Ếch bám đá hoa (Odorrana geminata)

Odorrana geminata Bain, Stuart, Nguyen, Che & Rao, 2009

Mã định danh quốc gia: 48SFJ.HSL
Nhóm hồ sơ: Loài nguy cấp, quý, hiếm
Danh mụcTình trạng của loài
Sách Đỏ Việt Nam 2024VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.
Danh lục Đỏ IUCNVU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.

Ếch bám đá hoa có tên khoa học Odorrana geminata Bain, Stuart, Nguyen, Che & Rao, 2009, thuộc họ Ranidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia.

Về hạng bảo tồn, loài được xếp VU - Sẽ nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2024; VU - Sẽ nguy cấp theo Danh lục Đỏ IUCN.

Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 2 tỉnh, thành phố: Cao Bằng, Tuyên Quang.

Loài đã được kiểm kê tại 4 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.

Hạng bảo tồn

Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.

Nguồn đánh giáHạngÝ nghĩa
Sách Đỏ Việt Nam 2024VU - Sẽ nguy cấp
Vulnerable
Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.
Danh lục Đỏ IUCNVU - Sẽ nguy cấp
Vulnerable
Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.

Đặc điểm và sinh thái

Đặc điểm nhận dạng

Odorrana geminata là loài ếch có kích thước trung bình đến lớn. Con đực trưởng thành có chiều dài đầu - thân khoảng 65 – 76 mm, trong khi con cái lớn hơn đáng kể, đạt khoảng 84 – 100 mm. Thân hình thon mảnh, các chi dài. Mặt lưng có màu xanh lá cây tươi rất đẹp, mịn màng và không có nốt sần lớn. Tuy nhiên, hai bên sườn và các chi lại có màu nâu xám hoặc nâu đen kèm theo các đốm sẫm màu. Đầu dài hơn rộng, mõm tù. Màng nhĩ rất lớn và rõ ràng (ở con đực màng nhĩ lớn hơn con cái). Có một gờ da màu trắng hoặc vàng nhạt chạy dọc từ dưới mắt đến góc hàm. Các đầu ngón tay và ngón chân phình rộng thành đĩa bám lớn và dẹt, có rãnh ngang ngăn cách mặt trên và mặt dưới đĩa ngón. Ngón chân sau có màng bơi hoàn toàn, màng bơi rất sâu giúp chúng di chuyển và bám chắc vào các bề mặt đá dựng đứng hoặc trơn trượt bên thác nước chảy xiết. Mặt bụng màu trắng đục hoặc hơi vàng ở phần bụng, vùng họng thường có các vệt rạn xám mờ.

Đặc tính sinh học

Loài này chuyên sống với các dòng suối đá lạnh, thác nước chảy trong các khu rừng thường xanh mưa nhiệt đới núi cao hoặc các thung lũng đá vôi, ở độ cao từ 400 m đến trên 1.500 m so với mực nước biển. Hoạt động mạnh về đêm. Ban ngày, chúng ẩn nấp cực kỳ kín đáo trong các hang đá ẩm ướt, các kẽ nứt sâu của vách đá dựng đứng sát dòng nước hoặc phía sau các bức màn nước của thác. Khi gặp nguy hiểm, chúng có khả năng bật nhảy cực xa và lao thẳng xuống lòng suối sâu để lẩn trốn. Sinh sản vào mùa đông, con cái thu vào tháng 10 có trứng lớn màu vàng, không phân cực. Tiếng kêu của con đực rất đặc trưng, thường vang lên từ các hốc đá ven suối. Con cái đẻ trứng dính thành từng mảng lớn, được bao bọc bởi lớp màng thạch dày dưới mặt các tảng đá chìm. Nòng nọc có thân hình dẹp mỏng, cơ đuôi khỏe giúp thích nghi tốt với môi trường nước chảy mạnh.

Môi trường sinh sống

Loài này thường gặp bám trên các vách đá gần thác nước. Sinh cảnh xung quanh là rừng cây gỗ to và vừa, ở độ cao từ 753-1.700 m (Bain et al. 2009, Pham et al. 2019).

