Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên nho.
Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.
| Dịch hại | Số thuốc đã đăng ký |
|---|---|
| Phấn trắng | 16 |
| Bọ trĩ | 12 |
| Mốc sương | 12 |
| Sương mai | 8 |
| Thán thư | 6 |
| Mốc xám | 6 |
| Kích thích sinh trưởng | 4 |
| Sâu xanh da láng | 3 |
| Thối quả | 3 |
| Thối thân | 3 |
| Thối nứt trái do vi khuẩn | 2 |
| Nhện đỏ | 2 |
| Thối rễ | 2 |
| Rầy bông | 1 |
| Bệnh thối quả | 1 |
| Rệp | 1 |
| Sâu khoang | 1 |
| Sâu xanh | 1 |
QUY TRÌNH
Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây nho trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
(Ban hành kèm Quyết định số /QĐ-UBND, ngày / /2025
của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB): từ khi trồng đến khi cây bắt đầu cho thu hoạch, kéo dài từ 7–12 tháng, tùy vào điều kiện canh tác của người dân và người dân muốn có thu sớm (từ cành cấp 1-2) hoặc thu trễ hơn (từ cành cấp 3).
2. Thời kỳ kinh doanh: từ 9 – 14 năm tính từ năm thứ 2 trở đi
3. Chu kỳ kinh doanh: từ 10- 15 năm, tùy điều kiện chăm sóc và giống trồng.
4. Mục tiêu năng suất: 25 – 30 tấn/ha(tùy theo từng loại giống và điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và kỹ thuật canh tác).
II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1. Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa
- Nhiệt độ: nhiệt độ thích hợp đối với cây nho khoảng từ 25 – 300C, nếu nhiệt độ thấp dưới 10oC sẽ chuyển sang trạng thái ngủ nghỉ và nhiệt độ cao hơn 350C sẽ làm khô hoa, quả chín không có màu (người trồng nho gọi là “nho ‘cầm màu’”).
- Ẩm độ: ẩm độ không khí gần như là một yếu tố quyết định đến việc trồng nho được hay không, ẩm độ không khí thích hợp đối với cây nho khoảng 70 – 80%. Ẩm độ cao trên 80% vào các tháng mưa là điều kiện thuận lợi để nấm bệnh phát triển và gây hại bộ lá, cuống chùm và gây thối quả.
- Lượng mưa: cây nho cần lượng mưa hàng năm thấp khoảng 800 – 1000mm/năm. Cây nho không thích hợp với các vùng mưa nhiều (khoảng 1000mm trở lên) vì lượng mưa lớn sẽ ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất cây nho như làm hỏng bộ rễ, kích thích nhiều nấm bệnh gây hại, cản trở quá trình hình thành hoa, quả và cản trở tới việc điều khiển cây để cắt cành.
2. Gió
Gió to không những có thể làm dập nát lá, chùm nho, còn có thể làm đổ giàn, vậy nên trồng nho ở những nơi hứng nắng, nhưng được che chắn kỹ. Những vùng hay có gió bão không thuận lợi để trồng nho.
3. Ánh sáng
- Cây nho là cây ưa ánh sáng trực xạ và sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện chiếu sáng nhiều, số giờ nắng bình quân trên 7 giờ mỗi ngày là điều kiện tốt cho nho sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao.
- Việc thiếu ánh sáng trong quá trình canh tác nho chủ yếu là do tán lá quá rậm rạp hoặc thời tiết u ám, từ đó sẽ ảnh hưởng đến việc rụng hoa và quả non do vậy cần chú ý tới việc tạo hình, tỉa cành cho cây.
4. Đất đai
- Cây nho có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, từ đất cát thô, lẫn sỏi đá đến đất thịt nặng có tầng canh tác sâu. Tuy nhiên, nên tránh không trồng trên các loại đất sét nặng, tầng canh tác quá nông, tiêu nước kém, đất mặn và đất quá chua không được cải tạo.
