Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên xoài.
Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.
| Dịch hại | Số thuốc đã đăng ký |
|---|---|
| Thán thư | 85 |
| Rầy bông | 37 |
| Kích thích sinh trưởng | 12 |
| Thối quả | 12 |
| Phấn trắng | 10 |
| Sâu ăn bông | 7 |
| Bọ trĩ | 7 |
| Nhện đỏ | 5 |
| Rệp sáp | 5 |
| Rầy | 4 |
| Đốm đen vi khuẩn | 3 |
| Sâu ăn hoa | 3 |
| Xì mủ | 3 |
| Đốm lá | 2 |
| Sâu đục quả | 2 |
| Thối rễ | 2 |
| Rầy chổng cánh | 2 |
| Vàng lá | 2 |
| Thối trái | 2 |
| Đốm đen xì mủ | 2 |
(Ban hành kèm Quyết định số /QĐ-UBND, ngày//2025 của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1. Thời gian kiến thiết cơ bản (KTCB): 03 năm (01 năm trồng mới + 02 năm chăm sóc).
2. Thời kỳ kinh doanh: 18-25 năm, tính từ năm thứ 4
3. Chu kỳ kinh doanh: chu kỳ kinh doanh từ 21-28 năm, phụ thuộc vào thực tế kỹ thuật thâm canh.
4. Năng suất mục tiêu:18-20 tấn/ha.
III. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
- Xoài là cây ăn quả nhiệt đới, cần nhiệt độ tối ưu từ 24 – 270C. Thích hợp trồng những nói có 02 mùa mưa và khô rõ rệt, trong đó mùa mưa không kéo dài quá 7 tháng, mùa khô không kéo dài quá 4 tháng.
- Lượng mưa trung bình từ 1.000 -2.000 mm/năm, ẩm độ không khí tương đối từ 55-70%.
Vùng trồng xoài phải chọn nơi tránh ảnh hưởng trực tiếp của bão, lốc xoáy, gió mạnh đặc biệt là trong khoảng thời gian cây ra hoa, mang trái. Nơi chịu ảnh hưởng của gió to theo các đợt gió mùa hàng năm thì phải bố trí hệ thống cây chắn gió hợp lý trước khi trồng.
3. Ánh sáng
Xoài là cây ưa sáng, ánh sáng trong mùa khô từ 8-9 giờ/ngày và trong mùa mưa là 4,5-5 giờ/ngày, cần tối thiểu 5 giờ chiếu sáng/ngày. Cây xoài có thể chịu nắng nóng và khô hạn ở mức tốt.
4. Đất đai
Cây xoài được trồng trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng tốt nhất là đất thịt pha cát, tơi xốp, thoát nước tốt; có độ dầy tầng canh tác ít nhất 1m tính từ mặt Độ pHđất từ 5,5 - 7,2.
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống
Sử dụng các giống được cấp Quyết định công nhận lưu hành, tự lưu hành, lưu hành đặc cách, các giống trong danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh có thẩm quyền ban hành và được chuyển tiếp theo quy định hoặc đã được Quyết định công nhận cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng.
Một số giống sầu riêng được trồng phổ biến hiện nay gồm:
-Xoài Đài Loan: Là giống xoài có tính chống chịu sâu bệnh tốt hơn hẳn các giống xoài khác. Giống xoài Đài Loan xanh còn có khả năng thích nghi tốt với nhiều loại đất kể cả đất phền và đất nhiễm mặn nhẹ. Đặc biệt là cây cho trái quanh năm và có năng suất cao. Quả to trọng lượng trung bình đạt 1,0-1,5kg cùi dầy, thịt quả chắc, ít xơ, hạt mỏng, ăn ngọt đậm, đặc biệt khi ăn xanh vẫn ngọt.
- Xoài Thái:được nhập từ Thái Lan. Quả có hình dáng thuôn dài, thường bầu ở phần đầu và nhọn dần về phía đuôi. Xoài có phần ruột bên trong màu trắng, đôi khi ruột xoài có thể có màu vàng tuỳ vào vùng trồng. Quả xoài thường có trọng lượng dao động khoảng 400 - 500gr. Xoài Thái là giống xoài ăn xanh.
- Ngoài ra còn các giống: Xoài cát Hòa Lộc, xoài Cát Chu,…
2. Tiêu chuẩn cây giống ghép
Cây giống phải đúng giống quy định với yêu cầu hình thái như sau:
- Gốc ghép và bộ rễ: Gốc ghép phải có thân và cổ rễ thẳng, vỏ không bị thương tổn đến phần gỗ. Mặt cắt thân gốc ghép (lúc xuất vườn) nằm ngay phía trên cành ghép, có quét sơn hoặc các chất tương tự, không bị dập, sùi. Đường kính (đo phía dưới vết ghép khoảng 2 cm) từ 1,2-1,7 cm. Vị trí ghép: cách mặt trên giá thể của bầu ươm từ 22-23 cm. Vết ghép: đã liền và tiếp hợp tốt. Bộ rễ phát triển tốt, có nhiều rễ tơ, rễ cọc không cong vẹo.
