Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên nhãn.
Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.
| Dịch hại | Số thuốc đã đăng ký |
|---|---|
| Nhện lông nhung | 19 |
| Nhện đỏ | 8 |
| Thán thư | 7 |
| Thối quả | 6 |
| Bọ xít | 4 |
| Sâu đục quả | 3 |
| Rệp muội | 3 |
| Rệp sáp | 3 |
| Thối rễ | 2 |
| Ghẻ loét | 2 |
| Thối trái | 2 |
| Vàng lá | 2 |
| Rầy chổng cánh | 2 |
| Xì mủ | 2 |
| Phấn trắng | 2 |
| Sương mai | 1 |
| Bọ xít muỗi | 1 |
| Muội đen (capnodium sp.) | 1 |
| Sâu đo | 1 |
| Sâu khoang | 1 |
(Ban hành kèm theoQuyết định số /QĐ-UBNDngày //2025
của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I.Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1.Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB):từ khi trồng đến khoảng sau 3 năm nhãn cho trái.
2. Thời kỳ kinh doanh:15 – 22 năm, tính từ năm thứ 4.
3.Chu kỳ kinh doanh:từ 18 – 25 năm, tùy theo vào thực tế kỹ thuật thâm canh.
4. Mục tiêu năng suất:15 tấn/ha.
I. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1. Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa
- Nhiệt độ:nhiệt độ thích hợp cho cây nhãn sinh trưởng, phát triển là từ 210C đến 270C, phân hóa mầm hoa là trên dưới 10 0C (đối với các giống nhãn ở miền Bắc) và 170C đến 220C (đối với các giống nhãn trồng ở các tỉnh phía Nam).
- Lượng mưa và độ ẩm: lượng mưa thích hợp cho cây nhãn sinh trưởng, phát triển trong khoảng 1.200 – 1.600 mm/năm, độ ẩm không khí từ 70 - 90%.
2. Độ cao và gió:Gió có tác dụng hỗ trợ tung phấn hoa khi hoa đực nở, giúp hoa cái dễ dàng nhận được hạt phấn, tăng khả năng đậu quả. Tuy nhiên, nếu gió to có thể làm rụng hoa, rụng quả, gãy cành, thậm chí đổ cây
3. Ánh sáng: Nhãn là cây ưa sáng. Những cây nhận đầy đủ ánh sáng mới ra hoa, đậu quả tốt.
4. Đất đai: loại đất trồng nhãn thích hợp nhất là đất cát, cát pha và phù sa ven sông, độ pH từ 5,5 đến 6,5.
II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống:
- Giống phải có nguồn gốc, xuất xứ; được công bố lưu hành hoặc đã được tuyển chọn cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng do cơ quan chuyên môn công nhận.
- Một số giống nhãn được trồng tại Lâm Đồng (Hương Chi, Thanh Nhãn, nhãn đường phèn,…).
1.2. Tiêu chuẩn cây giống
- Cây giống phải đúng giống quy định.
- Đối với từng giống phải đồng nhất về hình thái và đặc tính di truyền. Trường hợp sản xuất với số lượng lớn từ 500 cây trở lên, độ sai khác về hình thái không quá 5%.
- Cây giống phải sinh trưởng khoẻ và không mang theo bệnh hại nguy hiểm.
- Đối với cây chiết, cây giống phải giữ nguyên được bộ lá ban đầu hoặc có các đợt lộc mới đã thành thục.
- Đối với cây ghép, cây giống có tuổi tính từ khi gieo hạt đến khi xuất vườn không quá 18 tháng (thời gian gieo hạt đến khi ghép 10-12 tháng, từ khi ghép đến xuất vườn 4-6 tháng).
STT | Chỉ tiêu đánh giá | Phẩm cấp | |||
Cây chiết | Cây ghép | ||||
Loại 1 | Loại 2 | Loại 1 | Loại 2 | ||
1 | Chiều cao cây tính từ mặt bầu (cm) | >70 | 60 - 70 | >75 | 65 - 75 |
2 | Đường kính gốc đo cách mặt bầu 5 cm (cm) | > 2 | 1,5 - 2 | 1 - 1,5 | 0,8 - 1 |
3 | Đường kính cành ghép đo trên vết ghép 2 cm (cm) | - | - | >0,8 | 0,6 - 0,8 |
4 | Chiều dài cành ghép tính từ vết ghép (cm) | - | - | 45 | 35 - 45 |
5 | Số lượng cành cấp | 2 - 3 | 1 - 2 | 2 - 3 | 2 - 3 |
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng:trồng vào mùa mưa (tháng 5 – 7) đảm bảo tỷ lệ sống cao nhất.
