bọ xít non đều chích hút nhựa cây chè. Khi mật độ cao, sâu non của bọ xít mỗi gây ra hiện tượng chè bị cháy đen do các vết chích quá dày. Búp chè bị BXM chích hút nhiều bị nám đen, cong queo không có giá trị thương phẩm, ảnh hưởng đến những lứa búp sau, làm chậm lại sự phát triển của cây. BXM phát triển thích hợp nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 25-280C, ẩm độ trên 90%, vì thế chúng thường hoạt động mạnh vào sáng sớm hoặc chiều tối. Ngày âm u BXM hoạt động mạnh hơn ngày nắng, đặc biệt những ngày mưa to BXM xuất hiện hàng loạt và phá hại nặng.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: dọn sạch cỏ dại, phát quang bờ lô, bụi rậm quanh nương chè. Bón phân cân đối NPK, không bón quá nhiều đạm, tăng cường Kali vào thời điểm BMX gậy hại. Khi chè bị hại nặng nên xiết chặt lứa hái, hái kỹ những búp bị hại để thu gom và tiêu diệt trứng. Tỉa cao các cành cây bóng mát và chắn gió xung quanh vườn chè. Trồng các giống kháng hay ít nhiễm BXM như LD97, mật độ trồng vừa phải có chế độ tỉa cành, tạo tán hợp lý.
+ Biện pháp sinh học: bảo vệ các loài thiên địch của BXM như chuồn chuồn, bọ ngựa và các loại ong ký sinh, ….
+ Biện pháp hóa học: thường xuyên kiểm tra, phun thuốc khi BXM nở rộ, búp chè bắt đầu có những vết chấm nhỏ. Sử dụng các loại thuốc gốc Dinotefuran (Oshin 100SL); Emamectin benzoate (Dylan 2EC, Map Winner 10WG); Thiamethoxam (Actara 25WG, Apfara 25WG), ...nhằm ngăn chặn kịp thời. Nếu phun trễ bọ xít muỗi đã phá hại trên diện rộng hay đang giai đoạn trưởng thành thì hiệu quả sẽ kém. Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
b)Rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr)
- Triệu chứng gây hại: Rầy non và rầy trưởng thành chích hút nhựa cây chè ở phần búp và lá non, vết chích theo đường gân chính và gân phụ của lá li ti như kim châm. Các vết chích dày đặc của rầy cản trở sự vận chuyển của nước và dinh dưỡng lên búp làm búp bị cong queo và khô đi, các lá non gặp ngày nắng nóng khô dần từ đầu đến nách lá. Do sợ ánh sáng trực xạ nên ban ngày phần lớn rầy nấp dưới tán là hoặc phần khuất ánh nắng mặt trời. Khi bị động, rầy bò ngang hoặc nhảy lẩn trốn khá nhanh, một số rầy trưởng thanh bay lên. Rầy non mới nở rất chậm chạp, rầy tuổi 3-4 nhanh nhẹn hơn. Trong một vùng, các nương chè non, mới bật mầm sau đốn, chè xanh tốt, cỏ nhiều thường bị rầy gây hại nặng hơn nương chè già sạch cỏ. Chè nơi khuất gió bị hại nặng hơn nơi thoáng gió.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: dọn sạch cỏ dại, bón phân cân đối, không trồng các cây che bóng, cây chắn gió là ký chủ của rầy. Chọn thời điểm đốn, hái chè thích hợp để tránh búp chè ra rộ trùng với thời điểm phát sinh của rầy xanh. Hái kỹ búp chè bị rầy trưởng thành đẻ rộ để hạn chế trứng rầy.
+ Biện pháp hóa học: khi thấy trên vườn chè có mức độ trứng rầy cao, đợi đa số rầy nở đến tuổi 1-2 thì xịt thuốc. Sử dụng các loại thuốc gốc Thiamethoxam (Actara 25WG); Dinotefuran (Oshin 100SL); Emamectin benzoate (Dylan 2EC, Proclaim 1.9EC, Tasieu 1.0EC, 1.9EC) phun trực tiếp vào búp chè khi rầy rộ. Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
c) Nhện đỏ (Oligonnychus cofeae niet)
* Triệu chứng gây hại: Nhện hút chất dinh dưỡng của chè chủ yếu trên lá già và lá bánh tẻ, làm cây sinh trưởng chậm, lá mau rụng, cây chè chậm ra lá non. Thời tiết khô hạn thuận lợi cho sự phát triển của nhện đỏ. Trong điều kiện tại Lâm Đồng, nhện phát sinh gây hại nặng trong khoảng từ tháng 1-4, nặng nhất tháng 2, 3, mùa mưa mức độ nhện thường rất thấp do bị mưa rửa trôi.
