Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên sầu riêng.
Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.
(Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ-UBND ngày / /2025
của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB): 04 năm.
2. Thời kỳ kinh doanh: Cây sầu riêng có chu kỳ kinh doanh 13 - 20 năm, tính từ năm thứ 5.
3. Chu kỳ kinh doanh: Cây sầu riêng có chu kỳ kinh doanh 17 - 24 năm.
4. Mục tiêu năng suất: 25 - 30 tấn/ha.
II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1. Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa
- Yêu cầu về nhiệt độ: Sầu riêng là cây ăn quả nhiệt đới nên có thể sinh trưởng, phát triển tốt ở nhiệt độ từ 24-300C. Nhiệt độ dưới 150C có thể làm cây rụng lá, sinh trưởng chậm, cây có thể chết nếu kéo dài.
- Yêu cầu nước và lượng mưa: Sầu riêng thuộc nhóm cây trồng mẫn cảm với mặn, chịu được nguồn nước có nồng độ mặn < 1%0. Cây sầu riêng sinh trưởng, phát triển tốt nhất ở nơi có lượng mưa trung bình là 2.000 mm/năm.
- Yêu cầu về độ cao: Sầu riêng là cây ăn quả nhiệt đới, không chịu được khí hậu lạnh nên chỉ thích hợp trồng ở những vùng độ cao thích hợp là 900 m.
- Yêu cầu về gió:
+ Sầu riêng thích hợp gió nhẹ. Cây không chịu được gió mạnh hay gió bão. Tránh trồng sầu riêng nơi có gió mạnh trong điều kiện khô nóng.
+ Nếu vườn có diện tích lớn thì nên chia vườn thành từng lô nhỏ (10-20ha) hoặc các vùng bị ảnh hưởng của gió lớn thì chọn cây có độ cao hợp lý, chắc gỗ, khó đổ ngã để trồng quanh vườn và đường phân lô làm cây chắn gió cho cây sầu riêng. Không chọn cây là ký chủ của các loài sâu bệnh hại cây sầu riêng, nhất là nấm Phytophthora spp. như dừa, cao su,..
3. Ánh sáng
Khi cây còn nhỏ, cây thích bóng râm nên cần che mát giảm lượng ánh sáng từ 30-40%. Khi cây lớn lên các cây tự che mát nhau, không cần che bóng và cây lớn cần ánh sáng đầy đủ để phát triển.
4. Đất đai: Cây sầu riêng có thể sinh trưởng phát triển trên nhiều loại đất khác nhau. Đất có tầng canh tác sâu, không quá nhiều sét, khả năng thoát nước tốt, không bị ngập úng, pH đất thích hợp từ 5,5-6,5 cây sầu riêng phát triển tốt nhất. Do khả năng chịu hạn rất kém nên các khu vực có nguy cơ bị thiếu nước tưới khuyến cáo không nên trồng cây sầu riêng.
1.Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống
Sử dụng các giống được cấp Quyết định công nhận lưu hành, tự lưu hành, lưu hành đặc cách, các giống trong danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh có thẩm quyền ban hành và được chuyển tiếp theo quy định hoặc đã được Quyết định công nhận cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng.
Một số giống sầu riêng được trồng phổ biến hiện nay gồm:
- Giống Dona (Monthong):cây sinh trưởng khá tốt, dạng tán hình tháp, lá thuôn khá dài. Cây có thể cho thu hoạch sau 4-5 năm trồng. Giống này có thời gian thu hoạch từ đậu trái dài hơn giống Ri6 từ 20-30 ngày. Quả khá to (2,5-4,5 kg/quả), thường có dạng hình trụ, thịt quả màu vàng nhạt, xơ to trung bình, ráo, vị ngọt béo, thơm trung bình, hạt lép nhiều (>85%), tỉ lệ thịt quả cao (>40%). Giống sầu riêng Dona dễ bị sượng múi. Năng suất cao và khá ổn định (150-180 kg/cây/vụ, đối với cây 10 năm tuổi).
- Giống Ri 6:cây sinh trưởng khá tốt, phân cành ngang đẹp, dạng tán hình tháp, lá dạng hình xoan. Cây có thể cho thu hoạch sau 3-4 năm trồng. Quả có khối lượng trung bình 2,5-3 kg/ quả, có hình elip, thịt quả có màu vàng đậm, không xơ, ráo, vị béo ngọt, thơm nhiều, hạt lép khá (>30%), tỉ lệ thịt quả cao (>31%). Giống sầu riêng Ri6 dẽ bị cháy múi. Năng suất cao và khá ổn định (130-170 kg/cây/vụ, đối với cây 10 năm tuổi).
- Giống Cơm vàng sữa hạt lép (Chín Hóa):cây sinh trưởng khá tốt, dạng tán hình tháp, lá thuôn dài. Cây có thể cho thu hoạch từ năm thứ 4 sau trồng. Quả khá to (2,6-3,1 kg/quả), dạng hình cầu cân đối, thịt quả màu vàng, không xơ, vị rất béo ngọt, mùi thơm, hạt lép nhiều (>70%), hơi nhão (nếu để’ muộn) và tỉ lệ thịt quả khá cao (28,8%). Giống sầu riêng này thịt quả sẽ nhão nếu thu hoạch muộn. Năng suất khá cao và khá ổn định (100-150 kg/cây/ vụ, đối với cây 10 năm tuổi).
1.2. Tiêu chuẩn cây giống sầu riêng ghép
- Gốc ghép và bộ rễ: Thân và cổ rễ: phải thẳng; vỏ: không bị thương tổn; đường kính (đo từ phía dưới vết ghép khoảng 2 cm): 1,0 - 1,5 cm; vị trí ghép: cách mặt bầu từ 15-20 cm; vết ghép: đã liền và tiếp hợp tốt; mặt cắt thân gốc ghép lúc xuất vườn: nằm ngay phía trên chân của cành giống, được quét sơn hoặc các chất tương tự không bị dập sùi; bộ rễ: phát triển tốt, có nhiều rễ tơ.
- Thân, cành, lá: thân cây thẳng và vững chắc; số cành: có từ 3 cành cấp 1 trở lên; số lá trên thân chính: số lá phải hiện diện đủ từ 1/3 chiều cao của cành giống đến đỉnh chồi. Các lá ngọn đã trưởng thành, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng của giống; chiều cao cây giống (từ mặt giá thể bầu ươm đến đỉnh chồi) từ 80 cm trở lên; đường kính cành giống (đo phía trên vết ghép khoảng 2 cm): từ 0,8 cm trở lên.