2.2.Mật độ, khoảng cách: Khoảng cách trồng là cây cách cây và hàng cách hàng từ 5m đến 7 m, tương đương với mật độ khoảng 277 - 400 cây/ha (tùy theo điều kiện thâm canh).
2.3. Chuẩn bị đất
- Chọn đất tốt, chủ động tưới và tiêu nước. Nếu là đất mới chuyển đổi từ đất ruộng cần được đào mương, lên líp trước khi trồng 4 - 6 tháng. Nếu là đất chu kỳ 2 cần trồng luân canh từ 2 - 3 vụ các loại cây trồng ngắn ngày như các cây họ đậu, cây rau, cây ăn quả ngắn ngày. Trước khi trồng cần vệ sinh toàn bộ xác thực vật và tàn dư khác; cần rắc vôi bột đều trên vườn với lượng 300 - 500 kg/ha trước khi làm đất.
- Thiết kế vườn trồng:tùy theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn phù hợp. Cụ thể:
+ Đối với đất màu cao hoặc đất bãi ven sông: chia băng có chiều rộng trồng được 2 - 3 hàng cây và thiết kế rãnh tiêu thoát nước đảm bảo tiêu thoát nước tốt trong mùa mưa.
+ Đối với đất trũng: cần đào mương, lên líp với kích thước mương phụ thuộc vào mức độ trũng của vườn, trung bình chiều rộng mương là 1 m × 1 m và chiều rộng líp là 7 - 8 m.
+ Đối với đất dốc: với độ dốc từ 10 - 250 cần trồng cây theo bậc thang. Kích thước mỗi bậc thang 3 - 4 m, mặt bậc thang nghiêng vào phía trong sườn núi. Đất có độ dốc nhỏ hơn 80 có thể trồng trực tiếp theo hàng. Nếu đất có độ dốc từ 80 đến dưới 100 cần trồng theo đường đồng mức, chiều rộng đường đồng mức bằng khoảng cách 1 hàng cây.
Chú ý: khi thiết kế vườn cần thiết kết hệ thống tưới, tiêu hợp lý. Tùy từng điều kiện mà có thể bố trí hệ thống tưới tiết kiệm hoặc tưới bề mặt. Đối với những vườn trồng mới có diện tích lớn cần quy hoạch đường giao thông nội đồng để vận chuyển vật tư, phân bón và sản phẩm thu hoạch bằng xe cơ giới.
- Đào hố: kích thước hố với chiều dài × chiều rộng × chiều sâu là: 0,8m × 0,8 m × 0,6 m. Vùng đất xấu cần đào hố với kích thước lớn hơn là 1,0 m × 1,0 m × 0,8 m. Khi đào hố, để riêng lớp đất mặt.
- Bón lót: lượng phân bón lót cho 1 hố là 30-50 kg phân chuồng hoặc 3-5 kg phân hữu cơ vi sinh, 0,1-0,2 kg P2O5, 0,1-0,2 kg K2O; những vùng đất chua cần bón thêm 0,5-1,0 kg vôi bột.
Tất cả các loại phân trên trộn đều với lớp đất mặt bón xuống đáy tới 3/4 hố. Đất còn lại lấp phủ trên mặt hố cao hơn mặt hố khoảng 20 cm. Việc đào hố bón lót phải làm xong trước khi trồng ít nhất 1 tháng.
2.4. Đào hố, bón lót
- Chọn đất tốt, chủ động tưới và tiêu nước. Nếu là đất mới chuyển đổi từ đất ruộng cần được đào mương, lên líp trước khi trồng 4 - 6 tháng. Nếu là đất chu kỳ 2 cần trồng luân canh từ 2 - 3 vụ các loại cây trồng ngắn ngày như các cây họ đậu, cây rau, cây ăn quả ngắn ngày. Trước khi trồng cần vệ sinh toàn bộ xác thực vật và tàn dư khác; cần rắc vôi bột đều trên vườn với lượng 300 - 500 kg/ha trước khi làm đất.