* Biện pháp phòng trừ
+ Biện pháp canh tác: tưới phun trong mùa khô, cành lá ở vườn nhiễm nhện sau khi đốn phải thu gom, trồng cây che bóng họ đậu vừa có tác dụng cải tạo đất, vừa hạn chế tác hại nhện đỏ.
+ Biện pháp hóa học: sử dụng các loại thuốc gốc Emamectin benzoate (Dylan 2EC, Angun 5WG, Newmectin 5WP) hoặc các thuốc có gốc sinh học Abamectin (Silsau 10WP, Abatox 3.6EC; Plutel 5EC), ….
d) Bọ cánh tơ (Physothrips setiventris Bagn)
* Triệu chứng gây hại: bọ cánh tơ thường gặp hút chất dinh dưỡng ở lá non, nhất là khi lá chè chưa nở (tôm chè), vì thế khi lá xòe ra, triệu chứng gây hại của bọ cánh tơ thể thiện ở mặt dưới lá, hai vệt màu xám song song với gân chính. Tôm chè bị bọ cánh tơ hại thường sần sùi, cứng dòn, hai mép lá và chóp lá cong lên. Khi bị nặng chè bị rụng là, nhất là chè con. Bọ non sống tập trung ở búp và gân lá non, ít di chuyển. Thời thiết ẩm và không lạnh lắm thích hợp cho đời sống của bọ cánh tơ. Chè dãi nắng thường bị hại nặng hơn chè trồng trong bóng râm. Ở Lâm Đồng, bọ cánh tơ thường xuất hiện nặng vào tháng 3-4 và tháng 7-9.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: hàng năm cày xới xáo để diệt nhộng trong đất. Lấp kín bộ rễ chè, nếu rễ chè hở ra ngoài nhiều nương chè sẽ bị bọ cánh tơ phá hoại. Trồng cây che bóng, thu hái đúng lúc, hái hết lá và búp non để giảm mật độ bọ cánh tơ.
+ Biện pháp hóa học: sử dụng thuốc các loại thuốc có hoạt chất như: Abamectin (Javitin 36EC, Tungatin 3.6 EC …), Emamectin benzoate (Dylan 2EC, Emaben 2.0ME, 3.6WG, Tungmectin 5EC, 5WG) …
e) Sâu cuốn lá non (Gracillaria theivora Walsingham)
* Triệu chứng gây hại: sâu non mới nở chui vào biểu bì và gặm chất xanh của lá, khi lớn hơn bò ra ngoài cuốn mép lá thành tổ để ẩn nấp, sức ăn của sâu lúc này khá mạnh, lá chè có thể bị ăn khuyết. Sâu non rất nhạy cảm với tiếng động, khi thấy động, sâu nhanh chóng rới khỏi tổ, nhả tơ treo mình xuống thấp để ẩn nấu, Búp chè bị sâu hại phát triển chậm, giảm phẩm chất chè thương phẩm. Ở Lâm Đồng, sâu phát triển mạnh vào thời điểm giữa mùa khô và mùa mưa (tháng 3-5).
* Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác và sinh học: sâu non bị rất nhiều các loài ong ký sinh họ Eulophidae, Bethylidae, … nhộng cũng bị ký sinh bởi loài Angitia sp… Vì vậy cần chú ý các biện pháp kỹ thuật để duy trì thiên địch trong tự nhiên. Thường xuyên vệ sinh tạo thông thoáng cho nương chè.