- Đất thích hợp để trồng nho thường là đất tơi xốp, thoáng khí, tầng canh tác sâu 2 - 3m và tiêu nước tốt như đất thịt pha cát (35 - 40% cát, 35 – 40% bùn và 10 - 25% sét) hoặc đất cát nhẹ. pH thích hợp cho cây nho từ 6,5 – 7,5.
- Mực nước ngầm thích hợp cho trồng nho khoảng 2m kể từ mặt đất.
III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống
Tất cả các giống nho trồng trong sản xuất hiện nay đều từ nước ngoài nhập vào từ thời Pháp thuộc và nhất là trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ. Nơi tập trung trồng nhiều giống nhất là Viện Nghiên cứu Bông và PTNN Nha Hố và từ đó các giống nho đã phổ biến vào trong sản xuất ở các tỉnh.
Giống nho ăn tươi:
+ Nho Red Cardinal: Là giống nho đỏ được trồng phổ biến ở Việt Nam và các nước quanh vùng như: Philippines, Thái Lan,...Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày, có thể thu 3 vụ/ năm. Khi chín vỏ có màu đỏ hồng, vỏ quả mỏng, thịt quả mềm, ngọt thơm. Năng suất 150 – 200 tạ/ha/vụ, độ Brix 15-200.
+ Nho NH 01-48: Là giống nho ăn tươi, khi chín quả có màu xanh, hạt ít (từ 1 đến 2 hạt/quả). Thời gian sinh trưởng 100 – 115 ngày. Chùm quả có hình nón dài, chùm đóng quả chặt, quả hình ô van. Khối lượng quả trung bình 5-5,5g, số quả/chùm là 60-70 quả, năng suất 150 – 250 tạ/ha/vụ, độ Brix 17-190.
+ Nho NH01-152: Là giống có khả năng sinh trưởng mạnh, khi chín có màu đỏ tươi, quả có mùi hương đặc trưng, hình ô van. Thời gian sinh trưởng 115-120 ngày, khối lượng quả trung bình 4,8 – 5,3g; số quả/chùm là 56-145 quả. Năng suất 180 – 200 tạ/ha/vụ, độ Brix 16-180.
1.2. Tiêu chuẩn cây giống
- Cây giâm yêu cầu cao từ 35 - 40cm có 3 - 5 mầm to đều, đường kính cây đạt 0,8cm, có 3 - 5 lá màu xanh đậm, tuổi cây từ 6 tháng đến 1 năm, sạch sâu bệnh
- Cây ghép yêu cầu đạt 1 năm tuổi, chiều dài mắt ghép dài 25 - 30cm có 3 - 5 mầm to đều, có từ 3 - 5 lá màu xanh đậm, đẹp, đường kính cây 0,8cm, sạch sâu bệnh.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng
Nên trồng vào các tháng 11, 12 và tháng 1 năm sau. Đây là thời vụ tốt nhất cho cây nho sinh trưởng phát triển. Không nên trồng nho trong vụ mưa và các tháng nắng nóng vì cây nho phát triển rất kém và tỷ lệ chết cao.
2.2.Mật độ, khoảng cách
Khoảng cách trồng: Hàng cách hàng 2,5m; Cây cách cây 1,5 – 2,0m (tương đương mật độ 2.000 -2.667 cây/ha).
2.3. Chuẩn bị đất
Đối với đất thịt có tầng đế cày chứa nhiều sét, nên dùng cày dạng lưỡi phá cày ngầm 9 lưỡi để phá sâu xuống tầng đất phía dưới, độ sâu 30 - 40 cm, phá tầng đế cày để tạo điều kiện cho đất thoáng khí giúp bộ rễ ăn sâu rộng, thoát nước tốt, kết hợp 500 - 700 kg vôi cho 1 ha để khử chua, khử độc và mầm mống sâu bệnh hại trong đất.
Đất sau khi cày bừa kỹ được phân lô với khoảng cách từ 8 - 10 m dài, mỗi lô được bố trí 1 mương tưới, trên mỗi lô được chia thành các luống với khoảng cách từ 2,0 - 2,2 m. Đồng thời tạo rãnh luống có độ sâu 15 - 20 cm, rộng 10 - 15 cm.
