Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên mía.
Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.
| Dịch hại | Số thuốc đã đăng ký |
|---|---|
| Cỏ hòa thảo | 19 |
| Rệp bông xơ | 18 |
| Cỏ lá rộng | 14 |
| Lá rộng | 13 |
| Sâu đục thân | 12 |
| Cỏ các loại | 12 |
| Cỏ | 5 |
| Cỏ lá hẹp | 4 |
| Cỏ dại | 2 |
| Rệp xơ bông | 2 |
| Cỏ hòa thảo và lá rộng | 2 |
| Rệp muội | 2 |
| Rệp | 2 |
| Năn lác | 1 |
| Tuyến trùng | 1 |
| Bọ hung | 1 |
| Cỏ hòa thảo lá rộng | 1 |
| Rệp sáp | 1 |
| Sùng đất | 1 |
| Sùng trắng | 1 |
(Ban hành kèm Quyết định số /QĐ-UBND, ngày / /2025
của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1. Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa
- Nhiệt độ: thích hợp trong phạm vi 20 - 25oC. Thời kỳ đầu, từ khi đặt hom đến mọc mầm thành cây con, nhiệt độ thích hợp từ 20 - 25oC. Thời kỳ đẻ nhánh (cây có 06 - 09 lá), nhiệt độ thích hợp 20 - 30oC. Ở thời kỳ mía làm dóng vươn cao, yêu cầu nhiệt độ cao hơn để tăng cường quang hợp, tốt nhất là 30 - 32oC.
- Lượng mưa và ẩm độ: Lượng mưa thích hợp 1.500 - 2.000 mm/năm, phân bố trong khoảng thời gian từ 08 - 10 tháng, từ khi cây mía mọc mầm đến thu hoạch. Thời kỳ cây mía làm dóng vươn cao rất cần nhiều nước, ẩm độ thích hợp khoảng 70 - 80%, ở các thời kỳ khác cần ẩm độ 65 - 70%.
2. Ánh sáng: Khi cường độ ánh sáng tăng thì hoạt động quang hợp của bộ lá cũng tăng. Thiếu ánh sáng cây mía phát triển yếu, vóng cây, hàm lượng đường thấp và cây mía dễ bị sâu bệnh. Trong suốt chu kỳ sinh trưởng, cây mía cần khoảng 2.000 - 3.000 giờ chiếu sáng, tối thiểu cũng 1.200 giờ trở lên.
3. Đất đai: Cây mía thích hợp ở loại đất tơi xốp, tầng đất mặt sâu, giữ ẩm tốt và dễ thoát nước. Độ pH thích hợp 5,5 - 7,5. Các loại đất như sét nặng, chua, mặn, bị ngập úng hoặc thoát nước kém… đều không thích hợp cho cây mía sinh trưởng và phát triển.
II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống: phổ biến có các nhóm giống sau:
+ Giống F.156: Nhập nội từ Đài Loan. Có thể trồng trên nhiều loại đất, chịu hạn và chịu phèn. Thời gian chín trung bình 11 - 12 tháng, ra hoa muộn và tỉ lệ ra hoa thấp (10 - 15%). Năng suất cao (80 - 100 tấn/ha). Kháng bệnh tốt nhưng dễ nhiễm sâu đục thân.
+ Giống LK92-11: Nhập nội từ Thái Lan. Có thể trồng trên nhiều loại đất, chịu hạn và chịu phèn. Thời gian chín trung bình 11 - 12 tháng, ra hoa sớm và tỉ lệ ra hoa thấp (10 - 15%). Năng suất cao (80 - 100 tấn/ha). Kháng sâu bệnh tốt.
+ Giống MY-5514: Nhập nội từ Cuba. Tốc độ tăng trưởng nhanh, thời gian chín trung bình đến muộn. Năng suất cao (trên 100 tấn/ha), tỉ lệ đường khá, kháng sâu bệnh tốt.
+ Giống ROC 16: Nhập nội từ Đài Loan. Tốc độ tăng trưởng nhanh. Chín trung bình, để gốc tốt, năng suất cao, kháng sâu bệnh.