+ Biện pháp hóa học: sử dụng các loại thuốc gốc Abamectin (Dipel 6.4WG) hoặc Citrus oil (MAP Green 6SL).
f) Bọ hung nâu (Maladera Orientalis Motch)
* Triệu chứng gây hại: Bọ hung nâu (BHN) xuất hiện nhiều ở vùng chè Lâm Đồng. Một số quan sát bước đầu cho kết quả: BHN thân dài 3-5mm, rộng 2,5-3,5mm. Các pha phát dục: trứng, sâu non đều nằm trong đất, trưởng thành lên cây gây hại. BHN thường gây hại nặng trên chè kiến thiết cơ bản hoặc chè đốn. Đầu mùa mưa (tháng 4-5) BHN xuất hiện nhiều nhất. Ban ngày BHN chui xuống đất nằm tập trung quanh tán chè, ban đêm (tập trung nhiều nhất từ 18-21 giờ) lên ăn khuyết toàn bộ lá non và búp chè, chỉ chừa lại gân lá. Những vườn bị BHN gây hại nặng, chè gần như ngừng sinh trưởng từ 2- 3 tháng, vường chè bị hại biến thành màu nâu.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: trồng cây phân xanh mật độ cao giữa các hàng chè thời kiến thiết cơ bản. Xác định thời vụ đốn thích hợp.
+ Biện pháp hóa học: hiện nay, chưa có thuốc trong danh mục thuốc BVTV đăng ký phòng trừ bọ hung nâu hại chè. Vì vậy bà con nông dân có thể tham khảo thuốc hóa học gốc Chlorpyrifos Methyl (Sago-Super 3GR) rãi quang gốc chè với liều lượng 50-70 kg/ha; hoặc phun (Sago-Super 20EC) với liều lượng 1,0-1,25 lít/ha, lượng nước phun 400 lít/ha, ngừng sử dụng thuốc trước thu hoạch 14 ngày. Khi sử dụng thuốc Sago-Super 3GR, 20EC đại trà, cần dùng thử trên diện tích hẹp để đánh giá hiệu lực thuốc và ảnh hưởng của thuốc đối với cây trồng.
g) Mọt đục cành chè (Xyleborua Camerunus)
* Triệu chứng gây hại: là sâu hại đặc thù của chè, trong thời gian gần đây là một trong những đối tượng gây hại quan trọng nhất. Mọt đục cành có mỏ ngắn, toàn thân màu đen. Chiều dài từ 1-1,7mm, rộng 0,5-2mm. Con cái có màu đen bóng, con đực màu nâu nhạt, con cái để trứng cuối đường hầm. Trung bình một con cái đẻ từ 30-50 trứng tuỳ theo điều kiện ngoại cảnh. Vòng đời của mọt đục cành từ 30-35 ngày. Mọt đục lỗ chui vào cành chè sinh sống, đục khoét thành đường ngoằn ngoèo trong thân và cành chè, những đường hầm không định vị nhất định, mọt đục cành thải mạt cưa ra ngoài. Cây chè bị hại có hiện tượng héo kéo dài vào mùa khô, ngừng sinh trưởng hoặc chết sau đốn do mạch gỗ bị cắt đứt từng đoạn. Mọt gây hại trên giống PH1, TB14 nhiều hơn các giống chè khác.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: trồng cây che bóng phù hợp. Khi mọt mới gây hại có thể cắt bỏ cành bị đục, kết hợp bón phân, chăm sóc để chè phát triển. Thu gom những cành cây bị mọt đục đem tiêu hủy.
+ Biện pháp hóa học: dùng thuốc sinh học có hoạt chất Bacillus thuringiensis var T36 (TP - Thần Tốc 16000 IU).