2.4. Đào hố, bón lót
- Đào hố: hố kích thước 90 x 90 x 90 cm hoặc 120 x 120 x 120 cm tùy từng loại đất.
- Bón lót: bón 8-10kg phân chuồng hoai, lấp đất trước khi trồng 15 ngày.
2.5. Kỹ thuật trồng
- Cắm choái, làm giàn
+ Khi cây nho cao độ 25 - 30cm cần cắm choái và cột cây nho vào choái để giữ cây nho khỏi bị gió làm gãy đồng thời tỉa bỏ chồi phụ ở nách lá, tua cuốn để tập trung dinh dưỡng cho cây mau lớn.
+ Cọc giàn có thể là cọc gỗ hoặc cọc bê tông. Tùy vào mật độ trồng để xác định khoảng cách đặt cọc, thông thường cọc cách cọc 2,5 m. Hai cọc biên cắm xiên 30 độ và neo chắc chắn.
+ Đào lỗ sâu 50 - 60cm để chôn cột (trụ). Trụ cao từ 2,0 - 2,2m, nén chặt đất xung quanh trụ để trụ đứng vững. Dùng dây kẽm có đường kính 3 – 4 mm căng từ trụ này đến trụ kia tạo thành ô vuông,
+ Dùng dây kẽm 1mm hoặc cước 2mm đan lưới ô vuông trên giàn, khoảng cách giữa các dây 25 – 30 cm.
- Tạo cành cấp 1, cấp 2:
+ Khi cây nho vượt khỏi giàn 30-40 cm có thể tiến hành ngắt ngọn để cho ra 3 cành cấp 1, những cành yếu ngắt bỏ.
+ Khi cành cấp 1 dài 100 - 120 cm, tiến hành bấm ngọn chừa lại 40 cm và chọn 2-3 mầm khoẻ để tạo cành cấp 2.
Đối với giống nho NH 01-48, và các giống dài ngày khác cần lưu ý chăm sóc giai đoạn đầu để tạo tán. Nếu cây nho phát triển tốt thì tạo cành rất nhanh. Nếu cành nho ốm yếu nhỏ thì vấn đề nhân cành rất chậm làm cho cành nho cứ nối dài ra mà không phân nhánh được và dẫn đến năng suất rất kém.
2.6. Phân bón và kỹ thuật bón phân:
2.6.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)
Giai đoạn này khoảng 2 tháng bón phân một lần. Phân bón cho giai đoạn này có thể dùng phân hữu cơ sinh học (HCSH) đạt tiêu chuẩn định lượng quy định (HCSH) với số lượng 4.000 kg/ha hoặc phân hóa học gồm 450 kg Urê + 580 kg Super lân + 260 kg KCl, 01 tấn vôi và 20 tấn/ha phân chuồng ủ hoai. Chia ra các lần bón như sau:
- Bón lót: Trước khi trồng giống nho làm gốc ghép
Đào hố bón 8-10 kg phân chuồng hoai, lấp đất trước khi trồng 15 ngày.
- Bón thúc lần 1: Khi cây nho mới bén rễ
Bón 650 kg phân HCSH hoặc 75 kg Urê + 100 kg Super lân + 45 kg Clorua kali.
- Bón thúc lần 2: 2 tháng sau khi trồng
Bón 650 kg phân HCSH hoặc 75 kg Urê + 100 kg Super lân + 45 kg Clorua kali.
- Bón thúc lần 3: 4 tháng sau khi trồng
Bón 1350 kg phân HCSH hoặc 150 kg Urê + 180 kg Super lân + 85 kg Clorua kali
- Bón thúc lần 4: 6 tháng sau khi trồng
Bón 1350 kg phân HCSH hoặc 150 kg Urê + 200 kg Super lân + 85 kg Clorua kali
2.6.2. Thời kỳ kinh doanh
Khuyến cáo có thể bón phân cho nho như sau:
- Phân chuồng: Bình quân khoảng 20 tấn/ha/vụ (chỉ bón cho vụ Đông Xuân), bón ngay khi thu hết trái vụ trước.
- Phân hóa học: Bón theo công thức NPK là 184-160-200 kg/ha/vụ.