Ngoài ra còn một số giống khá phổ biến như: VN 84-4137, R 570, K 84-200, ROC 10, ROC 25, VN 84-422, VN 84-4137, F.157, F.154, QĐ 86-368,…
1.2. Tiêu chuẩn cây giống
- Có thể dùng hom ngọn hoặc hom thân và nên chọn hom có mắt mầm không quá già, tốt nhất là nên dùng hom ở ruộng nhân giống hoặc ở ruộng mía tốt khoảng 07 - 08 tháng tuổi; hom giống phải đảm bảo không bị lẫn tạp giống khác (độ thuần chủng cao trên 98%) và phải sạch sâu bệnh. Hom giống sau khi thu hoạch phải trồng ngay, nếu để lâu chất lượng sẽ giảm, hom càng tươi trồng càng tốt.
- Hom mía giống phải đạt các yêu cầu sau:
+ Có 2 – 3 mắt mầm tốt (mầm phía ngọn có đầy đủ bộ phận, có sắc tố đặc trưng; mầm phía gốc có vẩy mầm chưa hóa gỗ; mắt mầm không bị khô hoặc xây xát, dập nát), tỷ lệ rễ khí sinh dưới 10% số điểm rễ.
+ Không bị nhiễm sâu bệnh, không bị cong queo.
+ Có đường kính đạt trên 80% đường kính thân đặc trưng của giống và độ dài lóng không dài hoặc ngắn hơn quá 20% độ dài đặc trưng của giống.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng
Thời vụ trồng mía thích hợp với điều kiện khí hậu của từng vùng và đặc điểm của từng giống mía.
- Vụ đầu mùa mưa trồng vào tháng 4 - 6, thu hoạch khoảng 10 - 12 tháng sau trồng. Trồng vụ này, khi có mưa, đất đủ ẩm, mầm mía mọc nhanh, đẻ nhánh mạnh, sinh trưởng tốt, cho năng suất cao.
- Vụ cuối mùa mưa, trồng khoảng tháng 10 - 12, thu hoạch sau 12 - 15 tháng do đó năng suất mía và tỉ lệ đường cao hơn vụ đầu mùa mưa. Một số nơi đất thấp, có nguồn nước tưới thì có thể trồng tháng 12 đến tháng 2 năm sau.
2.2. Mật độ trồng
Khoảng cách và mật độ trồng thường được áp dụng là: khoảng cách hàng 1.0 - 1,2 m (số lượng hom giống khoảng 34.000 – 36.000 hom/ha).
2.3. Chuẩn bị đất
Đất trồng mía yêu cầu phải bằng phẳng, tơi xốp, sạch cỏ, giữ ẩm tốt vào mùa khô và thoát nước tốt vào mùa mưa. Để đạt các yêu cầu trên cần tiến hành các công việc cày, bừa, san phẳng đất và rạch hàng đặt hom.
- Đối với đất trồng mới: Ở vùng đất cao cần phải cày ủi, bứng hết gốc cây, sau đó cày bừa kỹ kết hợp san lấp bằng phẳng và rạch hàng đặt hom. Với vùng đất dốc thì hàng mía phải vuông gốc với hướng dốc để hạn chế xói mòn.
- Đối với đất phá gốc mía trồng lại: Cày hoặc cuốc hết gốc mía cũ, để một thời gian cho gốc cũ khô chết hoàn toàn (khoảng 03 - 04 tuần), sau đó cày bừa trồng mới.
2.4. Kỹ thuật trồng
- Rạch hàng: Căn cứ vào khoảng cách hàng đã định để rạch hàng đặt hom. Độ sâu rạch hàng thường biến động trong khoảng 15 - 30 cm.
- Bón lót: Trước khi đặt hom cần bón lót vào rãnh toàn bộ lượng phân hữu cơ, toàn bộ phân lân (P), một phần phân đạm (N) và một phần kali (K). Cần bón thêm một số thuốc trừ sâu dạng hạt được phép sử dụng tại Việt Nam để phòng sâu đục thân và mối.
- Đặt hom: Sau khi hoàn tất công việc rạch hàng, bón lót phân thì tiến hành đặt hom giống. Gồm các cách:
+ Đặt 1 hàng nối tiếp nhau.
+ Đặt 2 hàng cặp đôi.
+ Đặt 2 hàng so le (kiểu nanh sấu).
- Lấp đất: Đây là một trong những công đoạn không kém phần quan trọng, ảnh hưởng đến tỉ lệ nảy mầm và mật độ cây mía sau trồng. Đặt hom đến đâu phải lấp đất ngay đến đó, không để hom phơi lâu trên ruộng. Đất lấp kín hom với độ dày vừa phải (khoảng 3 - 5 cm). Ở vùng đất cao, nếu trồng vào cuối mùa mưa (tháng 11 - 12).