- Thân, cành, lá: Thân cây thẳng và vững chắc; chưa phân cành, có 2 hoặc trên 2 tầng lá, các lá ngọn đã trưởng thành, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng của giống; chiều cao cây giống (từ mặt giá thể bầu ươm đến đỉnh chồi) từ 60-80 cm. Đường kính gốc (đo phía trên vết ghép khoảng 2 cm) từ 1,0 cm trở lên.
- Độ thuần, độ đồng đều, dịch hại, tuổi xuất vườn: Cây sản xuất phải đúng giống như tên gọi ghi trên nhãn, hợp đồng. Mức độ khác biệt về hình thái cây giống không vượt quá 5% số lượng cây. Cây giống phải đang sinh trưởng khỏe, không mang các loại dịch hại chính: Thán thư, phấn trắng, nhện, rệp sáp (Scale), .... tuổi xuất vườn: 4-5 tháng sau khi ghép.
- Qui cách bầu ươm: Bầu ươm phải có màu đen, bầu phải chắc chắn và nguyên vẹn. Đường kính và chiều cao tương ứng là 14 - 15 cm, và 30-32 cm. Số lỗ thoát nước từ 20- 30 lỗ/bầu, đường kính lỗ 0,6-0,8 cm. Chất nền phải đầy bầu ươm.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng
Nên bắt đầu trồng vào đầu mùa mưa, nếu chủ động được nguồn nước tưới cũng có thể trồng vào mùa khô.
2.2. Mật độ và kỹ thuật trồng
a) Mật độ trồng
Khoảng cách trồng phụ thuộc vào từng giống và từng địa phương. Khoảng cách trung bình 4 x 6m; 6 x 6m; 6x 8m tương ứng khoảng 400 cây/ha; 277 cây/ha; 200 cây/ha.
2.3. Chuẩn bị đất trồng
Đất trồng cần được dọn sạch cỏ dại, rác, tàn dư cây trồng cũ trong khu vực.Cày xới đất kỹ lưỡng để phá vỡ các lớp đất cứng, giúp đất tơi xốp, thông thoáng và tạo điều kiện cho rễ cây phát triển. Đất trồng phải được chuẩn bị trước khi trồng 2 - 4 tuần.
2.4. Đào hố, bón lót:
- Đào hố: kích thước 0,8 x 0,8 x 0,6 m; vùng đất xấu cần đào hố to hơn kích thước 1x 1 x 0,8 m.
- Bón lót/01 hố: 10-20 kg phân chuồng hoai mục + 0,5 kg supe lân (hoặc 200g NPK 16-16-8).
2.5.Kỹ thuật trồng
Dùng dao cắt đáy bầu và đặt cây xuống giữa mô, nên giữ mặt bầu nhô cao 3-5 cm so với mặt mô, sau đó cho toàn bộ hỗn hợp đất vào xung quanh bầu cây ém nhẹ, kéo bao nilon từ từ lên và lấp đất lại ngang mặt bầu.
- Sau khi trồng cắm 2 cọc chéo hình chữ X vào cây và buột dây để tránh lay gốc làm chết cây, đồng thời tủ rơm rác mục quanh mặt mô và tưới nước giữ ẩm cho cây.
2.6. Phân bón và kỹ thuật bón phân
2.6.1. Phân hữu cơ:
+ Thời kỳ kiến thiết cơ bản cây xoài cần cung cấp phân hữu cơ với hàm lượng 10 - 20 kg phân chuồng hoai mục hoặc 3 - 5 kg phân hữu cơ vi sinh/cây/năm, định kỳ 01 lần/năm.
+ Thời kỳ kinh doanh: bón phân chuồng huoai mục 8 tấn – 12 tấn/ha/năm (liều lượng 20 - 30 kg/cây/năm), có thể thay bằng phân hữu cơ vi sinh.
2.6.2. Phân vô cơ
Bảng 1: Lượng phân vô cơ bón cho cây xoài
Thời kỳ | Liều lượng N-P-K (kg/ha/năm) | Lượng phân (kg/ha/năm) | |||||
Phân chuồng | N | P2O5 | K2O | Ure | Lân | Kali clorua | |
Năm 1 và năm 2 | 4.000-8.000 | 90 | 65 | 90 | 196 | 361 | 150 |
Năm 3 | 4.000-8.000 | 120 | 80 | 240 | 261 | 444 | 400 |
Thời kỳ kinh doanh từ năm thứ 4 trở đi | 8.000 – 12.000 | 250 | 100 | 200 | 543 | 556 | 333 |
(Lượng phân bón trên áp dụng cho mật độ 400cây/ha)
Có thể sử dụng công thức phân bón xấp xỉ tỉ lệ 1:1:1; hoặc có thể sử dụng các loại phân N-P-K 15-15-15, 20-20-215; 16-16-8; kali, DAP,...