2.8.3. Bệnh hại
a)Bệnh phồng lá chè (Exobasidium vexans Masse)
* Triệu chứng gây bệnh: lúc đầu vết bệnh là một chấm nhỏ màu vàng nhạt xung quanh vết bệnh bóng lên bất thường. Sau một thời gian, vết bệnh lớn dần, mặt trên lõm xuống. Mặt dưới lá phồng lên, trên vết phồng phủ một lớp phấn màu trắng. Cuối cùng vết bệnh chuyển sang màu nâu, vết phồng khô xẹp xuống. Bệnh tập trung chủ yếu trên lá bánh tẻ và lá non, đôi khi trên trái non, cành non làm cành bị chết khô. Nấm gây bệnh Exobasidium vexans Masse thuộc lớp nấm đảm. Bào tử hình bầu dục không màu. Bào tử lây lan nhờ gió, mưa. Từ khi xâm nhiễm đến khi xuất hiện triệu chứng bệnh là 3-4 ngày. Nấm bệnh phát triển thích hợp trong điều kiện nhiệt độ từi 15-200C, ẩm độ >85%. Ở nhiệt độ 11-120C bệnh phát triển chậm và nhiệt độ trên 250C bệnh ngừng phát triển. Ở Lâm Đồng, bệnh gây hại chủ yếu trong khoảng tháng 9-12 dương lịch. Bệnh thường nặng ở những vườn chè quản lý không tốt, cỏ dại nhiều, ẩm thấp.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: thu hái kỹ búp và lá bị bệnh, vệ sinh vườn chè thường xuyên, sạch cỏ, thông thoáng. Bón phân cân đối N-P-K. Tăng cường Kali trong thời điểm thuận lợi cho bệnh phát sinh gây hại.
+ Biện pháp hóa học: sử dụng các loại thuốc gốc Imibenconazole (Manage 5WP); Ningnanmycin (Diboxylin 2 SL); Trichoderma spp. + K-Humate + Fulvate + Chitosan + Vitamin hoặc Chitosan; .... Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì. Có thể phun liên tiếp 2 lần liên tục cách nhau 5-10 ngày khi thấy có thể khống chế được bệnh.
b) Bệnh chấm xám (Pestalozzia theae Sawada)
* Triệu chứng gây bệnh: bệnh xuất hiện chủ yếu trên lá già và lá bánh tẻ. Vết bệnh lúc đầu là một chấm nhỏ màu nâu thường ở mép lá, sau lan rộng rất nhanh ra khắp mặt lá. Vết bệnh có hình lượn sóng, ngoài cùng có một viền màu nâu đậm khá rõ. Bệnh nặng có thế làm cháy cả lá, trong vườn ươm bệnh làm rụng lá mẹ, chết cây con. Bào tử màu nâu sẫm, có 3 ngăn. Đầu nhỏ bào tử có một lông, đầu lớn có ba lông. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ 20-250C, ẩm độ cao. Trong năm, bệnh gây hại nhiều vào mùa mưa (từ tháng 5-10); mùa khô (tháng 12-3) bệnh giảm rõ rệt.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: vệ sinh vườn chè, thu gom, xử lý triệt để thân, lá bị bệnh. Trong vườn ươm khi bệnh mới phát sinh có thể dùng kéo cắt vết bệnh đem đốt để tránh lây lan.
+ Biện pháp hóa học: sử dụng các loại thuốc gốc Cucuminoid + Gingerol (Stifano 5.5SL); Oligosaccharins (Tutola 2.0SL); Trichoderma viride (Biobus 1.00 WP); Chlorothalonil (Daconil 75WP). Phun ngay khi bệnh mới xuất hiện vào đầu mùa mưa. Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
c) Bệnh thối búp chè (Collectotrichum theae Petch)
* Triệu chứng gây bệnh: bệnh thường xuất hiện ở lá, búp non, cuống lá và cành non. Vết bệnh lúc đầu bằng đầu kim, màu đen, sau loang rộng ra, có khi dài tới 2cm, bệnh nặng làm cả búp bị khô. Sợi nấm màu trắng. Bào tử nấm không màu, hình hạt đậu. Bào tử lây lan nhờ gió, mưa. Nấm bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ khoảng 270C, ẩm độ trên 90%. Bệnh thường phát sinh gây hại nặng vào mùa mưa (tháng 7-10). Vườn ươm thường bị bệnh nặng hơn vườn chè hái. Vườn trồng bón nhiều phân đạm rất thuận lợi cho bệnh phát triển. Giống PH1 và LDP1 bị thối búp phần chừa nặng hơn các giống chè Shan (TB14, LD97).
* Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: bón phân cân đối NPK, tăng lượng phân Kali trong thời kỳ bệnh phát triển mạnh. Tạo thông thoáng trong vường ươm. Phát hiện bệnh sớm vào tháng 7-10.