2.5. Phân bón và cách bón phân
a) Lượng phân bón(tính cho 01 ha)
- Phân chuồng hoai: 10 – 20 tấn; 100 – 1500 kg vôi bột bón ruộng.
- Phân hóa học (lượng nguyên chất): 160-200kg N – 100-200kg P2O5 – 160-200 kg K2Otương đương: 350-450 kg Ure + 500-1000 kg lân Văn Điển + 320-400 kg KCl.
b) Cách bón
+ Bón lót: Toàn bộ phân hữu cơ, phân lân, 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali. Trường hợp cần phải xử lý mối và bọ hung thì bón thêm thuốc trừ sâu được phép sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Ngay sau khi bón lót, nên lấp 01 lớp đất mỏng 1 - 3 cm rồi mới đặt hom.
+ Bón thúc lần 1 (thúc đẻ): Khi mía 04 - 05 lá, bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali.
+ Bón thúc lần 2 (thúc lóng): Khi mía 09 - 10 lá (khi mía có 01 - 02 lóng), bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali. Nếu đất khô hạn hoặc nhiễm phèn mặn thì nên bón bổ sung thêm 01 lần qua lá.
+ Lưu ý: Ngừng bón phân trước thu hoạch 6 tháng để không ảnh hưởng xấu đến phẩm chất của nguyên liệu.
2.6. Chăm sóc
2.6.1. Mía tơ
a) Dặm mía: Dặm lại các hốc không mọc bằng hom dự phòng hoặc lấy mầm từ chỗ dày. Khoảng 15 - 25 ngày sau trồng, khi cây mía có 01 - 02 lá thật hoặc thu hoạch vụ trước, nếu thấy mất khoảng > 0,8 m thì phải trồng dặm. Nên dặm vào buổi chiều hoặc lúc trời mát. Đào rãnh sâu ngang với đáy rãnh lúc trồng, đặt cây dặm và lấp kín gốc. Khi dặm đất phải đủ ẩm, cây đem dặm phải cắt bớt lá để hạn chế thoát hơi nước, nén chặt đất vào gốc cây dặm. Nếu có điều kiện cần tưới ngay sau khi dặm.
b) Làm cỏ, vun xới
- Cỏ dại là đối tượng cạnh tranh ánh sáng, nước và dinh dưỡng với cây mía và là nơi ẩn náu của rất nhiều loại sâu bệnh gây hại. Có rất nhiều loại cỏ gây hại cho mía như: Cỏ tranh, cỏ ống, cỏ chỉ, cỏ cú (cỏ gấu), mắc cỡ…
- Có thể diệt trừ bằng nhiều cách như nhổ bằng tay (khi mía còn nhỏ), cày, cuốc, máy móc hoặc sử dụng thuốc trừ cỏ.
- Vun xới: Trong quá trình sinh trưởng của cây mía có các đợt chăm sóc như sau:
+ Đợt 01: Sau khi trồng từ 04 - 06 tuần lễ, cây mía có 05 - 07 lá và đang bước vào thời kỳ đẻ nhánh nên tiến hành làm cỏ, xới xáo phá váng.
+ Đợt 02: Khoảng 08 - 09 tuần sau khi trồng, khi cây mía kết thúc giai đoạn đẻ nhánh chuyển sang thời kỳ làm dóng, vươn cao. Tiến hành làm cỏ và bón thúc phân lần 2 kết hợp với vét rãnh và vun cao gốc.
+ Đợt 03: Khi cây mía đã có 03 - 05 dóng, nếu ruộng mía có cỏ thì tiến hành làm lần cuối. Nếu cây mía phát triển kém thì có thể bón bổ sung thêm phân đạm (20 - 30 kg đạm/ha) kết hợp với vun sửa luống mía và phòng trừ sâu bệnh.
c) Tưới nước: chỉ tiến hành tưới nước bổ sung cho mía vào các giai đoạn khô hạn kéo dài, đặc biệt là giai đoạn mọc mầm, đẻ nhánh và bắt đầu vươn lóng. Dừng tưới cho cây mía trước khi thu hoạch 01 tháng. Tùy theo điều kiện, có thể áp dụng các phương pháp tưới nước cho mía phổ biến như tưới thấm, tưới nhỏ giọt, tưới phun và tưới tràn theo rãnh mía. Lượng tưới: 40 - 50 mm/lần tưới, tương ứng với 400 - 500 m3/ha/lần tưới. Tưới 01 - 02 lần/tháng. Mía cần nhiều nước nhưng chịu úng rất kém, đặc biệt là thời kỳ cây con và thời kỳ vươn lóng.