- Vôi: Liều lượng bón 200 - 300 g/cây vào đầu mùa mưa. Nếu pH thấp (<5) nên bón thêm vôi (0,5 - 1 tấn/ha) trước khi bón phân hóa học và phân hữu cơ.
2.6.3. Thời điểm và cách bón:
a) Giai đoạn kiến thiết cơ bản: Nên bón phân khi lá già chuyển sang màu xanh, chia đều lượng phân để bón. Năm đầu tiên cây còn nhỏ nên pha phân vào nước để tưới, nên tưới cách gốc 10 - 20cm tránh cho phân bón làm cháy rễ. Năm thứ 2,3 xối nhẹ quanh gốc theo hình chiếu tán cây để bón phân, kết hợp với tưới nước.
b) Giai đoạn kinh doanh
Hạng mục | Phân chuồng (%) | Ure (%) | Super lân (%) | Kali Clorua (%) | Thời gian bón |
Lần 1 | 75 | 60 | 50 | 40 | Sau khi thu hoạch |
Lần 2 | 50 | 30 | Trước xử lý ra hoa | ||
Lần 3 | 20 | 15 | Sau đậu quả 03 tuần | ||
Lần 4 | 25 | 20 | 15 | Sau đậu quả 8-10 tuần |
- Cách bón:
+ Giai đoạn sau thu hoạch đến trước xử lý ra hoa
Cách bón: Sau khi thu hoạch cuốc rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu tán cây, sâu 10-20 cm cho phân vào lấp đất lại tưới nước.
+Giai đoạn đậu quả; giai đoạn phát triển quả
Xới nhẹ quanh gốc theo hình chiếu tán cây để bón phân và tưới nước.
- Trong giai đoạn từ khi quả non cho đến trước lúc thu hoạch, để bổ sung thêm dinh dưỡng, có thể sử dụng các loại phân bón lá có hàm lượng đạm và kali cao.
2.7. Chăm sóc
2.7.1. Làm cỏ
Nên giữ cỏ trong vườn giúp giữ ẩm cho đất trong mùa nắng, chóng xói mòn, rửa trôi dinh dưỡng vào mùa mưa, thiên địch có nơi trú ẩn;
- Nên chọn những loại cỏ không sinh trưởng và phát triển quá mạnh hoặc ưa ánh sáng trực tiếp vì sẽ cạnh tranh dinh dưỡng và nước với cây xoài;
- Không chọn những loại cỏ là cây ký chủ của sâu hại;
- Nên phát cỏ 1 lần/tháng để khống chế chiều cao của cỏ, tận dụng cỏ làm phân xanhbón lại trên vườn
2.7.2. Tưới nước
Lượng nước tưới và thời gian tưới tùy theo tình hình thời tiết và sinh trưởng, phát triển cảu cây xoài:
- Cây xoài thời kỳ kiến thiết cơ bản:
+ Mùa khô: lượng nước tưới khoảng 9-12 lít nước/gốc cho cây con sau đó tăng lên 20-30 lít/gốc cho cây 2-3 năm tuổi, thời gian giữa 02 lần tưới khoảng 2-3 ngày.
+ Mùa mưa; nếu mưa >5mm không tưới; nếu mưa <5mm khoảng 2-3 ngày tưới 01 lần.
- Cây xoài vào thời kỳ kinh doanh:Sau khi thu hoạch tưới nước thường xuyên để duy trì ẩm độ đất. Trước khi cây ra hoa, cần chịu khô hạn khoảng 2 tháng để cây phân hóa mầm hoa. Vì vậy khoảng thời gian cuối mùa mưa, đầu mùa khô không cần tưới nước cho cây. Trong suốt giai đoạn xử lý ra hoa và giai đoạn cây mang trái cần tưới nước liên tục đến trước khi thu hoạch 2 tuần thì ngưng tưới.
2.7.3.Tạo hình, tạo tán
- Tạo tán
+ Sau khi trồng 8 - 12 tháng (chiều cao cây 1 - 1,2 m) tiến hành bấm ngọn, chừa lại độ cao của thân chính 0,6 - 0,8 m.
+ Khi ra cơi đọt non 1 chọn 3 cành khỏe, thẳng mọc từ thân chính, phát triển theo 3 hướng làm cành cấp 1. Sử dụng cây cột giữ cành cấp 1 tạo với thân chính một góc 35-40o, tiếp tục thực hiện kỹ thuật này cho cơi đọt 2 và 3 tạo cho cây có bộ khung cân đối.
- Tỉa cành
+ Sau thu hoạch, cắt bỏ những phát hoa, cành đã mang quả ở vụ trước, cành bị sâu bệnh, ốm yếu, cành trong tán, cành tăm, tạo cho tán có độ thông thoáng và các cành đều hướng ra ngoài tán.