- Độ thuần, độ đồng đều, dịch hại, tuổi xuất vườn: cây sản xuất phải đúng giống như tên gọi ghi trên nhãn, hợp đồng; mức độ khác biệt về hình thái cây giống không vượt quá 5% số lượng cây; cây giống phải đang sinh trưởng khỏe, không mang các loại dịch hại chính: thán thư, bệnh do nấm (Phytophthora), rầy phấn (Psyllid),...
- Tuổi cây giống xuất vườn: 8-12 tháng sau khi ghép.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng
Thường cây sầu riêng được trồng vào đầu mùa mưa để giảm chi phí tưới tiêu cho vườn cây.
Thời vụ trồng thích hợp từ tháng 6 đến tháng 8 dương lịch.
2.2. Mật độ và khoảng cách trồng: mật độ 100 đến 156 cây/ha, khoảng cách trồng thích hợp từ 8-10 x 8-10m.
2.3. Chuẩn bị đất: đất trồng sầu riêng phải đủ ẩm và thoát nước tốt trong mùa mưa cũng như có thể tạo khô hạn để xử lý cây ra hoa trái vụ.
2.4.Đào hố, bón lót
- Đào hố:đào hố có kích thước tối thiểu đạt 0,6 m x 0,6 m x 0,6 m (trên nền đất có độ phì thấp nên đào hố lớn hơn)
- Bón lót:Trước khi trồng thì đào hố trên mô đã đắp với kích thước 0,4 x 0,4 x 0,4 m (đối với vùng đất thấp), trộn lớp đất vừa đào với 0,5 - 1 kg phân hữu cơ sinh học + 0,3 - 0,5 kg phân lân nung chảy. Lượng phân này được trộn đều với lớp đất mặt cho đầy hố, vun mô cao 0,2 m so với mặt đất (đối với vùng đất cao). Đối với vùng đất phèn cần bón 2-3 kg vôi bột nông nghiệp/mô. Tưới nước ướt đẫm sau khi bón vôi. Công tác chuẩn bị mô để trồng cây cần thực hiện hoàn chỉnhtrước trồng 15 -20 ngày.
2.5. Kỹ thuật trồng
- Cắt bỏ đáy vật liệu làm bầu đất, đặt cây vào hố trồng và lấp đất vừa ngang mặt bầu cây con.
- Cắm cọc giữ cây khỏi đổ ngã và che bóng cho cây con.
2.6. Phân bón và kỹ thuật bón phân
2.6.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)
- Phân vô cơ:Khuyến cáo bón phân thời kỳ kiến thiết cơ bản
Thời kỳ | Lượng phân N-P-K (kg/ha) | Lượng phân (kg/ha) | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
N | P2O5 | K2O | Ure | Super lân | Kalisunphat | |
Năm thứ 1 | 31,2-46,8 | 15,6-31,2 | 15,6-31,2 | 67,9-101,7 | 101,7-195,0 | 30-60 |
Năm thứ 2 | 46,8-70,2 | 31,2-46,8 | 31,2-46,8 | 101,7-152,6 | 195,0-292,5 | 60-90 |
Năm thứ 3 | 70,2-93,6 | 46,8-62,4 | 54,6-78,0 | 152,6-203,4 | 292,5-390 | 105-150 |
Năm thứ 4 | 109,2-140,4 | 62,4-78,0 | 93,6-109,2 | 237,4-305,3 | 390-487,5 | 180-210 |
Có thể sử dụng phân đơn (ure, Super lân, Kali sunphat) hoặc phân NPK để bón cho cây giai đoạn kiến thiết cơ bản.
- Phân hữu cơ:liều lượng 10 - 30 kg phân chuồng hoai mục (hoặc 3 - 5 kg hữu cơ vi sinh)/ cây/năm, định kỳ 1 lần/năm. Liều lượng phân chuồng năm thứ 1 và thứ 2 khoảng 10 - 20 kg/cây và đến năm thứ 4 là 25 - 30 kg/cây.
- Phân bón lá: Humic acid: cải tạo - tăng độ phì của đất, giảm ngộ độc hữu cơ, ngộ độc phèn; Giúp cây ra rễ mạnh, mầm khỏe, sinh trưởng tốt. Liều lượng sử dụng như trên bao bì. Các loại phân bón lá đa, trung, vi lượng: cung cấp các chất dinh dưỡng đa, trung, vi lượng cần thiết cho cây trồng, giúp tăng khả năng sinh trưởng và sức đề kháng.
- Vôi: liều lượng 0,5 - 1 kg/cây vào đầu mùa mưa. Nếu đất có pH > 6,5 thì không nên bón thêm vôi.
* Thời điểm và cách bón phân vô cơ: sau khi trồng thấy cây ra tược non đầu tiên mới tiến hành bón phân. Lượng phân bón nên chia nhỏ làm nhiều lần bón (4-9 lần), năm đầu tiên nên bón 6-9 lần/năm. Phân bón có thể pha vào nước để tưới gốc hoặc xới nhẹ xung quanh gốc để bón phân và tưới nước.
2.6.2. Thời kỳ kinh doanh
- Phân vô cơ:lượng phân bón thời kỳ kinh doanh (mật độ 156 cây/ha và độ tuổi từ 5 tuổi trở lên)
Thời kỳ | Lượng phân N-P-K (kg/ha) | Lượng phân (kg/ha) | ||||
N | P2O5 | K2O | Ure | Super lân | Kali sunphat | |
Thời kỳ kinh doanh | 218,4-249,6 | 187,2-218,4 | 265,2-312,0 | 474,8-542,6 | 1170-1365 | 510-600 |
Có thể sử dụng phân đơn (ure, Super lân, Kali sunphat) hoặc phân NPK để bón cho cây sầu riêng
Tỷ lệ bón phân vô cơ thời kỳ kinh doanh
Lần bón | Thời điểm bón | Tỷ lệ bón (%) | ||
N | P2O5 | K2O | ||
Đợt 1 | Giai đoạn sau thu hoạch | 36 | 24 | 15 |
Lần 1 | Sau thu hoạch | 12 | 8 | 5 |
Lần 2 | Cơi đọt 1 già | 12 | 8 | 5 |
Lần 3 | Cơi đọt 2 già | 12 | 8 | 5 |
Đợt 2 | Giai đoạn xử lý ra hoa | 8 | 40 | 21 |
Đợt 3 | Giai đoạn ra hoa | 30 | 18 | 30 |
Lần 1 | Khi hoa dài 1 cm | 12 | 8 | 5 |
Lần 2 | 14 ngày sau lần 1 | 12 | 8 | 5 |
Lần 3 | Trước khi hoa trổ 10 ngày | 6 | 2 | 20 |
Đợt 4 | Giai đoạn nuôi quả | 26 | 18 | 21 |
Lần 1 | 2 tuần sau đậu quả | 6 | 2 | 7 |
Lần 2 | 4 tuần sau đậu quả | 12 | 8 | 5 |
Lần 3 | 6 tuần sau đậu quả | 8 | 8 | 9 |
Đợt 5 | Trước thu hoạch 3-4 tuần | 0 | 0 | 13 |
- Phân hữu cơ:sử dụng phân hữu cơ hoai từ 50-100 kg/cây/năm hoặc phân hữu cơ 12-20 kg/cây/năm.
