Ếch bám đá sa pa (Odorrana chapaensis)

Odorrana chapaensis (Bourret, 1937)

Mã định danh quốc gia: 48SFB.HSL
Nhóm hồ sơ: Loài nguy cấp, quý, hiếm
Danh mụcTình trạng của loài
Sách Đỏ Việt Nam 2024VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.
Danh lục Đỏ IUCNLC - Ít quan tâm — Đã được đánh giá nhưng chưa thuộc bất kỳ hạng bị đe dọa nào.

Ếch bám đá sa pa có tên khoa học Odorrana chapaensis (Bourret, 1937), thuộc họ Ranidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia.

Về hạng bảo tồn, loài được xếp VU - Sẽ nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2024; LC - Ít quan tâm theo Danh lục Đỏ IUCN.

Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 4 tỉnh, thành phố: Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La.

Loài đã được kiểm kê tại 6 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.

Hạng bảo tồn

Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.

Nguồn đánh giáHạngÝ nghĩa
Sách Đỏ Việt Nam 2024VU - Sẽ nguy cấp
Vulnerable
Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.
Danh lục Đỏ IUCNLC - Ít quan tâm
Least Concern
Đã được đánh giá nhưng chưa thuộc bất kỳ hạng bị đe dọa nào.

Đặc điểm và sinh thái

Đặc điểm nhận dạng

Thuộc nhóm ếch có kích thước trung bình đến lớn. Con đực trưởng thành có chiều dài đầu - thân (SVL) khoảng 60 – 75 mm, con cái lớn hơn rõ rệt, có thể đạt từ 80 – 95 mm. Thân hình thon dài nhưng săn chắc, cặp đùi rất cơ bắp. Mặt lưng thường có màu xanh lá cây tươi hoặc xanh ô liu, đôi khi xen kẽ các đốm màu nâu đen loang lổ. Da lưng mịn, có thể có các nốt sần rất nhỏ rải rác. Hai bên sườn và các chi có màu nâu xám với các vằn ngang tối màu. Vào mùa sinh sản con đực trưởng thành phát triển các túi sừng và nốt gai sừng nhỏ dẹt ở mặt trong ngón tay trước (ngón I). Đặc điểm này giúp chúng ôm bám con cái vô cùng chắc chắn trong môi trường nước chảy xiết mà không bị dòng nước đánh bật ra. Các đầu ngón tay và ngón chân phình rộng thành đĩa bám lớn, dẹp, có rãnh ngang đặc trưng của chi Odorrana. Ngón chân sau có màng bơi hoàn toàn và rất sâu, giúp tạo lực bơi và lực bật nhảy cực mạnh. Mặt bụng màu trắng đục hoặc hơi vàng nhạt, da bụng mịn, vùng họng có thể có các vết rạn màu xám nhạt.

Đặc tính sinh học

Loài này sống dọc theo các dòng suối đá lớn, các bờ thác nước có nước chảy quanh năm xuyên qua rừng thường xanh nguyên sinh núi cao. Chúng thường phân bố ở độ cao từ 1.000 m đến trên 2.200 m so với mực nước biển, nơi có khí hậu quanh năm mát mẻ đến lạnh giá. Hoạt động chủ yếu về đêm. Ban ngày, chúng ẩn nấp cực kỳ kín đáo trong các hang đá ẩm, kẽ nứt sâu của vách đá dựng đứng cạnh thác nước, hoặc trốn ngay sau các dải nước đổ của thác. Chúng có thính giác và thị giác rất nhạy bén; khi phát hiện tiếng động lớn hoặc ánh đèn rọi, chúng sẽ thực hiện những cú bật nhảy rất xa lao thẳng xuống lòng suối sâu hoặc lặn sâu vào các ngách đá ngầm để trốn thoát. Sinh sản vào mùa đông, con cái thu vào tháng 10 có trứng lớn màu vàng (Phạm Thế Cường 2018). Con đực thường ngồi trên các tảng đá ướt phát ra tiếng gọi bạn tình lảnh lót hòa lẫn vào tiếng thác đổ. Trứng được đẻ thành từng mảng lớn bọc trong màng thạch dày, dính chặt vào mặt dưới các tảng đá chìm sát đáy suối. Nòng nọc của chúng có thân hình dẹp thon, đuôi dài khỏe mạnh giúp chống chọi tốt với các dòng nước lũ quét qua suối. Chủ yếu ăn động vật không xương sốngnhư côn trùng, thân mềm và nhện (Pham et al. 2019).

Môi trường sinh sống

Loài này được ghi nhận bám trên các vách đá gần thác nước. Sinh cảnh xung quanh là rừng nhiều cây gỗ to và vừa, ở độ cao từ 800-2.500 m (Phạm Thế Cường 2018).