+ Khi cây ra đọt non, tuyển đọt giữ lại 2 - 3 đọt khỏe phân bố đều các hướng. Khi lá già, tỉa lại những cành bị sâu bệnh, cành trong tán giúp cây thông thoáng, chuẩn bị xử lý ra hoa.
2.7.4. Tỉa trái: Khi quả kết thúc thời kỳ rụng sinh lý (30-35 ngày sau khi đậu quả) tiến hành tỉa bỏ quả bị dị dạng, bị sâu bệnh tấn công, quả ở đầu ngọn của chùm, tỉa bỏ gié không mang quả, cành lá xung quanh che khuất quả giúp quả đạt kích thước tối đa, đồng đều, giảm hiện tượng ra quả cách năm.
2.8.Phòng trừ sâu, bệnh hại
2.8.1.Sâu hại
a) Bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis Hood)
* Đặc điểm gây hại:
- Cả thành trùng và ấu trùng chích hút trên các bộ phận non của cây như chồi non,lá non, nụ hoa, hoa và quả non. Trên lá, bọ trĩ chích hút ở mặt dưới lá làm lá phát triển không bình thường, congqueo, hai mép cúp xuống; trên chồi, làm chồi không ra lá, quả. Trên hoa làm hoa héo, khô và rụng hàng loạt nếu mật số bọ trĩ cao.
- Bọ trĩ gây hại trên quả làm vỏ quả có màu xám đậm (da cám) nhiều nhất là vị trígần cuống quả, quả biến dạng, nếu bọ trĩ xuất hiện với mật số cao và gây hại muộnthì vỏ quả (cả quả non lẫn quả lớn) bị sần sùi, giảm giá trị thương phẩm.
* Biện pháp phòng trừ:
- Chăm sóc cho cây sinh trưởng phát triển tốt, giúp ra đọt non, ra hoa tập trung.
- Sử dụng bẫy màu vàng để theo dõi mật số bọ trĩ trong vườn, từ đó có Biện phápquản lý kịp thời (ít nhất 5 bẫy/vườn (4 bẫy ở 4 gốc vườn và 1 bẫy ở giữa vườn).
- Nếu nguồn nước trong vườn tốt, phun nước bằng vòi phun áp lực cao lên tán câyhạn chế mật số bọ trĩ và các sâu hại khác.
- Tăng cường bón phân hữu cơ, bón phân cân đối
- Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi mật số bọ trĩ cao, trên 3 - 5 con/chồi, lá, quả. Đểtránh hiện tượng kháng thuốc nên luân phiên các loại thuốc có hoạt chất khácnhau, có thể sử dụng liên tục 2 - 3 lần.
- Nên hạn chế phun thuốc khi xoài đang ra hoa, nếu thật cần thiết thì phun vào chiềumát.
- Có thể sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất có trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng như: Spirotetramat (Dotramat 150OD); Abamectin (Abakill 3.6EC); Spinetoram (Radiant®60SC);…để phòng trừ. Nên kết hợp với dầu khoángvà nên phun 2 lần cách nhau 7 - 10 ngày/lần
- Khi mật số bọ trĩ cao nên phun nấm xanh Metarhizium vào đất nhằm diệt nhộng trong đất.
b)Rầy bông xoài(Idioscopus niveosparsus)
*Đặc điểm gây hại: Cả thành trùng và ấu trùng đều chích hút nhựa của hoa và lá non. Hoa bị rầy chích hút sẽ trở nên nâu, khô và sau đó sẽ rụng. Rầy còn tiết ra mật ngọt, tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Sau thu hoạch tiến hành tỉa cắt cành tạo điều kiện thông thoáng để hạn chế sự pháttriển của rầy. Trước giai đoạn ra hoa cần sử dụng bẫy dính vàng, bẫy đèn để theo dõi mật sốthành trùng.
+ Tạo điều kiện cho các loài thiên địch của rầy bông xoài phát triển như bọ cánh lướiChrysoperla sp., Suarius sp., bọ rùa chữ nhân, bọ rùa sáu vệt, bọ rùa đỏ và các loàibọ xít ăn mồi phát triển. Ngoài ra, nấm trắng Beauveria bassiana cũng ghi nhận kýsinh hiệu quả trên rầy bông xoài.
+Có thể sử dụng các loại thuốc BVTV có hoạt chất: Buprofezin (Profezin 400SC; Hello 700WG); Emamectin benzoate + Abamectin (Tungmectin 5EC; Rholam Super 50SG; Danobull 50WG; ….); Pymetrozine(Chess® 50WG; Cheestar 50WG; Pylon 50WG); Abamectin (Tikabamec 3.6EC; Tungatin 3.6 EC,…);….để phòng trừ.
c)Rầy xanh(Amrasca sp)
* Đặc điểm gây hại:Cả rầy non và rầy trưởng thành dùng vòi chọc chích hút cây dọc hai bên gân chính và gân phụ của lá non, đọt chồi non gây nên những vết châm làm cho lá non bị tổn thương, làm cho việc vận chuyển nước và chất dinh dưỡng đến lá gặp trở ngại. Những lá này sẽ cong queo, rụng đi.