- Thiết kế vườn trồng:tùy theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn phù hợp. Cụ thể:
+ Đối với đất màu cao hoặc đất bãi ven sông: chia băng có chiều rộng trồng được 2 - 3 hàng cây và thiết kế rãnh tiêu thoát nước đảm bảo tiêu thoát nước tốt trong mùa mưa.
+ Đối với đất trũng: cần đào mương, lên líp với kích thước mương phụ thuộc vào mức độ trũng của vườn, trung bình chiều rộng mương là 1 m × 1 m và chiều rộng líp là 7 - 8 m.
+ Đối với đất dốc: với độ dốc từ 10 - 250 cần trồng cây theo bậc thang. Kích thước mỗi bậc thang 3 - 4 m, mặt bậc thang nghiêng vào phía trong sườn núi. Đất có độ dốc nhỏ hơn 80 có thể trồng trực tiếp theo hàng. Nếu đất có độ dốc từ 80 đến dưới 100 cần trồng theo đường đồng mức, chiều rộng đường đồng mức bằng khoảng cách 1 hàng cây.
Chú ý: khi thiết kế vườn cần thiết kết hệ thống tưới, tiêu hợp lý. Tùy từng điều kiện mà có thể bố trí hệ thống tưới tiết kiệm hoặc tưới bề mặt. Đối với những vườn trồng mới có diện tích lớn cần quy hoạch đường giao thông nội đồng để vận chuyển vật tư, phân bón và sản phẩm thu hoạch bằng xe cơ giới.
- Đào hố: kích thước hố với chiều dài × chiều rộng × chiều sâu là: 0,8m × 0,8 m × 0,6 m. Vùng đất xấu cần đào hố với kích thước lớn hơn là 1,0 m × 1,0 m × 0,8 m. Khi đào hố, để riêng lớp đất mặt.
- Bón lót: lượng phân bón lót cho 1 hố là 30-50 kg phân chuồng hoặc 3-5 kg phân hữu cơ vi sinh, 0,1-0,2 kg P2O5, 0,1-0,2 kg K2O; những vùng đất chua cần bón thêm 0,5-1,0 kg vôi bột.
Tất cả các loại phân trên trộn đều với lớp đất mặt bón xuống đáy tới 3/4 hố. Đất còn lại lấp phủ trên mặt hố cao hơn mặt hố khoảng 20 cm. Việc đào hố bón lót phải làm xong trước khi trồng ít nhất 1 tháng.
2.5. Kỹ thuật trồng:
- Khơi một hố nhỏ chính giữa hố, xé bỏ túi bầu và nhẹ nhàng đặt bầu cây xuống hố để cỗ rễ thấp hơn mặt hố 2-3 cm, cho rễ toả tự nhiên xung quanh hố, lấp đất và dùng tay nén chặt xung quanh gốc. Dùng đất mặt xung quanh hố vun vào xung quanh gốc cây tạo thành ụ hình lòng chảo, có đường kính khoảng 1 m, gờ xung quanh cao khoảng 10-15 cm so với mặt hố.
- Cắm cọc và dùng dây mềm buộc cố định cây, tưới đẫm nước ổn định gốc, dùng rơm rạ hoặc cỏ khô tủ cách gốc 7-10 cm và thường xuyên tưới giữ ẩm cho cây khi độ ẩm đất thấp hơn 60% độ ẩm đồng ruộng.
