Ếch bám đá đốm vàng (Amolops viridimaculatus)

Amolops viridimaculatus (Jiang, 1983)

Mã định danh quốc gia: CWBQ.HSL
Nhóm hồ sơ: Loài nguy cấp, quý, hiếm
Danh mụcTình trạng của loài
Sách Đỏ Việt Nam 2024VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.
Danh lục Đỏ IUCNLC - Ít quan tâm — Đã được đánh giá nhưng chưa thuộc bất kỳ hạng bị đe dọa nào.

Ếch bám đá đốm vàng có tên khoa học Amolops viridimaculatus (Jiang, 1983), thuộc họ Ranidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia.

Về hạng bảo tồn, loài được xếp VU - Sẽ nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2024; LC - Ít quan tâm theo Danh lục Đỏ IUCN.

Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 2 tỉnh, thành phố: Lai Châu, Lào Cai.

Loài đã được kiểm kê tại 1 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.

Hạng bảo tồn

Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.

Nguồn đánh giáHạngÝ nghĩa
Sách Đỏ Việt Nam 2024VU - Sẽ nguy cấp
Vulnerable
Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.
Danh lục Đỏ IUCNLC - Ít quan tâm
Least Concern
Đã được đánh giá nhưng chưa thuộc bất kỳ hạng bị đe dọa nào.

Đặc điểm và sinh thái

Đặc điểm nhận dạng

Amolops viridimaculatus có vẻ ngoài vô cùng đẹp mắt và các đặc điểm tiến hóa chuyên hóa cho việc bám đá Amolops viridimaculatus thuộc nhóm ếch suối có kích thước trung bình đến lớn. Chiều dài đầu - thân của con đực trưởng thành khoảng 45 – 55 mm, trong khi con cái lớn hơn rõ rệt, dao động từ 70 – 85 mm. Cơ thể thon mảnh nhưng rất săn chắc. Mặt lưng của chúng có màu nâu đen, nâu thẫm hoặc xám đen, được điểm xuyết bởi rất nhiều đốm màu xanh lá cây tươi hoặc xanh lục mạ lớn nhỏ không đều. Tất cả các đầu ngón tay và ngón chân phình rộng thành đĩa bám lớn, dẹt hình quạt, có rãnh ngang ngăn cách rõ rệt. Cấu trúc này hoạt động như các giác bám giúp chúng di chuyển dễ dàng trên vách đá dựng đứng trơn trượt sát mặt thác mà không bị nước cuốn. Chi sau rất dài và cơ bắp. Ngón chân sau có màng bơi hoàn toàn, màng bơi căng rộng giúp tạo lực rẽ nước cực mạnh. Nòng nọc của loài này có đĩa hút ở bụng rất lớn và phát triển.

Đặc tính sinh học

Loài này chuyên sống xung quanh các dòng suối đá lớn, thác nước chảy mạnh, dòng nước xối xả trong các khu rừng thường xanh mưa nhiệt đới núi cao. Chúng phân bố ở độ cao từ trung bình đến cao, phổ biến từ 1.200 m đến trên 2.400 m so với mực nước biển. Hoạt động cả ngày lẫn đêm nhưng mạnh nhất là vào ban đêm hoặc những ngày sương mù ẩm ướt. Ban ngày chúng thường bám cố định trên các vách đá ướt nằm ngay bên cạnh hoặc phía sau dòng thác đổ, nơi có những tia nước bắn vào liên tục. Khi bị động, chúng thực hiện những cú bật nhảy ngoạn mục lao thẳng vào lòng thác nước hung dữ và lặn mất hút. Mùa sinh sản diễn ra vào mùa mưa (tháng 4 - 5). Con cái đẻ trứng dính thành từng mảng lớn, ẩn giấu rất kỹ dưới mặt đáy của các tảng đá lớn bị ngập nước hoàn toàn để bảo vệ trứng khỏi dòng lũ quét núi cao.

Môi trường sinh sống

Loài này ghi nhận ở độ cao trên 1.850 m, thường bám trên đá ở chỗ thác nước cao từ 5-30 m, ở các suối trong rừng thường xanh trên núi cao (Orlov & Ho 2007).