* Biện pháp phòng trừ:
- Thiên địch quan trọng của rầy xanh là các loài bắt mồi ăn thịt như nhện, bọ rùa,bọ xít ăn sâu, chuồn chuồn cỏ, nên tạo điều kiện cho các loài thiên địch phát triển.
- Tạo điều kiện cho vườn thông thoáng. Điều khiển cây ra đọt, ra hoa tập trung để dễ dàng quản lý rầy xanh.
- Có thể sử dụng các loại thuốc BVTV có hoạt chất:Abamectin (Plutel 5EC; Reasgant 3.6EC,…); Abamectinbenzoate (Tasieu 1.9EC); Matrine (Marigold 0.36SL); …. phun khi cây vừa nhú đọt để diệt rầy xanh.
d) Rệp sáp
Trên xoài có các loài rệp sáp phổ biến như loài Rastrococcus spinosus, R. invadens gây hại trên lá, loài Pseudococcus jackbeardsleyi, Pseudococcus sp. và Planococcus lilacinus gây hại phổ biến ở giai đoạn hoa và quả.
* Đặc điểm gây hại:
- Đối với loài gây hại trên lá: Trưởng thành và ấu trùng đều chích hút nhựa lá và cành non. Ngoài gây hại trực tiếp bằng cách chích hút nhựa, rệp sáp còn tiết mật ngọt làm bồ hóng phát triển nơi rệp sáp sinh sống. Bị nhiễm nặng có thể ngừng phát triển, không cho ra lá non và hoa. Rệp sáp thường tập trung trên lá non, thành thục nhiều hơn lá già.
- Đối với loài gây hại trên hoa và quả: Loài này hiện diện với mật số cao từ tháng 3 - 5 dương lịch, vào giai đoạn này trên cây hiện diện đủ các lứa tuổi của rệp sáp. Mật số rệp giảm dần từ tháng 6 - 9 dương lịch, mật số rệp cao vào tháng 11 - 12 dương lịch lúc này cây đang cho quả. Rệp non và trưởng thành tập trung gây hại quả non và quả chín, mật độ cao có thể làm quả phát triển chậm, chai sượng và rụng sớm.
* Biện pháp phòng trừ:
- Sau thu hoạch phải vệ sinh vườn sạch sẽ, thu gom toàn bộ cành, quả bị nhiễm rệpsáp đem đi tiêu hủy.
- Hạn chế trồng xen với cây trồng dễ nhiễm rệp sáp như đu đủ, mãng cầu...
- Phun nước vào tán cây bằng vòi áp lực cao, nước sẽ rửa trôi lớp bột sáp.
- Quản lý kiến bằng SOFRI-trừ kiến hạn chế khả năng phát tán của rệp sáp
- Có thể sử dụng thuốc BVTV có các hoạt chất Rotenone (Limater 7.5EC; Saponozit 46% + Saponin acid 32% (TP-Thần Điền 78SL);Spirotetramat (Movento 150OD); …. Cần lưu ý sử dụng luân phiên cáchoạt chất thuốc BVTV khác nhau để tránh tình trạng rệp sáp kháng thuốc.
e)Ruồi đục quả Bactrocera dorsalis
* Đặc điểm gây hại: Ruồi đẻ trứng vào vỏ quả sắp chín, ấu trùng nở ra đục vào trong ăn phá phần thịt quả, ấu trùng thảy phân tạo điều kiện cho vi sinh vật, nấm phát triển, làm cho quả hư và rụng. Vết bị hại sẽ thâm, khi ấn nhẹ vào dịch nước sẽ rỉ ra (3 ngày sau khi ruồi đẻ trứng).
* Biện pháp phòng trừ:
+ Thu hoạch khi quả đạt độ chín thu hoạch, không giữ quả chín quá lâu trên cây.
+ Tỉa cành, làm vệ sinh vườn cho vườn luôn thông thoáng. Nên thu gom nhữngquả bị hại ra khỏi vườn, ngâm vào nước hoặc chôn vào đất để diệt nhộng.
+ Sử dụng pheromon giới tính dẫn dụ và tiêu diệt trưởng thành đực. Biện pháp nàymuốn có kết quả cao nên vận động nhiều nhà vườn cùng tiến hành đồng loạt trêndiện rộng.
+ Sử dụng bã thức ăn để hấp dẫn trưởng thành đực và trưởng thành cái (SOFRIProtein, bã ngọt). Sử dụng SOFRI Protein để phun. Pha 1 lít nước với 100 mL bãSOFRI-Protein+Spinosad. Phun mỗi cây khoảng 50 mL bã mồi (đã pha loãng), chỉphun thành đốm nhỏ trên tán cây. Nên phun vào khoảng từ 8 - 10 giờ sáng, bắt đầuphun sau đậu quả 2 tháng. Phun thường xuyên 7 ngày/lần. Cần lưu ý là phải thựchiện trên diện rộng và đồng loạt.