2.6.2. Mía gốc
- Sau khi thu hoạch, chặt các gốc còn cao chỉ để lại 3-4 mắt sát mặt đất. Băm lá mía và các xác thực vật rải đều trên mặt ruộng để tăng lượng mùn hữu cơ cho đất.
- Khi có mưa cày đất sát gốc để chăm sóc và bón phân.
- Tưới nước: Bình quân trong vụ mía thường tưới từ 15-20 lần.
+ Thời kỳ mía nảy mầm, đẻ nhánh: Tưới 4 lần/ tháng.
+ Thời kỳ đẻ nhánh làm lóng: 2-3 lần/tháng.
+ Mía làm lóng: 1-2 lần/tháng.
+ Mía sắp thu hoạch phải bỏ nước từ 20 ngày trở lên.
3. Phòng trừ sâu bệnh
3.1 Quản lý dịch hại tổng hợp
Quản lý sinh vật gây hại dựa 6 trên nguyên tắc Quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) gồm: đất khỏe; cây trồng khỏe; đầu tư thông minh; bảo vệ môi trường sinh thái; giám sát và kiểm tra đồng ruộng; nông dân chuyên nghiệp và có trách nhiệm.
- Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng và tiêu hủy tàn dư thực vật; có hệ thống mương rãnh cấp, thoát nước tốt; chủ động tưới tiêu; sử dụng phân hữu cơ hoai mục, bón phân cân đối; sử dụng giống kháng, giống chống chịu; luân canh, xen canh hợp lý với cây trồng khác họ nhằm hạn chế sự phát sinh, phát triển của sinh vật gây hại.
- Ngắt ổ trứng, bắt giết sâu non, lá bị sâu bệnh hại nặng đem tiêu hủy... khi mật độ sâu thấp.
- Sử dụng sản phẩm có nấm đối kháng Trichoderma ủ với phân hữu cơ hoai mục; sử dụng các chế phẩm sinh học.
- Ưu tiên sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, thảo mộc, có độ độc thấp, thời gian cách ly ngắn, chóng phân hủy và ít ảnh hưởng đến các loài thiên địch có ích trên ruộng.
- Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hoá học khi cần thiết và theo danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam hàng năm. Riêng các loại bệnh gây hại mía, hiện tại trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật chưa có sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật đăng ký sử dụng phòng trừ; do đó để quản lý các loại bệnh gây hại mía áp dụng biện pháp canh tác (như vệ sinh đồng ruộng, chuẩn bị đất kỹ trước khi trồng, chọn giống kháng bệnh, luân canh cây trồng,…), phòng trừ các loài côn trùng môi giới truyền bệnh hại mía (như sâu đục thân mía, các loại rệp hại mía,…).
3.2. Sâu hại và biện pháp phòng trừ
Các loại sâu đục thân: sâu đục thân mình trắng (Scirpophaga nivella), Sâu đục thân mình vàng (Argyroploces schistaceana), Sâu đục thân 4 vạch đầu vàng (Chilo sacchariphaugus Bojer) và Sâu đục thân 4 vạch đầu nâu (Chilo tumidicostalis Hampson)
a) Đặc điểm gây hại
- Mía ở giai đoạn cây mía con: Sâu đục vào mầm (đỉnh sinh trưởng) gây hiện tượng héo đọt và dẫn đến làm chết cây.
- Mía ở giai đoạn mía vươn lóng: Sâu non đục vào bên trong thân ảnh hưởng đến sự vận chuyển nhựa, làm cây dễ bị gãy ngang thân khi có gió, đồng thời đường đục cũng tạo điều kiện cho nấm bệnh thối đỏ xâm nhập.
- Sự tấn công của sâu đục thân sẽ làm giảm năng suất mía và trữ lượng đường của cây mía.
b) Biện pháp phòng trừ
- Biện pháp canh tác
+ Trồng mía tập trung, đúng thời vụ nhằm hạn chế sâu chuyển từ vụ trước sang vụ sau.
+ Không sử dụng hom giống nhiễm sâu đục thân.