+ Biện pháp hóa học: khi bệnh mới xuất hiện cần sử dụng các loại thuốc gốc Citrus oil (MAP Green 3SL); Eugenol (Genol 1.2SL); Trichoderma viride (Biobus 1.00 WP); Chitosan (Stop 15WP); ... phun ngay khi bệnh chớm xuất hiện ở đầu mùa mưa. Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
d) Bệnh đốm nâu (Thán thư – Colletotrichum camelliae Masse)
* Triệu chứng gây bệnh: bệnh chủ yếu hại lá già và lá bánh tẻ. Vết bệnh có màu nâu, không có hình dạng nhất định hoặc hình bán nguyệt. Trên vết bệnh có các hình tròn đồng tâm, giữa vết bệnh lá bị khô có màu xám tro. Xung quanh vết bệnh biểu bì lá bị sưng lên dễ thấy. Bệnh nặng làm lá bị khô và rụng hàng loạt. Nấm gây bệnh collectotruchim camelliae có khối phân sinh bào tử là những hạt nhỏ màu đen trên vết bệnh, cành phân sinh bào tử có hình gậy, không màu, trên đỉnh phân sinh bào tử có hình thoi dài. Bào tử phát tán nhờ gió, mưa …. Xâm nhiễm vào lá chè. Sau 5-15 ngày kể từ khi bắt đầu xâm nhiễm thì vết bệnh xuất hiện. Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện 25-300C, ẩm độ cao, nên bệnh thường phát sinh gây hại nặng trong mùa mưa (tháng 7-9), nhất là sau những đợt mưa kéo dài.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: dọn sạch lá khô rụng, cỏ dại ở vườn chè để tiêu diệt nguồn bệnh. Bón đủ phân, cân đối NPK.
+ Biện pháp hóa học: dùng các loại thuốc gốc Difenoconazole + Propiconazole (Tilt super 300EC) hoặc Chitosan (Stop 15WP). Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
e) Bệnh tảo (Cephaleuros virescens Kunzel)
* Triệu chứng gây bệnh: Tảo Cephaleuros virescens gây hại chủ yếu trên lá chè già, cành bánh tẻ phần giò gà ở những năm trước và sau lứa hái trước. Lúc đầu vết bệnh là một chấm tròn nhỏ màu vàng nâu, sau loang dần ra thành vết hình tròn hoặc vô định. Vết bệnh hơi lồi lên, trên có một lớp nhung mịn. Bệnh thường phát sinh trên những vườn chè ẩm thấp, thông gió không tốt. Bệnh gây hại trong mùa mưa nhiều hơn.
* Biện pháp phòng trừ: quản lý tốt và làm sạch cỏ dại, bón phân hợp lý. Những vườn có cây che bóng cần rong tỉa cây che bóng cho thông thoáng. Có thể dùng các loại thuốc gốc đồng để diệt tảo.
f) Bệnh dán cao (Septobasidium theae)
* Triệu chứng gây bệnh: là bệnh đặc thù trên vùng chè Lâm Đồng, vết bệnh như tấm vải nỉ bám thành từng mảng mịn xung quanh cành chè. Bệnh thường xuất hiện trên cành già. Đoạn cành bị bệnh sưng loét, mạch gỗ và mạch libe bị tắc làm cây chè ngừng sinh trưởng. Những vườn chè TB14 hiện đang bị bệnh này gây hại khá nặng.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: vệ sinh vườn trồng, không để quá chu kỳ đốn.
+ Biện pháp hóa học: hiện nay, chưa có loại thuốc nào trong danh mục thuốc BVTV đăng ký phòng trừ bệnh dán cao trên cây chè. Vì vậy bà con nông dân có thể tham khảo loại thuốc gốc đồng Copper Hydroxide (Champion 77WP) hoặc hoạt chất Mancozeb + Metalaxyl - M (Ridomil Gold 68WP) pha đặc quét lên thân, cành. Trước khi sử dụng đại trà, cần dùng thử trên diện tích hẹp để đánh giá hiệu lực của thuốc và ảnh hưởng của thuốc đối với cây trồng.