2.6. Phân bón và kỹ thuật bón phân:
2.6.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)
Bảng 1. Lượng phân bón thời kỳ KTCB
Thời kỳ bón | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | Lượng thương phẩm (kg/ha/năm) | Số lần bón/năm | |||||
Hữu cơ (tấn) | N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali Clorua | ||
Năm 1 | 12 – 20 | 40 –80 | 40 –80 | 40 –80 | 86,8 – 173,6 | 242,4 – 484,8 | 66,8 – 133,6 | Bón 4-5 lần |
Năm 2 | 12 – 20 | 40 –80 | 80 – 120 | 40 –80 | 86,8 – 173,6 | 484,8 – 727,2 | 66,8 – 133,6 | Bón 4-5 lần |
Năm 3 | 12 – 20 | 80 – 120 | 80 – 120 | 80 – 120 | 173,6 - 260,4 | 484,8 – 727,2 | 133,6 – 200,4 | Bón 4-5 lần |
2.6.2. Thời kỳ kinh doanh
Bảng 2. Lượng phân bón thời kỳ kinh doanh
Thời kỳ bón | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | Lượng thương phẩm (kg/ha/năm) | Số lần bón/năm | |||||
Hữu cơ (tấn) | N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali Clorua | ||
Năm 4 - 6 | 12 – 20 | 120 – 200 | 80 – 120 | 120 – 160 | 260 – 434 | 484 – 727,2 | 200 – 267 | Bón 5 lần |
Năm 7 - 10 | 20 – 32 | 200 – 280 | 160 – 200 | 280 – 320 | 434 – 608 | 970 – 1.212 | 468 – 534 | Bón 5 lần |
> 10 năm | 32 – 40 | 240 – 320 | 240 – 280 | 440 – 480 | 520 – 694 | 1.454 – 1.697 | 735 – 802 | Bón 5 lần |
2.6.3. Kỹ thuật bón phân
- Phân hữu cơ và hữu cơ vi sinh: rải đều trên phần đất dưới tán chiếu từ mép tán vào 0,5 m, xới nhẹ 5 – 10 cm, tưới đẫm nước.
- Phân vô cơ: rải đều lên phần đất dưới tán chiếu từ mép tán vào 0,5 m, xới nhẹ đất để trộn phân vào đất rồi tưới đẫm nước để thấm vào đất hoặc pha phân vô cơ với nước (10%) để tưới sau đó tưới đẫm nước. Sau khi bón phân có thể tủ đất bằng tàn dư thực vật.
- Phân trung lượng : kết hợp với phân đa lượng hay sử dụng riêng lẽ, giúp tăng đậu trái, cành mang trái chắc khỏe,... Một số dạng phân như: Super canxi, phân bón lá kích thích ra hoa, đậu quả,...
- Phân vi lượng (Boron, kẽm,...): chủ yếu ở dạng phân bón lá và được phung qua kết hợp với các lần thuốc sâu (không chung với thuốc trừ bệnh) giúp tăng đậu trái, cuống trái dai, trái ít dị dạng.
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản:
Hạng mục | Ure (%) | Super lân (%) | Kali Clorua (%) | Thời gian bón |
Lần 1 | 25 | 25 | 25 | Bón 4 đợt/năm, từ tháng 3 đến tháng 8 |
Lần 2 | 25 | 25 | 25 | |
Lần 3 | 25 | 25 | 25 | |
Lần 4 | 25 | 25 | 25 |
- Thời kỳ kinh doanh:
Hạng mục | Ure (%) | Super lân (%) | Kali Clorua (%) | Thời gian bón |
Lần 1 | 15% | 15% | 10% | Giữa tháng 2 - cuối tháng 2 |
Lần 2 | 15% | 15% | 10% | Cuối tháng 3 - đầu tháng 4 |
Lần 3 | 20% | 25% | Đầu tháng 5 - giữa tháng 5 | |
Lần 4 | 20% | 25% | Giữa tháng 6 | |
Lần 5 | 30% | 70% | 30% | Sau khi thu hoạch. |
2.7. Chăm sóc
2.7.1. Làm cỏ
Thường xuyên làm có xung quanh gốc cây. Sử dụng dụng cụ thủ công hoặc máy cắt cỏ trong vườn không để cỏ cạnh tranh dinh dưỡng với cây.
2.7.2. Tưới nước
Thời kì kiến thiết cơ bản: định kì một tuần đến hai tuần tưới một lần; tùy theo tuổi cây, mỗi lần tưới từ 10 lít đến 30 lít/cây.
Thời kì kinh doanh: sau những đợt bón phân và giai đoạn cây ra hoa, và nuôi quả lớn: Tưới nhiều nước. Tùy theo tuổi cây và điều kiện thời tiết, tưới từ 30 - 50 lít/cây. Giai đoạn cây phân hóa hoa hay sau khi xử lý ra hoa và khi quả đã thành thục, chuẩn bị được thu hoạch, hạn chế tưới nước.