+ Bao quả để phòng ngừa ruồi đục quả bằng các loại túi bao chuyên dụng, bao vàothời điểm 35 - 40 ngày sau khi đậu quả. Cần phun thuốc BVTV thật kỹ trước khi bao quả.
+ Có thể sử dụng thuốc có hoạt chất Abamectin (Tridan 21.8WP) để phòng trừ.
f)Xén tóc đục thân
Trên xoài có nhiều loài xén tóc đục thân, cành như loài Plocaederus ruficornis, Rhytidodera simulans và Batocera rufomaculata, trong đó gây hại trên xoài phổ biến nhất là loài P. ruficornis.
* Đặc điểm gây hại:
+ Sau khi nở, ấu trùng sẽ đào hầm chui xuyên qua lớp vỏ cây vào phần mô mền dướivỏ cây để ăn phá và phát triển. Trong quá trình gây hại ấu trùng đục những đường hầm trong thân cây và cành cây. Độ lớn của đường đục lớn dần theo tuổi của ấu trùng. Vào tuổi cuối, ấu trùng xéntóc đục một lỗ để khi vũ hóa chui ra ngoài.
+ Trong một cây có thể có nhiều ấu trùng xén tóc, nếu mật số cao, cành và ngay cả cây cũng có thể bị chết.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Thăm vườn thường xuyên, vệ sinh vườn xoài, loại bỏ và tiêu hủy những cành và những cây đã bị chết do xén tóc gây hại.
+ Treo bẫy đèn vào ban đêm để diệt thành trùng
+ Khi phát hiện lỗ đục, cần đục khoét lỗ đục để diệt nhộng và ấu trùng
g)Sâu đục quả (Deanolis albizonalis)
* Đặc điểm gây hại: Sâu có thể gây hại ở mọi giai đoạn phát triển của quả. Ấu trùng sau khi nở sẽ đục vào quả. Sâu non thường đục vào vị trí chóp quả. Sâu còn nhỏ ăn phần thịt quả, sâu lớn thường tấn công phần hột. Sau khi ăn hết phần hột sâu di chuyển sang quả khác để gây hại. Các vết đục sẽ tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn, ruồi phát triển làm cho vết đục hoặc cả quả sẽ bị thối và rụng.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Thu hoạch khi quả đạt độ chín thu hoạch, không giữ quả đã chín quá lâu trên cây.
+ Sau khi thu hoạch quả nên làm vệ sinh vườn, cắt tỉa những cành bị sâu bệnh, những cành già không cho quả nằm khuất trong tán cây...để hạn chế nơi trú ngụ của con trưởng thành.
+ Nên thu gom và tiêu hủy những quả bị sâu hại để diệt sâu bên trong, hạn chế sâu di chuyển tấn công quả khác và hạn chế sâu của các đợt sau.
+ Đối với sâu đục quả có 2 giải pháp quản lý:
* Sử dụng thuốc trong danh mục được phép sử dụng có hoạt chất: Abamectin (Catex 3.6EC; Javitin 36EC); Abamectin + Petroleum oil (Koimire 24.5EC); Spinosad (Akasa 25SC, Akasa 250WP);Abamectin + Azadirachtin (Agassi 55EC); Emamectin benzoate (Rholam 20EC);…để phòng trừ, chú ý thời gian cách ly của thuốc BVTV trước khi thu hoạch
* Sử dụng biện pháp bao quả, bao vào thời điểm 35 - 40 ngày sau đậu quả. Trước khi bao quả nên tiến hành phun thuốc sâu bệnh.
2.8.2.Bệnh hại
a) Bệnh thán thư(Colletotrichum gloeosporioides)
Do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra. Bệnh gây hại nặng trong điều kiện ẩm độ cao, mưa thường xuyên, đặc biệt trong những ngày có sương mù hoặc có mưa nhỏ kéo dài, nhất là những trận mưa đêm.
*Triệu chứng gây bệnh:
+ Bệnh thán thư là bệnh phổ biến và gây hại nặng trên cây xoài. Bệnh gây hại trênlá, cành non, phát hoa, quả non và quả trưởng thành. Bệnh gây hại trên hầu hết cácgiống xoài.
+ Trên lá, bệnh xuất hiện với những đốm vàng nâu nhỏ phân bố trên bề mặt lá, sauđó chuyển sang nâu lan rộng ra, liên kết thành những mảng lớn, những đốm nàycó tâm nâu sáng đến nâu xám được bao quanh viền màu nâu đen và có quầng xanhvàng, giữa vết bệnh khô làm thành các lỗ thủng, lá biến dạng. Lá xoài non khichuyển từ màu đồng sang xanh là mẫn cảm nhất, lá rụng sớm. Trong trường hợp nhiễm nặng, chồi nhiễm bị cháy và chết khô.