2.9. Các biểu hiện bệnh sinh lý:
* Các biểu hiện thiếu đạm
- Thiếu đạm: cây sinh trưởng phát triển kém, ít nảy đọt, búp non có màu xanh nhạt, xanh vàng đến ửng đỏ, năng suất thấp
+ N có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định năng suất chè:
+ N kích thích cho mầm và búp phát triển tạo ra năng suất.
+ N tham gia cấu tạo của protein, diệp lục.
Bón đạm đầy đủ cân đối cũng làm tăng phẩm chất của chè…
* Các biểu hiện thiếu lân
Lá có màu xanh đục mờ không sáng bóng. Thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thu đạm kém.
Chè thiếu lân trầm trọng sẽ bị trụi cành, năng suất và chất lượng đều thấp.
* Các biểu hiện thiếu Kali
Thiếu kali: ở cây chè ban đầu thường có biểu hiện lá vàng, giòn và lá chè thường bị khô đầu lá và cháy hai bên rìa lá.
Khi phát hiện có triệu chứng thiếu kali cần phải bón phục hồi ngay
IV. Thu hoạch, sơ chế, chế biến và bảo quản
1. Thu hoạch
- Thu hái bằng máy: thời gian thu hái 1 lứa từ 45- 50 ngày. Một năm thu được từ 6-7 lứa.
+ Đối với vườn chè có tán che phủ dưới 70%: Nếu dùng máy hái đôi hái một lượt hết số búp còn dùng máy hái đơn mỗi lần hái hết 1/2 tán chè. Độ cao vết hái lứa sau cao hơn vết hái lứa trước từ 2-3 cm.
+ Đối với vườn chè có tán che phủ trên 70% nên dùng máy hái đôi hái 2 lần; mỗi lần hái nửa tán chè theo chiều dài luống. Lượt hái đi, máy hái hết khoảng 70-75 % diện tích mặt tán của mé luống bên này (theo chiều dài của luống). Lượt hái về, máy hái phần búp chè còn lại của mé luống bên kia.
- Khi thu hái chè bằng máy cần lưu ý:
+ Lứa hái máy đầu tiên nên nâng độ cao vết hái trên vết đốn sửa mặt tán từ 4- 5 cm để nuôi tầng lá dưỡng.
+ Để búp chè thu hái đạt sự đồng đều nên áp dụng biện pháp hái rảo những búp vượt trước khi thu hái máy từ 7-10 ngày.
+ Nếu người hái đi quá nhanh: máy hái không hết phần búp cần hái hoặc do lực đẩy của máy làm tán cây chè bị lệch theo chiều đi của máy hái nên dùng máy hái sửa lại ngay tán chè theo chiều đi ngược lại chiều máy hái vừa hái.
+ Những vườn chè thâm canh cao cần làm sạch những cây cỏ phát triển cao hơn tán chè trước khi thu hái để giảm thiểu sự lẫn tạp của cỏ dại.
+ Sau khi hái bằng máy nên hái thủ công lại những cành ở biên còn sót, dùng máy sửa lại cành biên và cành la để thuận lợi cho công việc chăm sóc và thu hái của lứa hái sau.
+ Luôn chú ý tốc độ di chuyển lưỡi hái chè. Khi tốc độ động cơ đạt khoảng 4000-5000 vòng/phút (mức ga ở khoảng ½), duy trì tốc độ di chuyển lưỡi hái ở khoảng 0,5m/s sẽ cho kết quả thu hoạch tốt nhất. Nếu lưỡi dao bị mắc kẹt do cành cứng hoặc do nguyên nhân khác thì phải tắt máy ngay lập tức, gỡ bỏ dị vật ra khỏi lưỡi dao (chú ý: lưỡi dao sắc có thể làm đứt tay, do đó phải hết sức cẩn thận).
2. Bảo quản chè búp nguyên liệu
- Sau khi hái, chè búp cần được rải một lớp mỏng vừa phải khoảng 30 cm trên bạt nylon dưới bóng mát. Thường xuyên đảo chè tránh làm dập nát, ôi ngốt, cháy chè . . .. Khi đóng vào bao khoảng 80- 90 kg/bao, không được dồn nén quá chặt hoặc dùng chân để dồn chè trong bao làm dập nát chè. Phải có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Chè được vận chuyển ngay về cơ sở chế biến không được để quá 6 giờ.