Lưu ý: Để ứng phó với nắng nóng, hạn hán kéo dài:
+ Bố trí nguồn nước và thiết kế hệ thống tưới chủ động.
+ Sử dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước (tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa…)
+ Phun mưa làm mát và tưới cây khi nắng nóng kéo dài.
2.7.3. Tạo hình, tạo tán
Khi cây có chiều cao 0,8 – 1,0m, tiến hành bấm ngọn để định hình cành cấp 1 hoặc cành cấp 2, Khi cành cấp 1 hoặc cấp 2 phát sinh và sinh trưởng được 50 - 70cm, tiếp tục bấm ngọn để tạo các cành cấp 2 hoặc cấp 3 cứ như vậy đến khi cây có bộ khung đến cành cấp 3 phân bố đều.
2.7.4. Tỉa cành và xử lý ra hoa
Cắt tỉa cành sau thu hoạch, cắt tỉa toàn bộ những cành tăm, cành bị sâu bệnh, cành trong tán, cành vượt, cành sát mặt đất và cành đứng ở trung tâm tán cây, tạo cho cây thông thoáng.
- Tỉa hoa: tùy thuộc vào khả năng ra hoa của từng cây mà có thể tỉa bỏ 10-20% số chùm hoa nhỏ (chủ yếu mọc từ các nhánh nhỏ).
- Tỉa quả: sau khi kết thúc đợt rụng quả sinh lý lần 1, những chùm đậu nhiều quả cần tỉa bỏ bớt quả. Loại bỏ những quả bị sâu bệnh, quả dị hình (to quá hoặc nhỏ quá).
2.7.5. Xử lý ra hoa trái vụ
ở phía Nam, để thúc đẩy hoa ra trái vụ, có thể sử dụng các biện pháp:
+ Khoanh vỏ kết hợp xử lý KClO3:
Thời điểm khoanh: khi lá của đợt lộc thứ hai chuyển sang màu xanh nõn chuối (lá lụa, chuẩn bị thành thục).
Phương pháp khoanh: khoanh 2/3 - 3/4 số cành có trên cây với vết khoanh rộng từ 3 – 5 mm. Trước khi khoanh vỏ, không bón phân. Sau khi khoanh vỏ 10 ngày phun thêm KNO3 với liều 100 gam cho 1 bình 10 lít nước.
+ Xử lý KClO3: khi đợt lộc thứ hai hoặc thứ ba chuyển màu xanh (lá thời điểm này gọi là lá lụa), tưới dung dịch KClO3 tưới dưới hình chiếu của tán với liều lượng 100 - 150gr KClO3 cho 1m đường kính tán. Sau đó giữ ẩm cho gốc trong vòng 7 - 10 ngày để cây hấp thu hóa chất.
2.8. Phòng trừ sâu, bệnh hại
2.8.1. Quản lý dịch hại tổng hợp
- Thăm đồng thường xuyên để phát hiện sớm sâu bệnh, có thể ngắt bỏ ổ trứng hoặc tiêu diệt sâu non mới nở. Tiến hành cắt tỉa lá già, lá bệnh trong điều kiện thời tiết khô ráo để ngăn cản bệnh phát triển.
- Sử dụng bẫy xanh, bẫy vàng, kích thước 20 x30cm đặt so le với khoảng cách 3m trên luống ở độ cao 15-20cm so với ngọn cây để dẫn dụ, tiêu diệt trưởng thành bọ trĩ, ruồi đục lá hại hành. Chú ý việc sử dụng bẫy dính chỉ có hiệu quả khi triển khai đồng loạt.
- Dùng màng phủ màu ánh bạc và màu trắng để ngăn cản bọ trĩ gây hại. - Bảo vệ và phát triển các quần thể thiên địch tự nhiên sẵn có trên ruộng hành tây như bọ đuôi kìm; bọ rùa, nhện ăn thịt (Amblyseius sp.), ong ký sinh Opius sp. bằng biện pháp duy trì mật độ các loài dịch hại như sâu xanh, bọ trĩ, ruồi đục lá ở mật độ thấp dưới ngưỡng gây hại kinh tế làm thức ăn cho thiên địch.