Lượng phân nguyên chất | Phân thương phẩm | Cách bón (kg) | ||||
(1) | (2) | (3) | (4) | (5) | ||
N: 184 kg | Urea: 400 kg | - | 160 | 80 | 120 | 40 |
P2O5: 160 | Super lân: 1000 kg | 700 | - | - | 300 | - |
K20: 200 kg | KCl: 330 kg | - | 132 | 33 | 66 | 99 |
* Chú thích: - (1): ngay khi thu hoạch hết trái vụ trước.
- (2): trước cắt cành 10 - 15 ngày.
- (3): sau cắt cành 10 - 15 ngày.
- (4): sau cắt cành 35 - 40 ngày.
- (5): sau cắt cành 55 - 60 ngày.
Việc bón phân theo hướng hữu cơ sinh học hoặc hữu cơ sinh học kết hợp với phân hóa học cũng đang được khuyến khích. Nếu bón theo hướng HCSH thì bón 4.000kg/ha chia bón 3 lần: Lần 1 sau khi thu hoạch xong vụ trước bón 1.300kg HCSH; Lần 2 trước cắt cành 10-12 ngày bón 1.200kg HCSH; Lần 3 sau khi đậu trái xong 10-15 ngày bón 1.500kg HCSH.
2.6.3. Kỹ thuật bón phân
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản: bón quanh gốc kết hợp xới xáo chung quanh vùng rễ, lần đầu cách gốc 20 cm, các lần kế tiếp xới xa dần; bón xong tưới nước ngay.
- Thời kỳ kinh doanh
+ Bón bằng cách rải đều trên mặt luống sau đó dùng cuốc xới nhẹ chôn vùi phân vào đất, không phơi phân dưới ánh sáng mặt trời, nếu đất khô thì tưới nước ngay.
+ Đối với giống nho dài ngày thời gian giữa các lần bón có thể kéo dài thêm khoảng 5 ngày và lượng phân hóa học có thể tăng thêm 10-20%.
+ Trường hợp nho phát triển kém hoặc bộ rễ bị thương tổn, có thể sử dụng thêm phân bón lá như: Agrostim, K-humat,…Có thể sử dụng một số loại phân bón lá có hàm lượng Canxi cao như CanxiBore vào các giai đoạn trước khi trổ hoa, sau đậu trái và lần cuối cùng khi trái lớn.
2.7. Chăm sóc
2.7.1. Làm cỏ, xới xáo
- Thời kỳ cây con định kỳ cứ 20-30 ngày nên xới xáo và làm cỏ quanh gốc một lần, lúc đầu xới cách gốc 20 cm về sau xới xa gốc dần.
- Khi cành nho đã giao tán cỏ phát triển chậm, cần làm cỏ khi thấy cỏ xuất hiện kết hợp xới nhẹ để phá váng và giúp đất được thông thoáng. Một năm nên xới hầm một lần để tạo bộ rễ mới, thường tiến hành khi thu hết trái vụ Đông Xuân.
- Sau mỗi vụ thu hoạch cần làm sạch cỏ, phát quang bờ bụi chung quanh vườn nho để loại trừ chỗ ẩn nấp của sâu bệnh.
- Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ cỏ nhằm hạn chế khả năng ô nhiễm đất. Nếu dùng chỉ được phép dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật nằm trong danh mục cho phép của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
2.7.3. Tưới nước
Là một kỹ thuật quan trọng cùng với phân bón quyết định năng suất. Tưới chỉ cần thiết vào vụ nắng và về mùa mưa có khi cũng phải tưới.
- Đất cát 5-7 ngày tưới 1 lần. Giai đoạn lá nhiều, ra hoa, nuôi quả 3-5 ngày tưới 1 lần.
- Đất thịt 10-15 ngày tưới 1 lần nhưng lượng nước tưới nhiều hơn. Thời kỳ ra quả cần tăng cường hơn 7-10 ngày/lần.
2.7.4. Cắt cành, cột cành, tỉa chồi nách
- Cắt cành: Mỗi năm nên cắt cành 2 vụ chính
+ Vụ Đông xuân: Cắt cành tháng 11-12 thu hoạch tháng 1-2 dương lịch.