+ Trên hoa, bệnh phát triển trên cả phát hoa làm chúng bị đen, rụng, không đậu quả. Bệnh còn phát triển trên các cành non của cây.
+ Trên quả, vết bệnh đầu tiên là những chấm nhỏ tròn, màu đen hơi lõm vào, sau đó vết bệnh lớn dần có màu nâu xám, thịt quả nơi vết bệnh bị chai sượng, vết bệnh lớn dần sau đó có vòng đồng tâm, nhiều vết bệnh liên kết lại thành đốm lan rộng và lõm sâu xuống, thịt quả bị thối, quả rụng nhiều.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Cắt bỏ những cành vô hiệu, cành vượt, cành bị sâu bệnh, cành tổn thương do thu hoạch, thu gom và đem tiêu hủy.
+ Bón phân theo quy trình canh tác, nên cung cấp nhiều phân hữu cơ cho cây kết hợp cung cấp nấm đối kháng Trichoderma vào đất xung quanh gốc cây.
+ Phun thuốc gốc đồng để ngừa bệnh còn tồn trên cành, lá, sát trùng vết thương sau khi cắt tỉa.
+ Không nên tưới nước lên tán cây khi cây bị bệnh
+ Phun thuốc khi thấy bệnh xuất hiện hoặc sau những cơn mưa, nhất lá mưa đêmbằng các loại thuốc BVTV có hoạt chất: Azoxystrobin (Amistar® 250SC), Chlorothalonil (Daconil 75 WP, Ronil 75WP); Citrus oil (MAP Green 6SL); Eugenol (Lilacter 0.3 SL, Piano 18EW); Hexaconazole (Chevin 50SC); Kasugamycin (Newkaride 3SL, Newkaride 6WP, Fortamin 3SL, 6WP); …. Các giai đoạn cần chú ý là đọt non, cây vừa nhú mầm hoa (có >50% số cây có mầm hoa), khi cây ra hoa rộ (>50% phát hoa đã nở), khi cây đã đậu quả (>50% chùm hoa đã có quả trứng cá).
b)Bệnh đốm đen, xì mủ(Xanthomonas campestris pv. mangeferae indicae)
Bệnh gây hại nghiêm trọng trên các vườn xoài, vi khuẩn có khả năng lưu tồn lâu trong lá, cành bệnh, xác bã thực vật hiện diện trên vườn. Do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. mangeferae indicae gây ra. Vi khuẩn tồn tại trên lá và quả bệnh, theo mưa gió xâm nhập qua vết thương cơ giới hoặc vết chích hút của côn trùng.
* Triệu chứng gây bệnh:
Bệnh gây hại trên lá, thân và quả, bệnh tấn công trên nhiều giống xoài.
+ Trên lá: Ban đầu là những đốm nâu đen nhỏ, sau đó lớn dần, liên kết thành vết loét bất định. Ở chóp lá có các đốm nhỏ màu vàng, sau đó lớn dần và chuyển màu nâu đen, có quầng vàng xung quanh vết bệnh. Nhiều đốm bệnh liên kết thành mảng lớn sần sùi, làm thành một vùng trũng xuống so với bề mặt lá, sau đó khô, lá rụng.
+ Trên quả: Có những vết nứt dọc hình chân chim màu nâu đen, xung quanh có quầng vàng, đôi khi từ các vết nứt có mủ chảy ra. Quả non bị bệnh thường bị rụng, quả già hoặc chín thì thối từng mảng.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Sau khi thu hoạch vệ sinh vườn, cắt bỏ những cành và lá bệnh, đem tiêu hủy.
+ Tránh tạo vết thương trên cây, nên phun thuốc BVTV sau khi cắt tỉa, thu quả và nhất là sau các trận mưa.
+ Nên bao quả bằng túi chuyên dùng giúp phòng ngừa bệnh này, nên chọn các vật liệu bao thoát nước tốt.
+Sử dụng các thuốc hoạt chất BVTV có trong danh mục thuốc được phép sử dụng:Bismerthiazol (Diebiala 20SC, Anti-xo 200WP); Gentamicin sulfate +Oxytetracycline hydrochloride(Avalon 8WP);….để phòng trừ.
c)Bệnh phấn trắng(Oidium mangiferae)
Do nấm Oidium mangiferae gây ra. Nấm phát triển mạnh trong điều kiện có ẩm độ cao, nhiệt độ thấp. Nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển là 20-250C. Nấm phát tán chủ yếu nhờ gió và nẩy mầm trong điều kiện có sương. Bệnh xuất hiện nhiều trong điều kiện thời tiết mát, ẩm hoặc có sương đêm. Hoa và quả non rất mẫn cảm với bệnh.
* Triệu chứng gây bệnh:
Bệnh phấn trắng gây hại trên lá non, cành, trên hoa và quả. Nấm gây bệnh thường xuất hiện trên bề mặt các bộ phận của cây.