Tình trạng sinh sống

Loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 14.000 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 7; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng làm canh tác nông nghiệp và phát triển du lịch; loài này là đối tượng bị săn bắt làm thực phẩm của người dân địa phương

Mối đe dọa và giá trị

Mối đe dọa được ghi nhậnMất môi trường sống · Săn bắt, khai thác quá mức · Sự suy giảm quần thể
Giá trị của loàiGiá trị khoa học · Giá trị kinh tế · Giá trị môi trường sinh thái

Phân bố tại Việt Nam

Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.

Tỉnh, thành phố có ghi nhận phân bố
Lào Cai
Lai Châu
Điện Biên
Sơn La

Khu bảo tồn ghi nhận loài

Theo kết quả kiểm kê loài tại các khu bảo tồn, di sản thiên nhiên trong Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.

Khu bảo tồn / di sản thiên nhiênPhân loạiĐịa bàn
Vườn quốc gia Hoàng LiênDi sản thiên nhiên cấp quốc gia đặc biệtLào Cai, Lai Châu
Khu dự trữ thiên nhiên Mường NhéDi sản thiên nhiên cấp tỉnhĐiện Biên
Khu dự trữ thiên nhiên Mường LaDi sản thiên nhiên cấp tỉnhSơn La
Khu bảo tồn thiên nhiên CopiaDi sản thiên nhiên cấp tỉnhSơn La
Khu dự trữ thiên nhiên Tà XùaDi sản thiên nhiên cấp tỉnhSơn La
Vườn quốc gia Bát XátDi sản thiên nhiên cấp quốc giaLào Cai

Loài khác trong họ Ranidae

Tên gọiTên khoa họcSách Đỏ VNIUCNNĐ 84/2021
Ếch jingdongOdorrana jingdongensisVU - Sẽ nguy cấp
Ếch bám đá hoaOdorrana geminataVU - Sẽ nguy cấp
Chàng míHylarana montivagaEN - Nguy cấp
Ếch bám đá cúcAmolops cucaeEN - Nguy cấpEN - Nguy cấp
Ếch trần kiênOdorrana nasutaLC - Ít quan tâm
Ếch junlianOdorrana junlianensisLC - Ít quan tâm
Ếch bám đá đốm vàngAmolops viridimaculatusLC - Ít quan tâm
Ếch bám đá nhỏAmolops minutusEN - Nguy cấp
Ếch suối yên tửOdorrana yentuensisEN - Nguy cấp
Ếch mut-x-manOdorrana mutschmanniDD - Thiếu dữ liệu

Câu hỏi thường gặp

Ếch bám đá sa pa là loài gì?

Ếch bám đá sa pa có tên khoa học Odorrana chapaensis (Bourret, 1937), thuộc họ Ranidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia. Thuộc nhóm ếch có kích thước trung bình đến lớn. Con đực trưởng thành có chiều dài đầu - thân (SVL) khoảng 60 – 75 mm, con cái lớn hơn rõ rệt, có thể đạt từ 80 – 95 mm. Thân hình thon dài nhưng săn chắc, cặp đùi rất cơ bắp. Mặt lưng thường có màu xanh lá cây tươi hoặc xanh ô liu, đôi khi xen kẽ các đốm màu nâu đen loang lổ. Da lưng mịn, có thể có các nốt sần rất nhỏ rải rác. Hai bên sườn và các ch... Loài được ghi nhận phân bố tại Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La.

Ếch bám đá sa pa được xếp hạng bảo tồn thế nào?

Sách Đỏ Việt Nam 2024 xếp loài ở hạng VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. Danh lục Đỏ IUCN xếp loài ở hạng LC - Ít quan tâm — Đã được đánh giá nhưng chưa thuộc bất kỳ hạng bị đe dọa nào. Hạng bảo tồn phản ánh mức độ nguy cơ tuyệt chủng theo đánh giá khoa học, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không.

Ếch bám đá sa pa phân bố ở khu bảo tồn nào?

Dữ liệu kiểm kê ghi nhận loài tại 6 khu: Vườn quốc gia Hoàng Liên, Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé, Khu dự trữ thiên nhiên Mường La, Khu bảo tồn thiên nhiên Copia, Khu dự trữ thiên nhiên Tà Xùa, Vườn quốc gia Bát Xát.

Vì sao ếch bám đá sa pa bị đe dọa?

Cơ sở dữ liệu ghi nhận các mối đe dọa chính với loài gồm: Mất môi trường sống; Săn bắt, khai thác quá mức; Sự suy giảm quần thể. Về tình trạng sinh sống: Loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 14.000 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 7; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng làm canh tác nông nghiệp và phát triển du lịch; loà...

Căn cứ pháp lý

  • Luật Đa dạng sinh học 2008
  • Nghị định 06/2019/NĐ-CP
  • Nghị định 84/2021/NĐ-CP
  • Nghị định 160/2013/NĐ-CP
  • Nghị định 26/2019/NĐ-CP
Cập nhật từ nguồn: 12/08/2026. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