- Bón vôi:sử dụng vôi (CaO), bón 2-4 kg vôi/cây/năm. Kiểm tra pH đất ít nhất 2 lần/năm, nếu pH đất giảm thì bón vôi, pH đất > 6,5 thì không cần bón vôi. Ngoài ra, bón vôi để cung cấp canxi cho cây.
* Cách bón phân:
- Giai đoạn sau thu hoạch
+ Bón vôi:bón toàn bộ lượng vôi.
+ Phân hữu cơ.
Phân chuồng hoai mục được bón toàn bộ ngay sau thu hoạch.
Nếu sử dụng phân hữu cơ bón 60% (Chia 3 lần bón. Sau thu hoạch, cơi đọt 1 già, cơi đọt 2 già).
+ Phân vô cơ (đợt 1)
+ Phân bón lá. Sử dụng Humic theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì.
- Giai đoạn xử lý ra hoa
+ Phân vô cơ (đợt 2):cơi đọt thứ 3 được 3 tuần tuổi tiến hành bón phân tạo mầm hoa.
+ Phân bón lá: Phun phân có hàm lượng lân và kali cao như MKP, KNO3, hoặc 10-60-10 theo liều khuyến cáo trên bao bì để lá sớm thành thục, giúp quá trình tạo mầm hoa đạt hiệu quả.
- Giai đoạn ra hoa:khi hoa nhú mắt cua (có kích cỡ 0,5-1,0 cm) cần thực hiện như sau.
+ Phân hữu cơ:bón 20% tổng lượng phân hữu cơ
+ Phân vô cơ (đợt 3).
+ Phân bón lá:giai đoạn hoa đến trước khi hoa nở, phun các loại phân bón lá chứa canxi - Bo + kali theo khuyến cáo để tăng tỷ lệ đậu quả. Nếu cây có đọt non trước khi hoa nở 2 tuần thì phun phân bón lá có kali cao để chặn đọt non phát triển quá mức, giúp hoa thụ phấn, đậu quả tốt.
- Giai đoạn nuôi quả
+ Phân hữu cơ:bón 20% tổng lượng phân hữu cơ
+ Phân vô cơ (đợt 4).
- Trước thu hoạch 3 – 4tuần
+ Phân vô cơ (đợt 5)
+ Phân bón lá:Humic acid. cải tạo - tăng độ phì của đất, giảm ngộ độc hữu cơ, ngộ độc phèn; Giúp cây ra rễ mạnh, mầm khỏe, sinh trưởng tốt. Các loại phân bón lá đa, trung, vi lượng và điều hòa sinh trưởng. cung cấp các chất dinh dưỡng đa, trung, vi lượng cần thiết cho cây trồng và điều hòa khả năng sinh trưởng, phát triển của cây, giúp tăng khả năng sinh trưởng và sức đề kháng, tăng khả năng ra hoa, đậu quả và tăng chất lượng quả. Giai đoạn và liều lượng sử dụng như trên bao bì.
2.6.3. Kỹ thuật bón phân
- Phân được rải trên mặt liếp xung quanh gốc theo hình chiếu tán cây, sau đó tưới nước giúp phân tan nhanh.
2.7. Chăm sóc
- Kỹ thuật tưới nước và giữ ẩm
+ Giai đoạn cây con tưới nước để giảm tỷ lệ cây chết, giúp cây khỏe, nhanh cho trái.
+ Giai đoạn cây ra hoa cần tưới nước cách ngày giúp hoa phát triển tốt hạt phấn mạnh khỏe.
+ Cần giảm khoảng 2/3 lượng nước ở mỗi lần tưới (chu kỳ tưới không thay đổi) vào 1 tuần trước khi hoa nở giúp hạt phấn khỏe có khả năng thụ phấn, đậu trái tốt.
+ Sau khi đậu trái tiến hành tưới tăng dần lượng nước đến mức bình thường trở lại, giúp trái phát triển khỏe, chất lượng cao.
- Tủ gốc giữ ẩm: cây sầu riêng cần sử dụng rơm hoặc cỏ khô phủ kín mô đất 1 lớp dày 10-20 cm, cách gốc 10-50 cm tùy theo cây lớn hay nhỏ. Gốc sầu riêng khô ráo sẽ làm giảm cơ hội cho mầm bệnh tấn công vào gốc.
Trong những năm đầu khi cây sầu riêng chưa cho quả, nên trồng một số cây ngắn ngày hoặc cây ăn quả sinh trưởng, phát triển nhanh (như chuối, ổi...) làm cây trồng xen trên vườn sầu riêng. Có thể thay thế cây trồng xen bằng các loại cỏ cải tạo đất, các loại cây cỏ có hoa nhỏ, rau trai.Không nên trồng các loại cây là ký chủ của nấm Phytophthoraspp. như đu đủ, dứa, ca cao, cao su,…trên vườn sầu riêng.
2.7.2.Tỉa cành, tạo tán cho cây sầu riêng
a) Tạo tán, tỉa cành trong thời kỳ kiến thiết cơ bản
Thực hiện ngay từ năm thứ nhất. Tỉa bỏ các chồi mọc từ gốc ghép. Tỉa bỏ các cành bị che khuất, cành mọc quá gần nhau không nhận được ánh sáng, các cành mọc đứng. Tỉa để lại một thân chính và các cành ngang như tán cây thông.
Sau thu hoạch, tỉa các cành mọc vượt, cành mọc yếu, cành bị sâu bệnh gây hại nặng, cànhkiệt sức vì đã mang nhiều quả, cành mọc xen, mọc dày trong tán, cành đan giữa hai cây hay các cành cấp 1 mọc quá gần mặt đất (Cành đầu tiên kể từ mặt đất phải cao hơn 70 cm).
c) Cắt ngọn trong thời kỳ kinh doanh
Khi cây có chiều cao vượt khoảng cách trồng và có tối thiểu 18 cành cấp 1 trên cây (cành cấp 1 có đường kính >4 cm), nên ngắt ngọn để cố định chiều cao cây. Cắt ngọn để lại chiều cao cây phù hợp (chiều cao bằng khoảng cách trồng). Vết cắt được quét thuốc hoặc sơn keo chống thấm. Định kỳ kiểm tra vị trị cắt ngọn, nếu phát hiện chồi mọc lên thì cắt bỏ.