+ Trên lá non: Bề mặt lá bị bao phủ một lớp nấm màu trắng xám, nấm phát triển trên cả hai mặt lá, làm lá bị xoăn, còi cọc và chết khô.
+ Trên hoa: Tương tự trên lá, cả phát hoa bị bao phủ bởi lớp nấm màu trắng xám, làm cho hoa bị khô, đen và rụng đi.
+ Trên quả non: Bị một lớp phấn màu trắng xám bao phủ, quả bị khô đen và rụng đi.Nấm cũng tấn công ở giai đoạn quả phát triển, làm cho quả khô có thể rụng hoặc treo trên cây.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Sau khi thu hoạch tiến hành cắt tỉa cành già cỏi, cành mang mầm bệnh, phát hoa, quả khô đen bị nhiễm bệnh còn sót lại của vụ trước, tỉa cành giúp vườn cây thông thoáng.
+ Xới nhẹ gốc, tiến hành bón phân hữu cơ hoai mục, tưới hoặc rải nấm đối kháng Trichoderma.
+Sử dụng các loại thuốc BVTV hoạt chất như:Hexaconazole(Chevin 5SC; Vivil 5SC); Sulfur(Lipman 80WG; OK-Sulfolac 80WG; Sulox 80 WP).Trong điều kiện vụ thuận nên phun ngừa khi những phát hoa bắt đầu nở, vào vụ thuận thời tiết không thuận lợi cho sự phát triển của nấm gây bệnh phấn trắng như nhiệt độ cao, ẩm độ thấp nên bệnh không nhiều. Tuy nhiên, ở vụ nghịch thời gian phun ngừa nên sớm hơn, khi những phát hoa bắt đầu bung chà, vào thời điểm này thường mưa nhiều, ẩm độ cao, thuận lợi cho bệnh phát triển.
d)Bệnh đốm bồ hóng
Do nấm Capnodium mangiferae gây ra. Mật ngọt do nhóm chích hút tiết ra là môi trường thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển.
* Triệu chứng gây bệnh: Đốm bồ hống thường xuất hiện trên lá, cành và quả. Nấm hiện diện trên các bộ phân của cây tạo thành những mảng bồ hóng đen, nấm không phá hủy tế bào mà có thể tự bong tróc ra, tuy nhiên bệnh này làm giảm khả năng quang hợp của lá và làm đen vỏ quả, làm giảm giá trị thương phẩm.
* Biện pháp phòng trừ:Chủ yếu là quản lý các loại rầy, rệp tiết mật giúp nấm phát triển. Có thể sử dụng các thuốc BVTV hoạt chất gốc đồng. Khi cây có bệnh hạn chế phun phân bón qua lá.
e)Bệnh đốm rong(Cephaleuros virescens)
Do nấm Cephaleuros virescens gây ra. Chúng phát tán qua giọt nước, theo gió. Điều kiện môi trường nóng ẩm trong tán cây là thích hợp nhất cho tảo phát triển.
* Triệu chứng gây bệnh: Bệnh thường xuất hiện ở lá già, tảo tạo thành những đốm tròn màu cam, rỉ sắt mặt trên của lá, đường kính trung bình 3-6 mm, vết bệnh hơi lồi lên, phía trên có một lớp nhung mịn, chúng liên kết lại tạo thành những mãng lớn hơn có màu xanh vàng nhạt. Tảo không ăn sâu vào tế bào biểu bì lá, không làm chết tế bào nên tác hại không lớn, chỉ ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của lá.
* Biện pháp phòng trừ:Trồng mật độ vừa phải và nên tỉa cây tạo sự thông thoáng cho cây. Phun trị bệnh bằng các loại thuốc trừ bệnh gốc đồng.
IV. Thu hoạch, bảo quản
1. Thu hoạch quả
Cần thu hoạch vào thời điểm sản phẩm có chất lượng tốt nhất. Quả xoài có thể thu hoạch ở thời điểm 100-105 ngày đối với xoài Đài Loan; 80-85 ngày sau khi đậu quả đối với xoài Cát Hòa Lộc; 90 ngày đối với xoài Cát Chu, giai đoạn có thể thu hoạch là khi quả đã phát triển một cách đầy đặn, da láng, vai đầy, hay quan sát màu sắc vỏ quả chuyển từ xanh đậm sang xanh nhạt, kiểm tra độ cứng của vỏ bao hạt, quan sát tuyến mật trên vỏ quả.
Khi thu hoạch nên cắt cuống dài khoảng 5-10 cm để tránh nhựa quả ứa ra, dính vào quả, cháy vỏ quả làm giảm giá trị thương phẩm, đồng thời giúp cho quả chống chịu bệnh thán thư tốt hơn trong giai đoạn sau thu hoạch.
2. Bảo quản quả
Quả xoài có thể giữ được 7 - 14 ngày ở nhiệt độ thường và khoảng 3 tuần trong điều kiện trữ lạnh (120C, ẩm độ 85 - 90%).