Tình trạng sinh sống

Loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang và Tuyên Quang. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 3.100 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 3; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác quặng, khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng làm canh tác nông nghiệp; loài này là đối tượng bị săn bắt làm thực phẩm của người dân địa phương

Mối đe dọa và giá trị

Mối đe dọa được ghi nhậnMất môi trường sống · Săn bắt, khai thác quá mức · Sự suy giảm quần thể
Giá trị của loàiGiá trị khoa học · Giá trị kinh tế · Giá trị môi trường sinh thái

Phân bố tại Việt Nam

Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.

Tỉnh, thành phố có ghi nhận phân bố
Cao Bằng
Tuyên Quang

Khu bảo tồn ghi nhận loài

Theo kết quả kiểm kê loài tại các khu bảo tồn, di sản thiên nhiên trong Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.

Khu bảo tồn / di sản thiên nhiênPhân loạiĐịa bàn
Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia ĐénDi sản thiên nhiên cấp quốc giaCao Bằng
Vườn quốc gia Du Già - Cao nguyên đá Đồng VănDi sản thiên nhiên cấp quốc giaTuyên Quang
Khu dự trữ thiên nhiên Tây Côn LĩnhDi sản thiên nhiên cấp tỉnhTuyên Quang
Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Cham ChuDi sản thiên nhiên cấp tỉnhTuyên Quang

Loài khác trong họ Ranidae

Tên gọiTên khoa họcSách Đỏ VNIUCNNĐ 84/2021
Ếch jingdongOdorrana jingdongensisVU - Sẽ nguy cấp
Ếch bám đá sa paOdorrana chapaensisLC - Ít quan tâm
Chàng míHylarana montivagaEN - Nguy cấp
Ếch bám đá cúcAmolops cucaeEN - Nguy cấpEN - Nguy cấp
Ếch trần kiênOdorrana nasutaLC - Ít quan tâm
Ếch junlianOdorrana junlianensisLC - Ít quan tâm
Ếch bám đá đốm vàngAmolops viridimaculatusLC - Ít quan tâm
Ếch bám đá nhỏAmolops minutusEN - Nguy cấp
Ếch suối yên tửOdorrana yentuensisEN - Nguy cấp
Ếch mut-x-manOdorrana mutschmanniDD - Thiếu dữ liệu

Câu hỏi thường gặp

Ếch bám đá hoa là loài gì?

Ếch bám đá hoa có tên khoa học Odorrana geminata Bain, Stuart, Nguyen, Che & Rao, 2009, thuộc họ Ranidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia. Odorrana geminata là loài ếch có kích thước trung bình đến lớn. Con đực trưởng thành có chiều dài đầu - thân khoảng 65 – 76 mm, trong khi con cái lớn hơn đáng kể, đạt khoảng 84 – 100 mm. Thân hình thon mảnh, các chi dài. Mặt lưng có màu xanh lá cây tươi rất đẹp, mịn màng và không có nốt sần lớn. Tuy nhiên, hai bên sườn và các chi lại có màu nâu xám hoặc nâu đen kèm theo các đốm sẫm màu. Đầu dài hơ... Loài được ghi nhận phân bố tại Cao Bằng, Tuyên Quang.

Ếch bám đá hoa được xếp hạng bảo tồn thế nào?

Sách Đỏ Việt Nam 2024 xếp loài ở hạng VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. Danh lục Đỏ IUCN xếp loài ở hạng VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. Hạng bảo tồn phản ánh mức độ nguy cơ tuyệt chủng theo đánh giá khoa học, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không.

Ếch bám đá hoa phân bố ở khu bảo tồn nào?

Dữ liệu kiểm kê ghi nhận loài tại 4 khu: Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, Vườn quốc gia Du Già - Cao nguyên đá Đồng Văn, Khu dự trữ thiên nhiên Tây Côn Lĩnh, Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Cham Chu.

Vì sao ếch bám đá hoa bị đe dọa?

Cơ sở dữ liệu ghi nhận các mối đe dọa chính với loài gồm: Mất môi trường sống; Săn bắt, khai thác quá mức; Sự suy giảm quần thể. Về tình trạng sinh sống: Loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang và Tuyên Quang. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 3.100 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 3; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác quặng, khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng làm canh tác nông nghiệp; loài này là đố...

Căn cứ pháp lý

  • Luật Đa dạng sinh học 2008
  • Nghị định 06/2019/NĐ-CP
  • Nghị định 84/2021/NĐ-CP
  • Nghị định 160/2013/NĐ-CP
  • Nghị định 26/2019/NĐ-CP
Cập nhật từ nguồn: 12/08/2026. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