+ Thường xuyên bóc tỉa các lá phía dưới nhằm diệt ổ trứng sâu đục thân, mặt khác tạo sự thông thoáng, dễ dàng xử lý các biện pháp khác khi có dịch xảy ra.
+ Bón phân cân đối để cây mía sinh trưởng phát triển khỏe mạnh, tăng khả năng chống chịu sâu đục thân.
+ Luân canh mía với cây trồng cạn khác họ hoặc trồng xen cây họ đậu với cây mía để phát triển ong ký sinh trên sâu đục thân.
- Biện pháp sinh học
+ Bảo vệ, nhân nuôi và phóng thích ong ký sinh (ong mắt đỏ Tricogramma sp. ký sinh trứng, ong đen kén trắng Cotesia flavipes ký sinh sâu non), bọ đuôi kìm, … ra đồng ruộng để kiểm soát sâu đục thân.
+ Sử dụng bẫy Pheromone để diệt trưởng thành sâu đục thân các loại.
- Biện pháp hóa học: hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chỉ khi phát hiện trứng sâu đục thân mía có mật độ cao mới sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có chứa một trong số các hoạt chất: Cartap (Berbiao 50SP, Badannong 10GR, Padan 95SP, Supertar 950SP), Carbosulfan (Vifu-super 5GR), Permethrin (Tungperin 50EC), … rải vào rãnh mía trước khi đặt hom hoặc rải vào luống sát gốc mía trước khi vun, phun thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất Cartap, Permethrin để trừ.
3.2.2. Rệp bông trắng (Ceratovacuna lanigera Zehntner)
a) Đặc điểm gây hại
- Rệp tập trung ở mặt dưới lá mía, dọc theo gân lá tạo thành những mảng bông trắng kéo dài.
- Rệp chích hút trên lá và tiết ra chất mật đường thu hút nấm muội đen phát triển.
- Rệp phát triển mạnh trong điều kiện nóng ấm, độ ẩm cao và ở giai đoạn cây mía sinh trưởng phát triển mạnh.
- Có hai dạng rệp có cánh và không cánh.
- Cây mía bị rệp bông trắng gây hại sinh trưởng kém, độ đường giảm, bị hại nặng trữ đường không còn đáng kể.
b)Biện pháp phòng trừ
- Bón đạm sớm cân đối đạm, lân, kali.
- Làm sạch cỏ và cắt lá già để ruộng mía thông thoáng.
- Theo dõi và phát hiện kịp thời các ổ rệp để diệt ngay bằng tay không để lây lan sẽ hiệu quả và ít độc hại.
- Khi rệp bông gây hại cây với mật độ cao sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật có chứa một trong số các hoạt chất: Acetamiprid (Actatoc 200EC), Dimethoate (Binh-58 40EC), Bacillus thuringiensis var. kurstaki + Granulosis virus (Bitadin WP), Thiamethoxam (Kovachick 300SC), … để phòng trừ.
3.2.3. Rệp sáp (Trionymus sacchari Cockerell)
a) Đặc điểm gây hại
- Rệp sống tập trung ở các mắt của lóng mía phía trong bẹ lá.
- Rệp bài tiết chất đường tạo điều kiện cho bệnh muội và nhiều loại kiến ăn mật cùng cộng sinh với rệp và giúp rệp phát tán.
- Vòng đời: pha trứng: 2-3 ngày, pha sâu non: 20-30 ngày, pha trưởng thành: 30-60 ngày.
- Rệp hút nhựa của cây làm cho mía phát triển kém, năng suất mía và hàm lượng đường giảm.
b) Biện pháp phòng trừ
- Làm sạch cỏ và cắt lá già để ruộng mía thông thoáng.
- Theo dõi và phát hiện kịp thời các ổ rệp để diệt ngay bằng tay không để lây lan sẽ hiệu quả và ít độc hại.
- Khi rệp gây hại cây với mật độ cao sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật có chứa một trong số các hoạt chất: Alpha-cypermethrin + Dimethoate (Cyfitox 300EC), Dimethoate (Bini 58 40EC), Thiamethoxam (Actara 25WG),…để phòng trừ.
3.2.4. Bọ hung (Alissonotum impressicolle Arow)
a) Đặc điểm gây hại
- Sâu non và con trưởng thành đục rỗng phần gốc mia, ăn phần gốc các mầm còn nhỏ làm mầm khô héo và chết dần.