+ Vụ Hè thu: Cắt cành tháng 3 - 4, thu hoạch tháng 5- 6 dương lịch.
Không khuyến cáo cắt nho trong vụ mưa (vụ Thu Đông) để tránh thiệt hại do áp lực của thời tiết xấu và nấm bệnh.
Đối với giống nho NH 01-48 khi chọn thời vụ, cắt cành cần tránh giai đoạn ra hoa, rơi vào khoảng tháng 5 đến tháng 8, để tránh gió Nam (nóng và khô) làm cháy bông.
- Kỹ thuật cắt cành
+ Tiến hành cắt khi cây nho ở trong tình trạng khỏe (Rễ trắng nhiều, ngọn nho ra lá mới, cành rễ…)
+ Vị trí cắt thường để lại 6-12 mắt của cành cắt, tùy theo chiều dài, đường kính, sự hóa gỗ của cành và tùy theo mùa vụ. Tốt nhất 8-10 mắt.
+ Khi mật độ cành thấp thì nên cắt cành 5 tháng tuổi.
+ Khi mật độ cành vượt quá 8 cành/m2, thì phải cắt cành 10 tháng tuổi vào vụ đông để hạn chế mật độ cành trên giàn.
+ Cắt xong cần phun thuốc rửa cành để tiêu diệt mầm sâu bệnh còn tồn lại của vụ trước và thu gom cành lá vừa cắt bỏ để tiêu hủy bằng cách đốt hoặc chôn lấp để tránh lây lan sâu bệnh.
- Cột cành, tỉa chồi nách
+ Ngay sau khi cắt cành phải buộc và phân chia lại số cành, cho rải đều trên giàn, tiến hành loại bỏ thường xuyên những cành yếu.
+ Duy trì mật độ cành vừa phải 6-8 cành/m2.
+ Cột cành 2 lần trước khi bông nở, kết hợp tỉa bỏ bớt chồi nách.
2.7.5. Tỉa trái, bao chùm quả
-Cần tỉa trái khi trái bằng hạt bắp (đường kính khoảng 7 mm) và lập lại sau đó 25-35 ngày.
- Việc bao chùm quả có tác dụng tăng năng suất và chất lượng quả nho, đặc biệt có hiệu quả phòng trừ một số sâu bệnh hại nho như bệnh thán thư, phấn trắng, nấm cuống, bọ trĩ, rệp sáp... Bao chùm quả bằng túi chuyên dụng cắt đáy vào thời điểm sau khi nở hoa 25-35 ngày là thích hợp nhất. Cần xử lý thuốc trừ các sâu bệnh chính trên giàn nho trước khi bao chùm quả.
2.8. Phòng trừ sâu, bệnh hại
2.8.1. Quản lý dịch hại tổng hợp
Áp dụng các biện pháp tổng hợp để phòng trừ sâu bệnh hại nho, khuyến khích áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý cây trồng tổng hợp (ICM), cụ thể:
* Biện pháp canh tác
- Tạo sự thông thoáng cho giàn nho; vệ sinh đồng ruộng thu dọn tàn dư thực vật, tỉa bỏ trái và lá bệnh, chồi nách, chồi yếu đem ra khỏi vườn tiêu hủy. Tuyệt đối không đổ xuống mương nước.
- Bón phân cân đối; tạo hệ thống thoát nước tốt trong mùa mưa.
- Trên một vùng nên tổ chức cùng cắt nho một lúc sẽ rất thuận lợi cho công tác chăm sóc và hạn chế sâu bệnh lây lan.
- Duy trì mật độ cành hợp lý: 6-8 cành/m2; Thường xuyên loại bỏ cành, chồi nách yếu.
- Khi đang có dịch bệnh xảy ra nên tìm cách hạn chế sự lây lan từ ruộng này sang ruộng khác. Không nên trồng xen một số cây như xoài, ớt, hành, tỏi dưới giàn nho hoặc gần giàn nho.
* Biện pháp sinh học: Ưu tiên sử dụng các loại thuốc sinh học.
