Ếch gai boulenger (Quasipaa boulengeri)

Quasipaa boulengeri (Günther, 1889)

Tên đồng danh: Rana tibetana Boulenger, 1917
Mã định danh quốc gia: 78R8X.HSL
Nhóm hồ sơ: Loài nguy cấp, quý, hiếm
Danh mụcTình trạng của loài
Sách Đỏ Việt Nam 2024EN - Nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng rất lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai gần.
Danh lục Đỏ IUCNVU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.

Ếch gai boulenger có tên khoa học Quasipaa boulengeri (Günther, 1889), thuộc họ Dicroglossidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia.

Về hạng bảo tồn, loài được xếp EN - Nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2024; VU - Sẽ nguy cấp theo Danh lục Đỏ IUCN.

Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 5 tỉnh, thành phố: Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Sơn La, Nghệ An.

Loài đã được kiểm kê tại 6 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.

Hạng bảo tồn

Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.

Nguồn đánh giáHạngÝ nghĩa
Sách Đỏ Việt Nam 2024EN - Nguy cấp
Endangered
Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng rất lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai gần.
Danh lục Đỏ IUCNVU - Sẽ nguy cấp
Vulnerable
Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.

Đặc điểm và sinh thái

Đặc điểm nhận dạng

Thuộc nhóm ếch gai có kích thước lớn đến rất lớn. Con trưởng thành có thể đạt chiều dài đầu - thân từ 80 – 120 mm, một số cá thể đực già có thể lớn hơn. Đầu ếch to, dẹt và rộng hơn dài. Vào mùa sinh sản, con đực phát triển các nốt gai sừng màu đen, nhọn và rất cứng bao phủ toàn bộ vùng ngực, bụng và mặt trong của các ngón tay trước. Các gai sừng này lớn và thô hơn so với một số loài cùng chi. Da lưng rất thô ráp, xù xì, được bao phủ bởi các gờ da dài ngắn đan xen thô kệch và nhiều nốt sần lớn có gai nhỏ phía trên. Gờ sau mắt (supratympanic fold) rất dày và nổi rõ. Chi trước to khỏe, chi sau có các cơ bắp rất phát triển. Ngón chân sau có màng bơi hoàn toàn, màng bơi dày thích nghi tối đa cho việc bơi lội chống chọi dòng nước lũ. Các đầu ngón chân tròn, không phình thành đĩa bám. Mặt lưng có màu nâu đen, nâu thẫm hoặc màu xám bùn với các vệt đốm tối màu phân bổ không đều, tạo lớp ngụy trang hoàn hảo giống hệt các tảng đá bị rêu phủ hoặc đất bùn lòng suối. Mặt bụng có màu trắng đục, vùng họng và ngực thường bị nhiễm sắc tố đen tạo thành các vân mạng nhện thẫm màu.

Đặc tính sinh học

Loài này thích nghi chuyên hóa với đời sống ở các dòng suối đá lớn, thác nước, các vũng nước tĩnh ven suối chảy qua rừng thường xanh nguyên sinh hoặc rừng thứ sinh phục hồi tốt. Chúng phân bố ở độ cao từ thấp đến trung bình, thường từ 300 m đến 1.500 m so với mực nước biển. Là loài hoạt động hoàn toàn về đêm. Ban ngày, chúng ẩn nấp cực kỳ kín đáo sâu trong các hang đá ngập nước, kẽ nứt giữa các tảng đá khổng lồ ở lòng suối hoặc dưới các rễ cây lớn bên bờ suối. Chúng rất cảnh giác; khi bị rọi đèn hoặc động tiếng, chúng sẽ lập tức lặn sâu xuống đáy suối hoặc chui vào kẽ đá. Mùa sinh sản thường diễn ra vào mùa mưa (khoảng tháng 4 – tháng 8). Con cái đẻ trứng thành các mảng lớn bám chặt vào mặt dưới của các tảng đá chìm trong dòng nước chảy để cố định trứng. Nòng nọc của loài này có kích thước lớn, thân thon dài, đuôi khỏe và có bộ răng thô để cạo ăn rêu, tảo bám trên đá suối.

Môi trường sinh sống

Loài này sống ở các suối đá, nước chảy, thường gặp bám trên đá ở thác nước. Sinh cảnh chính là rừng thường xanh cây gỗ to và vừa (Le et al. 2021, Luong et al. 2022).