- Sự ăn phá của ấu trùng trên hom giống, rễ và gốc mía làm cho cây mía mọc kém, phát triển chậm, năng suất mía cây thấp.
- Nếu mật số bọ hung cao, chúng cắn vào rễ mía làm cây mía bị héo đọt và chết hàng loạt.
- Thường phát sinh gây hại nặng vào mùa xuân, hè (tháng 4-5).
b) Biện pháp phòng trừ
- Luân canh cây trồng đặc biệt cây họ đậu hoặc cây trồng ưa nước.
- Trồng tập trung đúng thời vụ.
- Làm cỏ, vệ sinh đồng ruộng, thu dọn tàn dư cây mía (gốc, lá già) đi tiêu hủy.
- Đưa nước vào ngâm ruộng diệt sâu.
- Áp dụng biện pháp thủ công tập trung bắt bọ hung non và trưởng thành tiêu hủy.
- Khi bọ hung gây hại cây với mật độ cao sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật có chứa một trong số các hoạt chất: Dimethoate (Nugor 10GR), Rotenone + Saponin (Sitto-nin 15BR, 15EC), Carbosulfan (Vifu-super 5GR),…để diệt.
3.3. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ
3.3.1. Bệnh than đen
Tác nhân gây bệnh: nấm Ustilago scitaminea Sydow.
a) Triệu chứng bệnh
- Lá đọt biến dạng thành dạng roi dài cong xuống.
- Bên ngoài lá đọt phủ một lớp màng mỏng màu trắng, sau đó lớp màng này chuyển sang màu đen do được phủ bởi vô vàn bào tử dạng bột.
- Cây mía bị bệnh hoàn toàn mất khả năng tạo lóng, gốc đẻ nhiều nhánh nhỏ, mầm nhánh bị bệnh hầu như không phát triển được.
b) Biện pháp phòng trừ
- Chọn giống kháng bệnh.
- Vệ sinh đồng ruộng và chuẩn bị đất kỹ trước khi trồng mía.
- Ðối với mía lưu gốc, cần phải vệ sinh kỹ và xử lý để loại trừ mầm bệnh trước và sau khi thu hoạch.
- Kịp thời nhổ bỏ và tiêu hủy cây mía bị bệnh.
- Không để lưu gốc và không lấy hom giống ở những ruộng mía bị bệnh.
- Luân canh cây trồng (cây họ đậu).
3.3.2. Bệnh thối đỏ thân
Tác nhân gây bệnh: nấm Collectotrichum falacatum Went.
a) Triệu chứng bệnh
- Triệu chứng điển hình là khi chẻ dọc thân cây mía thì có các vệt đỏ nâu ở các mạch dẫn có mùi rượu, về sau vệt đỏ phát triển mạnh cả đốt biến thành màu đỏ thẫm.
- Vết bệnh phân tán dọc theo thân cây và sản sinh những bó sợi nấm màu đen.
- Khi bị nặng nhìn bên ngoài thấy lóng mía màu đỏ vàng hơi lõm xuống. Giữa các đốm bệnh đỏ có các đốm ngang màu trắng.
- Bệnh nặng làm cây bị khô dần, cây chết khô từng đoạn hay cả cây, giảm tỉ lệ đường trên mía, ruộng mía bị bệnh nặng mía gốc tái sinh kém.
b) Biện pháp phòng trừ
- Trồng giống mía chống bệnh thối đỏ.
- Hạn chế nấm bệnh xâm nhập gây hại bằng cách phòng trừ sâu đục thân mía. Để phòng trừ sâu đục thân áp dụng các biện pháp canh tác, biện pháp sinh học, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chỉ khi phát hiện trứng sâu đục thân mía có mật độ cao mới sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có chứa một trong số các hoạt chất: Cartap (Berbiao 50SP, Badannong 10GR, Padan 95SP, Supertar 950SP), Carbosulfan (Vifu-super 5GR), Permethrin (Tungperin 50EC), … rải vào rãnh mía trước khi đặt hom hoặc rải vào luống sát gốc mía trước khi vun, phun thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất Cartap, Permethrin để trừ.
3.3.3. Bệnh gỉ sắt
Tác nhân gây bệnh: nấm Puccinia kuehnii
a) Triệu chứng bệnh
- Bệnh phát sinh từ ngoài mép lá và lan dần vào trong phiến lá, bệnh phát sinh ở cả hai mặt lá.