2.7.3. Xử lý ra hoa
Các bước cơ bản để xử lý ra hoa sầu riêng như sau:
Bước 1: tạo các đợt chồi mới
- Sau thu hoạch tiến hành tỉa cành cắt bỏ những cành không mang quả, cành nằm trong tán, cành sâu bệnh...
Bón phân đợ
t 1
Bước 2: phân hóa mầm hoa
Bón phân đợt 2
Sau khi bón phân tạo mầm được 30-40 ngày, tiến hành quét dọn tất cả vật liệu tủ gốc, không tưới nướ
c
.
Tiến hành phủ bạt nilon để tạo khô hạn nhân tạo.
Phun phân bón lá có hàm lượng lân và kali cao như MKP, KNO
3
hoặc 10-60-10 để lá sớm thành thục, giúp quá trình tạo mầm hoa đạt hiệu quả.
Bước 3: phát triển hoa
Khi cây ra hoa được 0,5 cm, dở bạt nilon.
Tiến hành tưới nước cách ngày, với liều lượng tăng dần đến mức bình thường giúp hoa phát triển tốt.
Bón phân đợt 3
Cần phun phân bón lá chứa Canxi - Bo ở thời điểm trước và sau hoa nở 5-7 ngày theo liều lượng khuyến cáo để tăng tỷ lệ hoa đậu quả sau này.
Bước 4: tăng đậu quả
Nếu cây có đọt non trước khi xổ nhụy 15 ngày thì phun phân bón lá chứa hàm lượng kali cao để kìm hãm hoặc giúp đọt mau già, giúp hoa thụ phấn, đậu quả tốt, hạn chế cạnh tranh dinh dưỡng dẫn đến việc rụng quả non.
Thụ phấn bổ sung
Giai đoạn 7 ngày sau khi đậu quả: phun NAA nồng độ 20-30 ppm và phân bón lá NPK 15-30-15 để hạn chế rụng quả non.
2.7.4. Chăm sóckhác
a) Giai đoạn sau khi trồng đến khi bắt đầu cho trái:
- Tưới nước:cây con cần được tưới nước đầy đủ để giảm tỉ lệ cây chết, giúp cây khỏe, nhanh cho trái. Trong mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt.
- Làm cỏ - tủ gốc:nên để cỏ trên mô nhưng cần làm cỏ xung quanh gốc sầu riêng để gốc được khô ráo, vì ẩm độ cao sẽ thích hợp cho nấm Phytophthora palmivora phát triển và gây hại. Trong mùa khô cần dùng cỏ khô hoặc rơm rạ phủ đất giữ ẩm xung quanh gốc cây, nên phủ cách gốc 10 - 50cm tùy độ lớn của cây.
- Tỉa cành, tạo tán: trong năm thứ hai, thứ ba khi cây chưa cho trái cần tỉa bỏ những cành bị che khuất, cành yếu, cành bị sâu bệnh, cành mọc quá gần mặt đất. Chỉ để 1 ngọn với các cành ngang khỏe mạnh phân bố đều trên thân chính. Cần quét sơn cho các vết cắt có đường kính lớn hơn 1cm. Lưu ý: Tỉa cành xong mới tiến hành bón phân.
- Bón phân: giai đoạn cây con và những năm đầu cho trái: hàng năm mỗi gốc bón 5 - 10kg phân gà đã ủ hoai mục (hoặc các dạng phân hữu cơ khác) kết hợp phân vô cơ có chứa nhiều đạm và lân như 18-11-5 hoặc 15-15-6. Liều lượng phân vô cơ tăng dần theo độ lớn của cây, năm đầu tiên khoảng 0,3kg/gốc/năm, chia nhiều lần bón. Nên sử dụng phân NPK có bổ sung thêm chất Manhê (Mg). Chú ý: Không sử dụng các loại phân có chứa chất Clor (Cl).
b) Giai đoạn cây cho trái ổn định:
*Tỉa quả:công việc tỉa quả có thể được chia làm 2 lần chính như sau:
Lần 1: tỉa quả vào tuần thứ 3 hoặc 4 sau hoa nở, lần này nên cắt tỉa các chùm quả đậu dày đặc, quả bị méo mó, quả bị sâu, bệnh.
Lần 2: tỉa quả vào tuần thứ 6-8 sau khi hoa nở, cần tỉa những quả méo mó, những quả có dấu hiệu phát triển không bình thường.
* Khắc phục hiện tượng sượng cơm, cháy múi, nhão cơm
Do cạnh tranh dinh dưỡng trong quá trình phát triển quả hoặc rối loạn dinh dưỡng do mất cân bằng giữa can-xi, ma-giê và kali hoặc ra hoa và đậu quả nhiều đợt hay do ẩm độ đất cao. Giải pháp khắc phục như sau:
Kích thích ra hoa tập trung, đồng loạt.
Vườn cây thoát nước tốt, tránh ngập úng. Tránh thu hoạch quả giai đoạn có
mưa nhiều nhằm giảm hiện tượng nhão cơm.
Hạn chế sự ra đọt non trong giai đoạn phát triển quả bằng cách phun phân bón lá chứa
kali
và lân cao 7-10 ngày/lần, giai đoạn từ 3-12 tuần sau khi đậu quả.
Hạn chế sử dụng phân bón chứa Clo, phun phân bón lá có chứa Bo giai đoạn 15-20 ngày sau khi đậu quả để hạn chế hiện tượng cháy múi.
Có thể phun 2-3 lần phân bón lá có chứa Can-xi, Ma-giê giai đoạn từ 2 tháng sau khi đậu quả.
2.8. Phòng trừ sâu, bệnh hại
2.8.1. Biện pháp phòng trừ tổng hợp
* Biện pháp canh tác
- Sử dụngcây giống đảm bảo tiêu chuẩn.
- Chọn vùng đất cao ráo, thoát nước tốt để trồng sầu riêng.
- Trồng sầu riêng với mật độ và khoảng cách phù hợp.
- Bón vôi: nhằm tăng độ pH của đất, cung cấp Canxi cho cây và hạn chế các loài nấm, vi khuẩn và các loài rong xanh trong đất.
- Không trồng xen các loại cây là ký chủ của nấm Phytophthora gây thối gốc chảy nhựa, cháy lá, thối bông, thối trái sầu riêng như đu đủ, thơm, dừa, nhóm cây có múi,…
- Tưới nước đầy đủ kết hợp tủ gốc giữ ẩm cho cây vào mùa khô và khơi thông mương, rãnh thoát nước, tránh đọng nước ở xung quanh gốc làm phát sinh bệnh thối rễ, xì mủ.