* Biện pháp hóa học
- Chỉ sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam ban hành hàng năm. Ưu tiên sử dụng các thuốc sinh học, thuốc có độc tính thấp, thời gian phân hủy nhanh. Sử dụng thuốc tuân thủ nguyên tắc 4 đúng. Luân phiên sử dụng các loại thuốc để tránh hiện tượng kháng thuốc của dịch hại.
- Đảm bảo thời gian cách ly trước khi thu hoạch theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất.
2.8.2. Các loài sâu hại chính trên nho và biện pháp phòng trừ
2.8.2.1. Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua)
a) Đặc điểm gây hại:Sâu cắn phá các phần non như đọt lá non, chùm hoa,... Hậu quả làm hạn chế sinh trưởng, giảm năng suất cây trồng. Khi nho già, sâu cắn phá làm tàn lụi lá, ảnh hưởng đến năng suất vụ sau. Sâu phát sinh trong điều kiện khô nóng. Sâu phát triển mạnh từ tháng 1 đến tháng 7. Đây là loại sâu hại rất khó phòng trừ bằng biện pháp hoá học.
b) Biện pháp phòng trừ:Khi sâu xuất hiện nhiều (sâu tuổi 1, 2 có mật độ trên 50 con/m2) thì sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất như Abamectin + Matrine (Luckyler 25EC); Emamectin benzoate (Tungmectin 5EC), Citrus oil (Map Green 6SL), Matrine (Ema 5EC) ... để phòng trừ.
2.8.2.2. Nhện đỏ (Eotetranychus carpini)
a) Đặc điểm gây hại:Nhện nhỏ li ti và di động, thường tập trung mặt trên lá và chích hút dịch làm cây suy yếu. Ngược với nhện vàng, nhện đỏ chủ yếu phá hại trên lá nho già và lá bánh tẻ. Giàn nho cuối vụ thường bị hại nặng, bộ lá có thể bị hư rụi toàn bộ, ảnh hưởng đến năng suất vụ sau.
b) Biện pháp phòng trừ:dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chấtRotenone (Dibaroten 5WP, 5SLO, 5GR), Matrine (Kobisuper 1SL), Diafenthiuron (Sam spider 500WP), Emamectin benzoate (Etimex 2.6EC), … để phòng trừ.
2.8.2.3. Bọ trĩ (Rhipiphorothrips cruentatus)
a) Đặc điểm gây hại:Là loại côn trùng chích hút, phát sinh mạnh trong điều kiện thời tiết khô hạn, nông dân quen gọi là rầy lửa .Bọ trĩ thường tập trung chích hút các phần non của cây, hậu quả làm lá mất màu, uốn cong, hoa rụng nhiều, trái phát triển kém, vỏ quả bị tổn thương và có thẹo, có thể làm trái nứt khi sắp chín. Cần phát hiện sớm để phòng trừ kịp thời và tránh lây lan.
b) Biện pháp phòng trừ:có thể sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất như: Abamectin (Agromectin 1.8EC, Aremec 45EC, Reasgant 3.6EC),Azadirachtin (Bio Azadi 0.3SL),Abamectin + Azadirachtin (Agassi 55EC),Emamectin benzoate (DT Ema 40EC, Dofaben 22EC, 150WG, Promectin 5.0EC), Abamectin + Matrine (Luckyler 25EC), Citrus oil (Map Green 6SL)...
2.8.2.4. Rệp sáp (Ferrisiana virgata)
a) Đặc điểm gây hại:Rệp phá hại hầu hết các bộ phận của cây, chúng bám vào cành ngọn non, lá và chùm quả để hút nhựa cây, hậu quả làm giảm sự sinh trưởng và phát triển của nho. Thân rệp có phủ l lớp sáp như bông, vì vậy nông dân thường gọi là rầy bông. Rệp còn thải mật tạo điều kiện cho nấm Bồ hóng phát triển, làm giảm quang hợp của lá. Nguy hại hơn, rệp làm cho chồi nho bị co cúm lại, giảm khả năng ra hoa và giảm chất lượng quả.
b) Biện pháp phòng trừ:Dùng thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất Pyrethrins (Mativex 1,5EW,…) để phòng trừ.