- Trên lá xuất hiện đốm nhỏ màu vàng nâu hoặc màu vàng cam hơi nhô lên phía bên trên bề mặt lá mía và sờ tay thấy dính bột màu vàng, sau các đốm bệnh phát triển liên kết lại với nhau.
- Bệnh xuất hiện chủ yếu trên lá bánh tẻ và lá già.
- Lá bị hại bị khô, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây mía và hàm lượng đường trong cây.
b) Biện pháp phòng trừ
- Trồng giống kháng bệnh.
- Thu gom sạch tàn dư thực vật sau thu hoạch và đem tiêu hủy.
- Bón phân cân đối hợp lý, chăm sóc để mía sinh trưởng tốt đều tăng sức chống bệnh.
3.3.4. Bệnh chồi cỏ
Tác nhân gây bệnh: Phytoplasma
a) Triệu chứng bệnh
- Cây mía bị bệnh mọc nhiều chồi con ở phần gốc, chồi nhỏ và yếu, các chồi này không phát triển thành cây hữu hiệu mà tạo thành bụi như bụi cỏ.
- Lá non của các chồi cây bệnh màu lá nhạt dần, khi bị nặng lá khô dần rồi chết.
- Những khóm mía bị bệnh muộn hơn thì cây chính vẫn phát triển nhưng thấp, nhỏ và cho năng suất thấp.
- Bệnh phát sinh mạnh vào tháng 1-4 và tháng 9-11, bệnh lây lan qua hom giống và côn trùng môi giới.
b) Biện pháp phòng trừ
- Dùng hom giống sạch bệnh.
- Thường xuyên kiểm tra ruộng mía kịp thời phát hiện các khóm mía bệnh đào bỏ cả gốc, rễ tiêu hủy.
- Luân canh cây trồng.
- Phòng trừ rệp hại mía (môi giới truyền bệnh). Để phòng trừ rầy hại mía phải làm sạch cỏ, cắt lá già để ruộng mía thông thoáng, thường xuyên theo dõi và phát hiện kịp thời các ổ rệp để diệt ngay bằng tay không để lây lan sẽ hiệu quả và ít độc hại; khi rệp gây hại cây với mật độ cao sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật có chứa một trong số các hoạt chất: Alpha-cypermethrin + Dimethoate (Cyfitox 300EC), Dimethoate (Bini 58 40EC), Thiamethoxam (Actara 25WG), Acetamiprid (Actatoc 200EC), Bacillus thuringiensis var. kurstaki + Granulosis virus (Bitadin WP), … để trừ.
3.3.5. Bệnh đâm chồi ngọn
Tác nhân gây bệnh: vi khuẩn Xanthomonas albilineans.
a) Triệu chứng bệnh
- Trên lá có những sọc màu trắng sữa chạy dọc theo gân lá từ bẹ lá đến đỉnh lá. Sau đó những sọc này chuyển sang màu đỏ hoặc màu tím.
- Ngọn mía và các lá trở lên cứng, chụm lại ngừng phát triển.
- Các mắt mầm ở ngọn đâm chồi, cây mía khô dần và chết. Chẻ dọc thân mía, quan sát phía bên trong các mắt mầm có màu hơi đỏ.
- Ruộng mía bị nhiễm bệnh nặng cây sẽ chết hoặc đâm chồi thân, chồi ngọn làm giảm năng suất và hàm lượng đường.
b) Biện pháp phòng trừ
- Chọn giống kháng bệnh.
- Vệ sinh kỹ ruộng trước khi trồng mía.
- Sau thu hoạch, gom sạch các tàn dư thực vật trên ruộng bị nhiễm bệnh và đem tiêu hủy.
III. Thu hoạch, sơ chế, bảo quản
1. Thu hoạch
Tùy từng giống mía ta trồng mà xác định được giai đoạn chín của mía. Quan sát màu da thân mía trở nên bóng, sậm, ít phấn, lá khô nhiều, độ ngọt giữa gốc và ngọn không chênh lệch là thu hoạch được. Dùng dao thật bén đốn sát gốc tất cả các cây trên hàng mía, để vụ sau mía tái sinh đều hơn.
2. Bảo quản
Mía thu hoạch tới đâu vận chuyển chế biến ngay tới đó. Không để mía thu hoạch quá lâu trên đồng ruộng, sân bãi, vừa làm giảm năng suất mía, vừa làm giảm lượng đường trong mía.