- Bón phân cân đối và hợp lý. Tăng cường sử dụng phân hữu cơ hoai mục để cải tạo đất kết hợp với phân vô cơ N-P-K cân đối, không lạm dụng phân hóa học để canh tác sầu riêng vì làm mất cân bằng sinh học của đất, tạo điều kiện cho các dịch hại trong đất phát sinh và gây hại.
* Biện pháp vật lý, cơ giới
- Thường xuyên cắt tỉacành, nhánh gần mặt đất, cành nhỏ, cành vô hiệu, cành sâu bệnh, cành trong tán cây, cành mọc đứng giúp cây thông thoáng đồng thời thu dọn toàn bộ cành, nhánh đã cắt tỉa và trái sầu riêng trong vườn (trái rụng, trái sâu, bệnh) để hạn chế nấm bệnh phát triển và lưu tồn.
- Sử dụng máy cắt cỏ hoặc phát cỏ, làm cỏ thủ công định kỳ để giảm ẩm độ vườn cây và nơi cư trú của sâu bệnh, hạn chế các loại nấm bệnh phát triển nhất là trong mùa mưa.
- Sử dụng bẫy vàng dẫn dụ ruồi đục trái, sâu đục quả trường thành.
- Khi thời tiết mưa nhiều đất mặt bị đóng váng, cần xới phá váng trước khi sử dụng thuốc BVTV để tăng hiệu quả phòng trừ các với các loại bệnh hại rễ.
* Biện pháp sinh học
* Biện pháp hóa học
Thường xuyên kiểm tra tình hình sâu bệnh, theo dõi tình hình thời tiết để quyết định việc sử dụng thuốc BVTV. Chỉ sử dụng thuốc khi mật độ dịch hại phát triển đến ngưỡng gây thiệt hại về kinh tế và phải thực hiện theo nguyên tắc 4 đúng, lựa chọn thuốc ít độc hại, có thời gian cách ly ngắn và ít ảnh hưởng đến thiên địch. Sử dụng thuốc BVTV phải tuân theo Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây sầu riêng và các quy định an toàn cho người lao động và thực phẩm.
2.8.2. Sâu hại và biện pháp phòng trừ
a) Rầy nhảy (Allocaridara malayensisCrawford)
*Triệu chứng gây hại.
- Lá bị rầy chích hút ban đầu xuất hiện những chấm nhỏ màu vàng, sau đó mép lá bị cháy xoăn lại, khô dần và rụng, đôi khi chỉ còn trơ lại cành bị khô chĩa lên trời.
- Lá sầu riêng bị rầy nhảy chích hút làm mép lá cháy xoăn, ngọn cây rụng lá trơ trọi.
- Hiện tượng cháy khô lá và rụng khi bị rầy nhảy chích rất dễ nhầm lẫn với các bệnh cây trồng khác như thán thư hay táp nắng, nhiễm mặn.
- Ngoài ra, trong quá trình sinh sống, rầy nhảy còn tiết ra các chất là môi trường rất tốt cho nấm bồ hóng phát triển phủ đen bề mặt lá ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây.
- Rầy nhảy tấn công từ khi lá còn chưa mở đến khi lá đã thành thục thì rầy không gây hại mạnh nữa
- Cây trồng bị rầy nhảy gây hại thường phát triển kém, lá nhỏ, cháy mép, rụng hàng loạt. Các đọt non khô dần khiến cành trơ trọi.
- Các vết thương do rầy chích hút sẽ tạo điều kiện cho nấm khuẩn xâm nhập gây nên các bệnh đốm lá vi khuẩn,…
- Nếu rầy gây hại trong thời kỳ ra hoa sẽ khiến hoa rụng, không thể đậu trái ảnh hưởng đến năng suất của mùa vụ.
- Đọt non sầu riêng bị rầy chích hút sẽ kém phát triển. Trong quá trình gây hại loài dịch hại này tiết ra dịch ngọt tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển làm ảnh hưởng tới quang hợp của cây.
* Biện pháp phòng trừ.
-Trong tự nhiên có nhiều loài ong ký sinh họ Encyrtidae, bọ rùa,…do đó cần tạo điều kiện cho các loại thiên địch này phát triển nhằm giảm mật số rầy.
- Vệ sinh vườn sạch sẽ, thông thoáng.
- Điều khiển cây ra đọt tập trung để thuận tiện trong việc phòng trừ.
- Kiểm tra phát hiện mật độ rầy nhảy đạt ngưỡng phòng trừ, có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc sinh học, thảo mộc hoặc thuốc chứa hoạt chất như Ebamectin benzoate, Abamectin,Spirotetramat để phòng trừ.
b) Rệp sáp phấn (Planococcus sp., Pseudococcus sp.)
* Triệu chứng gây hại.
- Các loại rệp sáp gây hại trên cây sầu riêng có rất nhiều loại khác nhau nhưng loại rệp sáp thường thấy nhất đó chính là loại Planococcus sp. chúng xuất hiện tấn công và gây hại phổ biến trên lá, nhất là trên trái. Chúng bám vào bề mặt và thực hiện việc chích hút chất dinh dưỡng khiến cho vùng bị chích hút không thể phát triển gây nguy hại nghiêm trọng cho trái khiến cho trái bị sượng. Đặc tính sinh trưởng của chúng là sinh trưởng phát triển mạnh mẽ vào mùa khô cũng là thời điểm sầu riêng ra hoa kết trái và rất dễ dàng bị tấn công.
- Rệp sáp gây hại bằng cách hút nhựa nơi cuống trái non hoặc giữa các gai trên trái lớn. Khi trái còn nhỏ, nếu mật số rệp cao, trái bị biến dạng và rụng, nếu trái lớn, trái phát triển kém và bị sượng. Khi thiếu thức ăn, rệp trú ẩn dưới đất nơi vùng rễ.
- Rệp sáp hút nhựa cây và bài tiết chất dịch giàu chất đường, khiến nấm bồ hóng dễ phát triển và làm trái bị phủ một lớp muội đen. Những trái sầu riêng nào có xuất hiện nấm bồ hóng và rệp nhìn không được đẹp mắt, rất khó bán, giá thành thấp. Ngoài ra nấm còn làm cây sinh trưởng kém do quang hợp giảm. Rệp sáp ít di chuyển, sống cộng sinh với kiến. Kiến sống bằng cách hút chất dịch do rệp thải ra và bảo vệ rệp bằng cách xua đuổi các thiên địch ăn thịt và ký sinh của rệp, sau khi rệp đã hút hết nhựa, kiến sẽ tha rệp đi nơi khác để tiếp tục gây hại.