2.8.3. Các loại bệnh hại chính trên nho và biện pháp phòng trừ
2.8.3.1. Bệnh thán thư
Tác nhân do 2 loại nấm Elsinoe ampelina, Colletotrichum glocosporioides gây ra.
a) Triệu chứng gây bệnh:Lá non dễ nhiễm bệnh, đầu tiên là những đốm nhỏ màu nâu đậm, ở giữa màu xám lợt, sau bị thủng. Khi bị nặng làm lá biến dạng. Trên chồi: Chồi non, chồi mộng nước rất dễ nhiễm bệnh. Những vết bệnh nhỏ màu nâu sẽ lớn dần và phát triển thành hình oval màu tía, lõm xuống, viền màu đen. Trên trái xuất hiện những vết nhỏ màu đen, thường ở giữa màu xám. Khi cuống trái bị nấm tấn công thì trái không thể phát triển được.
b) Biện pháp phòng trừ:Phối hợp sử dụng thuốc BVTV với việc bao chùm trái nho vào mùa mưa. Có thể dùng các loại thuốc thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất Kasugamycin (Kamsu 2SL, 8WP), Azoxystrobin (Hiache 23SC), Eugenol (Genol 1.2SL),…để phòng trừ.
2.8.3.2. Bệnh mốc sương(Plasmopara viticola).
a) Triệu chứng gây bệnh: Nấm tấn công các phần xanh của cây, nhất là ở chùm hoa, lá và trái non. Khi bị bệnh nặng cây bị hư 1 phần lá hay rụng lá làm giảm sinh trưởng và phát triển, giảm năng suất và phẩm chất trái về sau. Chùm bông, chùm trái bị bệnh hoá nâu, sau đó khô héo rụng cục bộ hay toàn phần, trái phát triển èo uột.
b) Biện pháp phòng trừ:Chỉ nên phun thuốc khi cần thiết, có thể dùng các loại thuốc thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất: Citrus oil (Map Green 6SL), Cnidiadin (ACE Cnidn 1EW), Anacardic acid (Amtech 100EW),Bacillus subtilis (Bionite WP),.. để phòng trừ
2.8.3.3. Bệnh phấn trắng(Uncinula necator hay Oidium tuckeri).
a) Triệu chứng gây bệnh:Nấm bệnh tấn công các phần xanh của cây như cành xanh, lá già, lá bánh tẻ và trái. Cả 2 mặt lá khi bị nhiễm bệnh trở nên mất màu, có vết đốm sáng như giọt dầu, nhất là ở mặt trên lá, lá non bị biến dạng còi cọc. Trên quả có thể thấy rõ các vết màu trắng hơi xám của bào tử nấm, khi chùi lớp bào tử bên ngoài thì sẽ nhìn rõ vết bệnh màu trắng phía trong, cuống trái, chùm trái giòn, dễ gãy.
b) Biện pháp phòng trừ:Luân phiên sử dụng các loại thuốc thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất Chlorothalonil (Daconil 500SC), Kasugamycin (Bisomin 2SL, 6WP, Newkaride 3SL), Zineb (Guinness 72WP, Zineb Bul 80WP), Boscalid (Bosstar 25SC), Eugenol (Piano 18EW), Hexaconazole (Atulvil 5SC, Saizole 5SC), ...để phòng trừ
2.8.3.4. Bệnh rỉ sắt(Uromyces vignae).
a) Triệu chứng gây bệnh:nấm bệnh màu vàng rỉ sắt, gây hại chủ yếu trên lá già và lá bánh tẻ, vì thế thường thấy nấm xuất hiện vào cuối vụ trong các tháng mưa nhiều, nấm có thể làm tàn lụi bộ lá trước khi cắt cành, việc giảm diện tích quang hợp sẽ ảnh hưởng đến năng suất vụ sau.
b) Biện pháp phòng trừ:Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất như Hexaconazole (Vivil 5SC).