- Trồng hoa xung quanh ruộng (đặc biệt là các loài hoa có mật như hoa cứt lợn, cúc cánh bướm, lạc dại) để hấp dẫn thiên địch đến cư trú và phát triển. - Không sử dụng thuốc BVTV tùy tiện, chỉ sử dụng khi thật cần thiết ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu bệnh hại hành như:
+ Sử dụng Trichoderma sp. (Promot Plus WP, Biobus 1.00 WP) rải vào đất để phòng trừ bệnh thối trắng, lở cổ rễ.
+ Sử dụng Azadirachtin + Matrine (Lambada 5EC); Emamectin benzoate
+ Petroleum oil 245g/l (Comda 250EC) để phòng trừ sâu xanh da láng;
+ Sử dụng Matrine (Sokupi 0.36AS); Petroleum spray oil (SK Enspray 99 EC) phòng trừ bọ trĩ.
2.8.2. Sâu hại
a) Rầy chổng cánh vân nâu (Corngenapsylla sinica Yang & Li)
- Đặc điểm gây hại: ấu trùng và thành trùng tấn công chồi và lá nhãn. Rầy trưởng thành có chiều dài khoảng 1,5 mm, mặt lưng màu nâu đen, bụng màu vàng tươi. Rầy non và trưởng thành đều gây hại chồi và lá non. Trên lá, rầy chích hút làm cho lá bị nổi những nốt “ghẻ” trên phiến lá, lá bị nhiễm nặng kém phát triển và bị mo lại, lá nhiễm rầy khi thuần thục có màu vàng nhạt. Rầy gây hại ở tất cả các đợt lộc trong năm và gây hại nặng trên đợt lộc hè (tháng 4 - 6). Những chồi có nhiều lá bị hại do rầy sẽ không có khả năng ra hoa đậu quả làm giảm năng suất nhãn.
- Biện pháp phòng trừ: sử dụng thuốc có hoạt chất Abamectin (Queson 5.0 EC), Emamectin benzoate (July 5EC, 5WG)
b) Nhện lông nhung (Eriophyes dimocarpi)
- Đặc điểm gây hại: trứng rất nhỏ, có đường kính 0,032mm, có hình giọt nước trứng đẻ rải rác từng quả một trên mặt lá. Nhện con: rông như một chấm nhỏ, màu hồng thường di chuyển rất chậm. Nhện trưởng thành: Có màu trắng ngà, có hình trụ dài, phần ngực có 2 đôi chân và có 70- 72 đốt bụng, di chuyển rất dễ dàng.
Trên lá, chồi non: lá bị nhện tấn công mặt lá sẽ bị lòi lõm không xòe ra được làm lá kém phát triển, lá nhỏ và co quắp, quang hợp của lá bị ảnh hưởng.
Trên chùm hoa: Nhện hút chính làm cho chùm hoa xoắn lại, có màu vàng trắng, dị dạng, hoa không đậu trái hoặc đậu trái ít.
- Biện pháp phòng trừ: sử dụng thuốc có hoạt chất Abamectin (Amectinaic 36EC, Andomec 5EC, Honest 54EC), Abamectin 0.2% + Petroleum oil 24.8% (Feat 25EC), Abamectin 55g/l + Petroleum oil 5g/l (Sword 60EC), Diafenthiuron (Define 500SC, Pegasus®500SC), Emamectin benzoate (Avermectin B1a 90% + Avermectin B1b 10%) (Actimax 50WG, Comda gold 5WG,..), Petroleum spray oil (SK Enspray 99 EC),…
c) Bọ xít nâu (Tessaratoma papillosa)
- Đặc điểm gây hại: trưởng thành có màu nâu vàng, dài khoảng 25 - 30 mm, sâu non có 5 tuổi, đến tuổi 3 bắt đầu mọc cánh. Bọ xít trưởng thành thường qua đông trên cây nhãn, sau đó đẻ trứng và sâu non nở từ tháng 2 - 3. Bọ xít chích hút các đợt lộc non, hoa, quả non và gây hại mạnh nhất vào tháng 4 - 6.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Bắt bọ xít trưởng thành qua đông vào các tháng 11 - 12 bằng cách rung cây, thu gom bọ xít rơi và tiêu hủy; Ngắt các lá có ổ trứng ở mặt dưới đem tiêu huỷ.