Ngoài ra rệp sáp cũng gây hại rất mạnh trên hệ rễ sầu riêng: chúng là tác nhân gián tiếp mở đường để nấm khuẩn tuyến trùng gây hại hệ rễ sầu riêng. Cây sầu riêng bị rệp sáp hại rễ thường có triệu chứng sinh trưởng và phát triển rất kém, lá vàng úa từ gốc lên ngọn và rụng từ từ. Cây bị suy yếu, rễ bị thối, cây héo vàng dần, khi bị nặng lá rụng hàng loạt, quả nhỏ, hạt bị lép, cây khó hồi phục và nặng hơn có thể bị chết.
* Biện pháp phòng trừ.
+ Bảo vệ và phát huy vai trò của thiên địch bọ rùa Cryptolaemus montrouzieri Mulsant.
+ Phun nước trực tiếp vào quả để rửa trôi rệp sáp
+ Tỉa bỏ những quả non bị rệp sáp gây hại nặng.
+ Tránh tồng xen với những cây bị nhiễm rệp sáp như mãng cầu, chôm chôm,...
+ Kiểm tra, phát hiện mật độrệp sáp đạt ngưỡng phòng trừ, sử dụng các loại thuốc có hoạt chất Spirotetramat (Movento 150OD), Spinosad (Spinki 25SC) để phòng trừ.
c) Sâu đục trái (Conogethes punctiferalisGuene)
*Triệu chứng gây hại.
- Thành trùng đẻ trứng trên các vỏ trái non. Ấu trùng nở ra thường chọn những nơi gần cuống trái để đục vào trong trái. Đầu tiên ấu trùng tấn công vào vỏ trái lên tuổi lớn tiếp tục đục vào trong trái.
- Sâu thường gây hại nặng trên các chùm trái ngay từ khi trái còn nhỏ, làm cho trái bị biến dạng và rụng, nếu tấn công vào giai đoạn trái đang phát triển sẽ làm giảm giá trị thương phẩm của trái.
- Khi trái bị sâu hại tạo ra các vết thương, là điều kiện thuận lợi cho một số nấm bệnh tấn công làm thối trái. Khi sâu đục thường thải ra các đám phân màu nâu đậm bên ngoài lỗ đục. Thường trái chùm bị gây hại nhiều hơn trái đơn.
* Biện pháp phòng trừ.
- Bảo vệ các loài thiên địch trong tự nhiên như: Bọ xít ăn mồi, nhện và kiến vàng Oecophylla smaragdina. Trong tự nhiên, sâu đục quả có nhiều loài thiên địch như: kiến sư tử và chim sâu tấn công sâu non khi ở bên ngoài vỏ quả, bọ ngựa và nhiều loài nhện có khả năng bắt và ăn thịt bướm sâu đục quả....
- Thu gom và tiêu hủy những chùm hoa có sâu hoặc quả bị sâu gây hại đem tiêu hủy. Tỉa bỏ bớt những quả kém phát triển trong chùm.
- Trong chùm quả chưa bị nhiễm nên sử dụng đoạn gỗ nhỏ để chêm giữa các quả để hạn chế sự gây hại.
- Khi cần thiết có thể sử dụng thuốc hóa học ở những vùng thường xuyên bị nhiễm nặng, sử dụng thuốc hóa học phun ngừa giai đoạn ra hoa và quả.
Kiểm tra, phát hiện mật độ sâu đục trái đạt ngưỡng phòng trừ, có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất
Bacillus thuringiensis var. kurstaki, Spinosad, Chlorantraniliprole
,
Pyriproxy
f
en,...
Theo
liều lượng khuyến cáo trên bao bì.
d)Xén tóc đục thân cành (Batocera rufomaculataDe Geer)
*Triệu chứng gây hại.
Sâu non sau khi nở, ăn vỏ cây thành những đường ngoằn ngoèo không đều nhau. Sau đó chúng đục vào thân. Đôi khi không có điểm thích hợp để đục vào, sâu non di chuyển dần xuống phía dưới gốc và đục chui vào bên trong làm thành những đường hầm ngoằn ngoèo bên trong thân, các đường này chứa phân do chúng thải ra.
Loài xén tóc này đục trên thân chính hoặc nhánh lớn thường làm chết nhánh hoặc chết cả cây.
Cây bị tấn công vào giai đoạn nhỏ sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng rất nhiều, mạch dẫn nhựa tắt nghẽn làm cho cành bị khô héo và rụng lá, các lỗ do ấu trùng đục vào bị chảy nhựa và cành dễ gãy.
* Biện pháp phòng trừ.
Rất khó để quản lý các loài xén tóc vì ấu trùng ở sâu bên trong. Có thể ngừa bằng cách sau:
+ Xén tóc rất thích ánh đèn vì thế có thể dùng bẫy đèn để bắt trưởng thành vào đầu mùa mưa.
+ Nên thăm vườn thường xuyên phát hiện sớm.
+ Dùng dao nhỏ khoét ngay lỗ đục sẽ thấy sâu nằm bên trong, bắt sâu hoặc phát hiện nhộng phải tiêu diệt.
+ Hiện chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây sầu riêng. Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc đã đăng ký trên cây ăn quả có cùng đối tượng dịch hại để phòng trừ. Lưu ý thử nghiệm diện hẹp trước khi xử lý đại trà để không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây sầu riêng.
e)Mọt đục thân, cành (Xyleborus similisFerrari)
* Triệu chứng gây hại.
- Loài mọt Xyleborus similisthường tìm thấy trên phần gốc, thân và cành chính bên dưới.
- Trong quá trình đi thu mẫu ngoài đồng, loài mọt Xyleborus similisdễ tìm thấy ở những gốc, thân cây có những vết mùn cưa và nhựa cây ngoài vỏ kiểm tra kỹ bên trong có những lỗ đục nhỏ, một số trường hợp cây bị mọt tấn công kèm theo những vết bệnh xì mủ, các cây tìm thấy sự hiện diện của Xyleborus similis đa số đã bị bệnh xì mủ hay bệnh xì mủ đang phát triển trên thân cây, gây thiệt hại lớn đối với sự sinh trưởng nhất là trong giai đoạn ra hoa và mang trái của cây sầu riêng.
- Loài mọt Xyleborussimilisgây hại khác với loài Xyleborus fornicatus,ban đầu nó tấn công lên phần vỏ cây trước tạo ra các vết xì mủ kèm với mùn cưa bên trong với các đường đục phức tạp, sau đó nó tấn công phần gỗ tiếp giáp với phần vỏ và tạo thành hệ thống mạng lưới đường đục rất phức tạp như triệu chứng trên phần vỏ. Các đường đục này thường song song với tượng tầng libe gỗ và ít khi mọt đục thẳng sâu vào phần gỗ bên trong. Trứng và ấu trùng của Xyleborus similisđược đẻ trong đường đục tìm thấy có trong phần vỏ cây và cả phần gỗ của thân cây. Chính điều này, có lẽ làm cho lớp vỏ tổn thương và chết hoại nhanh hơn.