Tình trạng sinh sống

Loài này phân bố rải rác ở các tỉnh miền Bắc. Loài này bị săn bắt để làm thực phẩm và buôn bán; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác khoáng sản, lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp; loài này khá hiếm gặp trong tự nhiên; quần thể bị suy giảm ước tính khoảng hơn 50% trong vòng hơn 15 năm qua

Mối đe dọa và giá trị

Mối đe dọa được ghi nhậnMất môi trường sống · Săn bắt, khai thác quá mức · Sự suy giảm quần thể
Giá trị của loàiGiá trị khoa học · Giá trị môi trường sinh thái · Giá trị kinh tế

Phân bố tại Việt Nam

Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.

Tỉnh, thành phố có ghi nhận phân bố
Tuyên Quang
Thái Nguyên
Cao Bằng
Sơn La
Nghệ An

Khu bảo tồn ghi nhận loài

Theo kết quả kiểm kê loài tại các khu bảo tồn, di sản thiên nhiên trong Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.

Khu bảo tồn / di sản thiên nhiênPhân loạiĐịa bàn
Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia ĐénDi sản thiên nhiên cấp quốc giaCao Bằng
Vườn quốc gia Du Già - Cao nguyên đá Đồng VănDi sản thiên nhiên cấp quốc giaTuyên Quang
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù HuốngDi sản thiên nhiên cấp quốc gia đặc biệtNghệ An
Khu dự trữ thiên nhiên Na HangDi sản thiên nhiên cấp tỉnhTuyên Quang
Khu dự trữ thiên nhiên Tà XùaDi sản thiên nhiên cấp tỉnhSơn La
Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Nam Xuân LạcDi sản thiên nhiên cấp tỉnhThái Nguyên

Loài khác trong họ Dicroglossidae

Tên gọiTên khoa họcSách Đỏ VNIUCNNĐ 84/2021
Ếch vạchQuasipaa delacouriEN - Nguy cấpLC - Ít quan tâm
Ếch gai vân namNanorana yunnanensisVU - Sẽ nguy cấp
Ếch gai sần việt namQuasipaa acanthophoraVU - Sẽ nguy cấp
Ếch đồi changNanorana aeneaLC - Ít quan tâm
Ếch gai sầnQuasipaa verrucospinosaLC - Ít quan tâm
Ếch nhẽo quảng ninhLimnonectes quangninhensisVU - Sẽ nguy cấp

Câu hỏi thường gặp

Ếch gai boulenger là loài gì?

Ếch gai boulenger có tên khoa học Quasipaa boulengeri (Günther, 1889), thuộc họ Dicroglossidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia. Thuộc nhóm ếch gai có kích thước lớn đến rất lớn. Con trưởng thành có thể đạt chiều dài đầu - thân từ 80 – 120 mm, một số cá thể đực già có thể lớn hơn. Đầu ếch to, dẹt và rộng hơn dài. Vào mùa sinh sản, con đực phát triển các nốt gai sừng màu đen, nhọn và rất cứng bao phủ toàn bộ vùng ngực, bụng và mặt trong của các ngón tay trước. Các gai sừng này lớn và thô hơn so với một số loài cùng chi. Da l... Loài được ghi nhận phân bố tại Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Sơn La, Nghệ An.

Ếch gai boulenger được xếp hạng bảo tồn thế nào?

Sách Đỏ Việt Nam 2024 xếp loài ở hạng EN - Nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng rất lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai gần. Danh lục Đỏ IUCN xếp loài ở hạng VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. Hạng bảo tồn phản ánh mức độ nguy cơ tuyệt chủng theo đánh giá khoa học, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không.

Ếch gai boulenger phân bố ở khu bảo tồn nào?

Dữ liệu kiểm kê ghi nhận loài tại 6 khu: Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, Vườn quốc gia Du Già - Cao nguyên đá Đồng Văn, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Khu dự trữ thiên nhiên Na Hang, Khu dự trữ thiên nhiên Tà Xùa, Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Nam Xuân Lạc.

Vì sao ếch gai boulenger bị đe dọa?

Cơ sở dữ liệu ghi nhận các mối đe dọa chính với loài gồm: Mất môi trường sống; Săn bắt, khai thác quá mức; Sự suy giảm quần thể. Về tình trạng sinh sống: Loài này phân bố rải rác ở các tỉnh miền Bắc. Loài này bị săn bắt để làm thực phẩm và buôn bán; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác khoáng sản, lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp; loài này khá hiếm gặp trong tự nhiên; quần thể bị suy giảm ước tính khoảng hơn 50% trong...

Căn cứ pháp lý

  • Luật Đa dạng sinh học 2008
  • Nghị định 06/2019/NĐ-CP
  • Nghị định 84/2021/NĐ-CP
  • Nghị định 160/2013/NĐ-CP
  • Nghị định 26/2019/NĐ-CP
Cập nhật từ nguồn: 12/08/2026. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