2.8.3.5. Bệnh nấm cuống(Diplodia sp.)
a) Triệu chứng gây bệnh:chủ yếu gây hại trên cuống trái, từ khi bắt đầu ra hoa đến khi trái lớn và chín. Trên cuống chùm hoa hoặc cuống chùm trái sẽ thấy những vết màu nâu, lúc đầu hơi ướt, về sau làm khô teo một đoạn cuống, gây tắc mạch dẫn nước và dinh dưỡng.
Tuỳ theo vết bệnh xuất hiện ở cuống lớn hay cuống nhánh, cuống nhỏ mà làm héo từng phần hay toàn bộ chùm hoa, chùm trái, làm giảm năng suất đáng kể. Ngoài ra, nấm bệnh còn tiếp tục phá hại cuống trái nho trong quá trình bảo quản và vận chuyển làm rụng và thối trái.
b) Biện pháp phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất: Cytosinpeptidemycin (Sat 4SL) để phòng trừ.
IV. Thu hoạch, sơ chế, chế biến và bảo quản
1. Thu hoạch
Trước khi thu hoạch phải đảm bảo thời gian cách ly thuốc BVTV và phân bón. Không thu nhặt trái bị rơi rụng trên mặt đất hoặc mặt nước bị ô nhiễm, tránh để sản phẩm tiếp xúc với đất. Chỉ sử dụng những dụng cụ, thùng chứa và các vật liệu đóng gói sạch sẽ cho việc vận chuyển, đóng gói.
- Thu hoạch: Vào sáng sớm hoặc chiều mát.
- Đúng thời gian sinh trưởng của giống từ 90 - 120 ngày (tùy theo giống và tùy theo mùa).
- Đúng màu sắc của giống: màu đỏ tươi, đỏ sậm, hay xanh vàng.. tùy loại giống; Kết chùm, trái to, đẹp, có vị ngọt, mùi thơm, không nứt dập và có nguồn gốc an toàn.
- Đưa chùm quả mới cắt vào giỏ tre hoặc giỏ nhựa chứa khoảng 10 – 15kg và lót giấy mềm bên dưới để tránh dập quả.
2. Sơ chế
a) Phân loại chùm quả
Dựa vào độ đồng đều về kích thước và khối lượng các chùm nho để xếp riêng, sao cho các chùm nho sau khi phân loại tương đối đồng đều nhau. Trong thực tế việc phân loại chùm nho chủ yếu bằng tay và bằng mắt là rất phổ biến.
Cắt tỉa trái thối hỏng, trái bị trầy xước, trái quá nhỏ ở những chùm nho đã được phân loại. Rửa chùm nho bằng nước sạch 3 - 4 lần cho hết bụi, lá khô, vật lạ lẫn vào chùm nho nếu có.Để chùm nho lên giá cho ráo nước hoặc dùng quạt gió cho mau khô nước trước khi đóng gói.
- Đóng gói
Đóng gói sản phẩm nho: 1 kg/gói hoặc đóng thùng carton hoặc thùng xốp trọng lượng 5 – 10 kg/thùng. Nếu đóng thùng không có bao bì thì xếp 1 – 2 lớp chùm quả phân bố đều trong thùng, nếu lót rơm hoặc bông vào đáy thùng và giữa các lớp chùm quả thì càng tốt. Cố định lại thùng bằng dây nhựa hoặc bằng băng keo dán.
3. Bảo quản và vận chuyển
- Xử lý chùm quả bằng cách ngâm trong dung dịch Anolyte từ 5-10 phút hoặc Chloramin B theo tỷ lệ 1g/m3 nước hoặc ozôn nhằm tẩy rửa vết bẩn và sâu bệnh bám trên vỏ quả, làm khô trước khi bỏ vào thùng.
- Vận chuyển xa, nho chất lượng cao nên đóng trong thùng xốp, carton có đục lỗ 2 bên cạnh thùng (trọng lượng chứa 5 - 10 kg). Tốt nhất là vận chuyển bằng xe lạnh để làm mát có nhiệt độ từ 3-50C.
- Vận chuyển gần có thể cho vào thùng carton (20-30 kg).