*Biện pháp phòng trừ.
Rất khó để quản lý các loài mọt đục cành vì ấu trùng ở sâu bên trong. Có thể phòng ngừa bằng cách sau:
+ Nên thăm vườn thường xuyên phát hiện sớm.
+ Khi phát hiện có sự hiện diện của mọt đục thân gây hại trên cây sầu riêng thì tiến hành phun thuốc phòng trừ đối tượng này. Sử dụng luân phiên một số loại thuốc như: Abamectin, Emamectin benzoate... kết hợp với thuốc trừ bệnh xì mủ thân Dimethomorph hoặc Fosetyl-aluminium...
f) Bệnh nứt thân, xì mủ (Phytophthora palmivora)
* Triệu chứng gây bệnh.
Bệnh có thể gây hại trên các bộ phận của cây.
+ Trên rễ: cây trồng trên đất thấp, ẩm độ cao thì rễ dễ nhiễm bệnh và các rễ non bị thối có màu nâu đen, rễ chết dần làm cây phát triển chậm, sau đó nấm lây lan đến phần thân cây phía trên làm chảy nhựa thân, bộ lá chuyển màu vàng cây không phát triển và chết dần.
+ Trên thân, cành: cây nhiễm bệnh bộ lá không còn bóng mượt và chuyển màu vàng, sau đó rụng theo từng cành hay một phía của cây. Trên thân có dấu hiệu chảy nhựa trên bề mặt vỏ cây, vết bệnh ướt và nhựa màu nâu, nấm thường tấn công xung quanh gốc và các cành cây. Bị hại nặng vết bệnh sẽ phát triển xung quanh thân chính và cành, làm cho bộ lá biến màu vàng úa rồi cây chết. Cạo lớp vỏ bị bệnh ra thấy phần gỗ có màu nâu sẫm chạy dọc theo thân và cành.
+ Trên lá: vết bệnh đầu tiên là những đốm đen nâu nhỏ trên mặt lá và lan rất nhanh, sau 2 ngày lá chuyển thành màu nâu và bào tử nấm lây sang lá kế cận, lá bị nhũng rồi khô dần và rụng sau vài ngày, khi có mưa kèm theo gió mạnh sẽ là điều kiện tốt cho bệnh lây lan khắp cả vườn.
+ Trên trái: vết bệnh ban đầu là một vài chấm nhỏ màu nâu đen xuất hiện ở vị trí dọc theo chiều từ cuống trái trở xuống xung quanh trái, hiếm thấy vết bệnh ở phần cuối trái, sau đó phát triển thành hình tròn hay loang lỗ và có màu nâu trên vỏ trái. Khi trái già vết bệnh nứt ra và phần thịt bên trong bị thối, có rất nhiều sợi nấm màu trắng trên vết bệnh và làm trái sầu riêng rụng trước khi chín.
Bệnh phát sinh mạnh ở nhiệt độ 16-320C, ẩm độ không khí 80-95%, nhất là trong mùa mưa. Ở nhiệt độ dưới 100C hoặc trên 350C bệnh ngừng phát triển. Nguồn bệnh tồn lưu trong đất dưới dạng bào tử, vết bệnh dưới dạng sợi nấm. Từ đây nấm dễ dàng phát tán và gây hại khi gặp điều kiện thuận lợi.
* Biện pháp phòng trừ.
+ Đối với vườn mới trồng: nên thiết kế líp trồng cao ráo và vị trí trồng phải cách mực nước cao nhất hằng năm từ 70 - 100 cm.
+ Chọn giống có tính chống chịu bệnh cao để dùng làm gốc ghép.
+ Trồng với mật độ thấp, khoảng cách từ 8 - 10 m, tạo thuận lợi cho cây sầu riêng phát triển tốt trong điều kiện thông thoáng.
+ Bón phân chuồng tạo cho đất tơi xốp và cung cấp các nguyên tố vi lượng cho cây
+ Thiết kếhệ thống tưới tiêu và thoát nước tốt để hạn chế ẩm độ cao trong vườn nhất là trong mùa mưa.
+ Trên vườn sầu riêng đang cho trái nên tỉa cành tạo tán và giảm mật độ giúp cây thông thoáng kết hợp với việc tái tạo hệ thống thoát nước thật tốt trong mùa mưa, tránh bộ rễ bị thối do ngập nước, hay trồng thấp.
+ Sử dụng các sản phẩm hữu cơ, phân vi sinh, phân chuồng, rơm khô, cỏ khô, phân hữu cơ đã hoai mục kết hợp vi sinh vật đối kháng như Trichoderma, Streptomyces nhằm diệt mầm bệnh Phytophthora và tăng sức đề kháng cho cây.
+ Rải vôi xung quanh tán cây và quét lên gốc cây trong phạm vi 0,5 - 1,0 m từ mặt đất (Sử dụng vôi đậm đặc quét lên thân chính vào cuối mùa nắng hay đầu mùa mưa).
+ Tiêm thân: đối với cây lớn (có đường kính thân trên 15 cm) tiêm Phosphonate để phòng bệnh 2 lần/năm, pha thuốc theo tỷ lệ 1:1 (10 ml thuốc + 10 ml nước sạch/1 m đường kính tán). Nếu dựa theo đường kính thân: Cây có đường kính thân 15 - 17 cm tiêm 2 mũi/lần; đường kính thân 17 - 20 cm tiêm 3 mũi/lần, tiêm 2 lần/năm vào đầu và cuối mùa mưa tiêm vào sáng sớm.
+ Khi thấy vết chảy nhựa xuất hiện nhỏ nhất dùng dao cạo bỏ hết phần bị thối nâu sử dụng Dimethomorph(Insuran 50WG); Dimethomorph + Mancozeb (Acrobat MZ 600 WP, Diman bul 70WP); Fosetyl-aluminium (Agofast 80 WP, Aliette 800WG); Fosetyl-aluminium +Mancozeb, (Binyvil 70WP); Mancozeb (Vimancoz 80WP,…); Phosphorous acid (Agri-Fos 400SL; Phytofos 600SL,) quét lên vết bệnh nhiều lần đến khi vết bệnh khô hẳn, sử dụng theo liều lượng khuyến cáo.
g) Bệnh thán thư (Colletotrichum zibethinum)
*Triệu chứng gây bệnh: bệnh thường lan từ bìa hay chóp lá lan vào, làm lá cháy từng mảng to, vùng cháy có màu nâu đỏ, bên trong hình thành những vùng đồng tâm màu nâu sẫm. Bệnh nặng làm lá khô cháy, cây con kém phát triển.