+ Sử dụng thuốc có hoạt chất: Abamectin (Reasgant 3.6EC, 5WG), Emamectin benzoate (Avermectin B1a 90% + Avermectin B1b 10%) Tasieu 5WG, Rotenone (Limater 7.5 EC)
d) Rệp sáp (Pseudococcus sp.)
- Đặc điểm gây hại: Rệp non có màu hồng, hình bầu dục, chiều dài khoảng 1 mm. Rệp trưởng thành có màu vàng, cơ thể thon tròn, chiều dài từ 2,5 - 4,0 mm, bên ngoài cơ thể có lớp sáp màu trắng bao bọc. Rệp sáp thường gây hại ở giai đoạn cây ra hoa đến khi quả non ổn định. Rệp chích hút trên cuống hoa, cuống quả và quả. Rệp có thể gây rụng quả hàng loạt khi xuất hiện mật độ cao.
- Biện pháp phòng trừ: sử dụng thuốc có hoạt chất Abamectin (Queson 5.0 EC), Emamectin benzoate (July 5EC, 5WG), Spirotetramat (Movento 150OD).
e) Sâu đục cuống quả (Conopomorpha sinensis Bradley)
- Đặc điểm gây hại: trưởng thành là một loại bướm đêm rất nhỏ, sải cánh rộng 10 - 12 mm, thân có màu nâu tối, cánh có màu nâu xám, trên mỗi cánh trước có một đốm màu vàng sáng ở cuối cánh. Trứng được đẻ trên bề mặt vỏ quả và gần ở cuống quả. Sau khi nở, sâu non đục vỏ quả, ở gần cuống quả, chui vào bên trong ăn phần thịt gần cuống quả.
- Biện pháp phòng trừ: sử dụng thuốc có hoạt chất Spirotetramat (Movento 150OD)
f) Sâu đục quả(Conogethes punctiferalis)
Trứng thường được đẻ ở các lá đài của chóp trái hoặc nơi dính giữa trái và lá. Sâu non màu trắng hồng, trên lưng có nhiều chấm nhỏ màu đen, sâu lớn đủ sức dài từ 1,7-2 cm. Sâu non nở ra tấn công vào trái khi trái còn rất nhỏ và thích gây hại trái còn non. Sâu hóa nhộng bằng cách kết tơ gần cuống trái hoặc bên trong phần hột đã bị đục.
- Biện pháp phòng trừ: sử dụng thuốc có hoạt chất Emamectin benzoate (Dylan2EC, Actimax 50WG), Abamectin 20g/l + Matrine 5g/l (Aga 25EC)
2.8.3. Bệnh hại
a) Bệnh phấn trắng (Oidium sp.)
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Ban đầu chỉ là những chòm nhỏ mất màu xanh hóa vàng, sau đó phiến lá dần bị bao phủ bởi một lớp nấm trắng như bột phấn dày đặc, cả trên gân lá. Những lá bị bệnh mất dần màu xanh, chuyển sang vàng, khô cháy và dễ rụng.
+ Bệnh xuất hiện cả trên thân, cành, lá, hoa và quả, cây chậm phát triển, còi cọc cho năng suất thấp. Bệnh gây hại trên cây nhãn làm cho hoa bị xoắn vặn, khô cháy. Quả non bị nhiễm bệnh sẽ nhỏ, có màu nâu. Vỏ quả bị đóng phấn trắng nhất là ở vùng gần cuống. Quả lớn hơn bị thối nâu từ cuống quả sau đó chuyển sang màu nâu đen và lan dần đến toàn bộ quả.