Tình trạng sinh sống

Loài này hiện chỉ ghi nhận phân bố ở các tỉnh Lai Châu và Lào Cai. Diện tích vùng phân bố ước tính (EOO) khoảng 1.500 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 2; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất nông nghiệp và phát triển du lịch

Mối đe dọa và giá trị

Mối đe dọa được ghi nhậnSự suy giảm quần thể · Mất môi trường sống
Giá trị của loàiGiá trị khoa học · Giá trị môi trường sinh thái

Phân bố tại Việt Nam

Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.

Tỉnh, thành phố có ghi nhận phân bố
Lai Châu
Lào Cai

Khu bảo tồn ghi nhận loài

Theo kết quả kiểm kê loài tại các khu bảo tồn, di sản thiên nhiên trong Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.

Khu bảo tồn / di sản thiên nhiênPhân loạiĐịa bàn
Vườn quốc gia Hoàng LiênDi sản thiên nhiên cấp quốc gia đặc biệtLào Cai, Lai Châu

Loài khác trong họ Ranidae

Tên gọiTên khoa họcSách Đỏ VNIUCNNĐ 84/2021
Ếch jingdongOdorrana jingdongensisVU - Sẽ nguy cấp
Ếch bám đá sa paOdorrana chapaensisLC - Ít quan tâm
Ếch bám đá hoaOdorrana geminataVU - Sẽ nguy cấp
Chàng míHylarana montivagaEN - Nguy cấp
Ếch bám đá cúcAmolops cucaeEN - Nguy cấpEN - Nguy cấp
Ếch trần kiênOdorrana nasutaLC - Ít quan tâm
Ếch junlianOdorrana junlianensisLC - Ít quan tâm
Ếch bám đá nhỏAmolops minutusEN - Nguy cấp
Ếch suối yên tửOdorrana yentuensisEN - Nguy cấp
Ếch mut-x-manOdorrana mutschmanniDD - Thiếu dữ liệu

Câu hỏi thường gặp

Ếch bám đá đốm vàng là loài gì?

Ếch bám đá đốm vàng có tên khoa học Amolops viridimaculatus (Jiang, 1983), thuộc họ Ranidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia. Amolops viridimaculatus có vẻ ngoài vô cùng đẹp mắt và các đặc điểm tiến hóa chuyên hóa cho việc bám đá Amolops viridimaculatus thuộc nhóm ếch suối có kích thước trung bình đến lớn. Chiều dài đầu - thân của con đực trưởng thành khoảng 45 – 55 mm, trong khi con cái lớn hơn rõ rệt, dao động từ 70 – 85 mm. Cơ thể thon mảnh nhưng rất săn chắc. Mặt lưng của chúng có màu nâu đen, nâu thẫm hoặc xám đen,... Loài được ghi nhận phân bố tại Lai Châu, Lào Cai.

Ếch bám đá đốm vàng được xếp hạng bảo tồn thế nào?

Sách Đỏ Việt Nam 2024 xếp loài ở hạng VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. Danh lục Đỏ IUCN xếp loài ở hạng LC - Ít quan tâm — Đã được đánh giá nhưng chưa thuộc bất kỳ hạng bị đe dọa nào. Hạng bảo tồn phản ánh mức độ nguy cơ tuyệt chủng theo đánh giá khoa học, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không.

Ếch bám đá đốm vàng phân bố ở khu bảo tồn nào?

Dữ liệu kiểm kê ghi nhận loài tại 1 khu: Vườn quốc gia Hoàng Liên.

Vì sao ếch bám đá đốm vàng bị đe dọa?

Cơ sở dữ liệu ghi nhận các mối đe dọa chính với loài gồm: Sự suy giảm quần thể; Mất môi trường sống. Về tình trạng sinh sống: Loài này hiện chỉ ghi nhận phân bố ở các tỉnh Lai Châu và Lào Cai. Diện tích vùng phân bố ước tính (EOO) khoảng 1.500 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 2; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất nông nghiệp và phát triển du lịch

Căn cứ pháp lý

  • Luật Đa dạng sinh học 2008
  • Nghị định 06/2019/NĐ-CP
  • Nghị định 84/2021/NĐ-CP
  • Nghị định 160/2013/NĐ-CP
  • Nghị định 26/2019/NĐ-CP
Cập nhật từ nguồn: 12/08/2026. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