* Biện pháp phòng trừ:
+ Tạo vườn thông thoáng, tỉa bỏ và tiêu hủy những cành bị bệnh nặng.
+ Cung cấp nước, phân bón đầy đủ cho cây.
+ Phun các hoạt chất khi bệnh vừa xuất hiện: Propineb (Dovatracol 72WP); Propineb (Dovatracol 72WP); Streptomyces lydicus (Actinovate 1 SP); Streptomyces lydicus + Fe + Humic acid(Actino-Iron 1.3 SP) để phòng trừ.
h) Bệnh nấm hồng (Corticium samonicolor)
* Triệu chứng gây bệnh: bệnh thường gây hại trên thân, cành cây. Vết bệnh là những mảng màu hồng trên vỏ cành, đôi khi có gai màu hồng phát triển từ các vết nứt trên vỏ thân và cành, cành nhiễm bệnh nặng sẽ khô chết.
* Biện pháp phòng trừ.
+ Cần trồng cây với mật độ thưa, tỉa cành cho cây thông thoáng, tỉa bỏ và tiêu hủy các cành bị bệnh.
+ Dùng nấm đối kháng Trichoderma bón vào đất, sử dụng thuốc BVTV Tricô ĐHCT-Nấm hồng 108 bào tử/g WPđể phòng trừ.
i) Bệnh thối rễ (Pythium complectens)
* Triệu chứng gây bệnh.
Nấm tấn công vào chóp rễ nhánh trước làm cho các nhánh thân non bị chết dần. Bên dưới vùng chết có thể phát triển các nhánh chồi mới nhưng cây vẫn bị chết đột ngột.
Bệnh phát sinh và gây hại trên các vườn cây bị ngập úng, thoát nướckém và lây lan qua nguồn nước tưới.
* Biện pháp phòng trừ.
+ Rải vôi xung quanh tán cây.
+ Xới nhẹ xung quanh gốc theo hướng vuông gốc với tán cây.
+ Sử dụng thuốc Mancozeb (Vimancoz 80WP) tưới xung quanh gốc.
+ Phân hữu cơ ủ oai mục kết hợp nấm đối kháng Trichodermabón vào gốc cây.
Xử lý đất bằng các loại thuốc gốc đồng trước khi trồng cây. Cắt bỏ và đốt bỏ các phần rễ bị nhiễm bệnh.
- Làm sạch cỏ rộng hơn tán lá 20-30cm, cần phải xới nhẹ (không đào rễ) phá váng bề mặt đất (sâu 5-15cm) tạo thoáng khí (cách gốc 1m-1,5m đối với cây lớn 8- 10 năm và tùy đường kính tán lá).
- Kiểm tra phát hiện bệnh xuất hiện, xử lý bằng thuốc Trichoderma spp (Vi-ĐK109 bào tử/g AP) để phòng trừ.
IV. Thu hoạch, sơ chế, chế biến và bảo quản
4.1.Thu hoạch
- Thời gian từ khi đậu trái đến thu hoạch tùy thuộc vào giống và điều kiện thời tiết. Giống Dona thu hoạch trễ hơn giống Ri6 20-30 ngày; miền Đông Nam bộ và Tây Nguyên có thời gian phát triển trái dài hơn ĐBSCL 20-30 ngày. Giống Dona cắt quả vào thời điểm 110-130 ngày sau khi hoa nở; giống Ri6 cắt quả vào thời điểm 85-100 ngày sau khi hoa nở. Để xác định thời điểm cắt quả, người thu hoạch dùng phương pháp gõ vào trái để nghe độ vang của âm thanh phát ra khi gõ.
- Nên thu hoạch vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát và nhẹ tay, tránh thu hoạch quả sau cơn mưa hoặc khi trời có nhiều sương mù, thời gian có mưa nhiều. Dùng dao cắt cả cuống quả sầu riêng cho vào giỏ, tránh để quả tiếp xúc với đất, bị nắng hay mưa ướt.
* Lưu ý: Thu hoạch sầu riêng phải đảm bảo thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
4.2. Bảo quản và vận chuyển sản phẩm quả sầu riêng
- Bảo quản quả: sử dụng nước sạch để rửa quả, hong khô trong mát. Khi trữ quả, phải có tấm lót ngăn cách với sàn nhà. Không đặt quả thành đống, tạo điều kiện thoáng mát. Tùy theo yêu cầu của thị trường mà chúng ta có thể’ phân ra nhiều loại khác nhau (theo kích cỡ). Chú ý trong cùng một lô hàng thì kích cỡ, màu sắc của các quả phải đồng đều nhau. Chỉ xử lý thúc chín quả theo hướng dẫn của nhà chuyên môn, chủng loại, liều lượng và nồng độ hóa chất phải được sự cho phép của nhà tiêu thụ.
- Vận chuyển quả:việc vận chuyển quả sầu riêng từ vườn đến nơi đóng gói (vựa, điểm thu gom) bằng phương tiện thô sơ hoặc cơ giới tùy theo khả năng. Có thể’ xếp theo lớp có chèn lót hoặc trong các xọt chứa và để cách lớp thông thoáng. Chú ý trong quá trình vận chuyển cần che mát cho trái và tránh làm bập dập, trầy xướt trái. Ở điều kiện nhiệt độ môi trường trái cần được bảo quản trong điều kiện khô ráo và thông thoáng.
+ Trong quá trình bốc xếp trước và sau khi vận chuyển, cần thực hiện cẩn thận. Khi xếp hàng lên xe nên chú ý không xếp quá chật và cũng không quá lỏng lẻo. Việc vận chuyển trên các phương tiện thông thường nên thực hiện vào ban đêm khi nhiệt độ hạ thấp, không nên vận chuyển vào những lúc trời nắng nóng nhất trong ngày.
+ Sầu riêng sau khi thu hoạch cần nhanh chóng vận chuyển về nơi xử lý đóng gói đảm bảo cho quả xử lý và đưa vào bảo quản trước 24 giờ để tăng khả năng tồn trữ và duy trì chất lượng sau thu hoạch.
* Ghi chú:hiện nay, thuốc BVTV đăng ký trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây sầu riêng còn ít. Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc đã đăng ký trên cây ăn quả có cùng đối tượng dịch hại để phòng trừ. Lưu ý, nên thử nghiệm diện hẹp trước khi xử lý đại trà để không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây sầu riêng.