- Biện pháp phòng trừ: sử dụng một trong các loại thuốc có hoạt chất Streptomyces lydicus (Actinovate 1 SP), Streptomyces lydicus 1.3% + Fe 21.9% + Humic acid 47% (Actino-Iron 1.3 SP)
b) Bệnh sương mai (Peronophythora litchii Chen)
* Triệu chứng gây bệnh: gây hại trên cành non, hoa, quả, đặc biệt là quả chín. Kết quả là quả bị rụng và thối rữa thậm chí còn gây ra bệnh khác trong thời gian bảo quản. Ban đầu vết bệnh là những vết có màu nâu không đều và tạo ra chất mốc trắng. Mốc lan rộng ra trong một thời gian ngắn và trở thành màu nâu, hoa quả bị thối và rò rỉ chất lỏng màu nâu và có mùi vị chua và nhạt.
* Biện pháp phòng trừ: sử dụng một trong các loại thuốc có hoạt chất Fluopicolide 44.4 g/kg + Fosetyl- alumilium 666.7 g/kg (Profiler 711.1WG)
c) Bệnh thán thư (Colletotrichum sp.)
* Triệu chứng gây bệnh: bệnh có thể gây hại trên lá, hoa quả, chồi và cành non. Trên lá bệnh tạo thành các đốm màu nâu, khô, hình hơi tròn, vết bệnh phát triển lớn lên và liên kết nhau làm khô cháy một mảng lá, lá vàng úa và rụng, cây sinh trưởng kém. Trên hoa bị khô đen và rụng hàng loạt, quả non bị thối và rụng, là nguyên nhân quan trọng làm giảm năng suất quả. Trên quả đã lớn, bệnh tạo thành những đốm nâu trên vỏ, sau đó hằn sâu vào trong thịt quả, làm thối một mảng quả, vỏ có thể bị nứt ra. Bệnh còn làm lộc và chồi non bị quăn lại và khô đen, cây sinh trưởng kém và giảm số cành hoa.
* Biện pháp phòng trừ: sử dụng thuốc có hoạt chất Kresoxim-methyl (Inari 300SC), Kasugamycin (Bisomin 2SL), Propineb 613g/kg + Trifloxystrobin 35g/kg (Flint pro 648WG), Validamycin (Valivithaco 3SL, 5WP), Dịch chiết từ cây Lychnis Viscaria (Comcat 150 WP).
III. Thu hoạch, sơ chế, chế biến và bảo quản
Thu
hoạch
- Thời điểm thu hoạch: khi vỏ quả chuyển từ màu nâu hơi xanh sang màu nâu 11 vàng, vỏ quả xù xì hơi dày chuyển sang mỏng và nhẵn, quả mềm, cùi có vị thơm, hạt có màu đen (trừ giống có hạt màu nâu đỏ) và độ brix đạt từ 18 - 22% tuỳ thuộc vào các giống khác nhau. Khi sử dụng quả nhãn cho chế biến có thể thu hoạch khi quả đạt độ chín 80 - 90%; sử dụng cho ăn tươi thu hoạch quả ở độ chín hoàn toàn.
- Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh khi thu hái: Thu hoạch quả vào buổi sáng hoặc buổi chiều khi trời tạnh ráo, tránh thu hoạch vào giữa trưa khi trời quá nóng. Quả thu hoạch xong cần để nơi râm mát để chuyển đến nơi tiêu thụ hoặc bảo quản.
- Kỹ thuật thu hái: Khi thu hoạch quả, cần phải có thang chuyên sử dụng cho thu hoạch quả và sử dụng kéo để cắt chùm quả. Dùng kéo cắt cành cắt phía trên, gần sát vị trí cuống chùm quả.
Sơ chế,
chế biến
Nhãn là một trong những loại cây ăn quả được sử dụng phổ biến ở nước ta hiện nay và rất quen thuộc trong đời sống hàng ngày. Một số sản phẩm chế biến từ quả nhãn: trà, mứt, siro, rượu,…
B
ảo quả
n
Quả sau khi thu hoạch được đưa về nơi cao ráo, sạch sẽ và râm mát để phân loại, đóng gói. Nếu vận chuyển đi xa, quả phải được xếp vào hộp xốp có kèm theo đá làm mát. Nếu vận chuyển gần, có thể sử dụng hộp cacton, sọt sắt, sọt tre nhưng phải được lót êm. Các loại hộp xốp, thùng cacton và sọt phải mới hoặc trước đây không đựng các đồ gây ô nhiễm như thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất hoặc chuyên chở gia súc gia cầm.