Ếch đồi chang (Nanorana aenea)

Nanorana aenea (Smith, 1922)

Mã định danh quốc gia: 45N6Q.HSL
Nhóm hồ sơ: Loài nguy cấp, quý, hiếm
Danh mụcTình trạng của loài
Sách Đỏ Việt Nam 2024NT - Sắp bị đe dọa — Chưa đạt ngưỡng bị đe dọa nhưng gần đạt, hoặc có thể đạt trong tương lai gần.
Danh lục Đỏ IUCNLC - Ít quan tâm — Đã được đánh giá nhưng chưa thuộc bất kỳ hạng bị đe dọa nào.

Ếch đồi chang có tên khoa học Nanorana aenea (Smith, 1922), thuộc họ Dicroglossidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia.

Về hạng bảo tồn, loài được xếp NT - Sắp bị đe dọa theo Sách Đỏ Việt Nam 2024; LC - Ít quan tâm theo Danh lục Đỏ IUCN.

Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 4 tỉnh, thành phố: Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Nghệ An.

Loài đã được kiểm kê tại 4 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.

Hạng bảo tồn

Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.

Nguồn đánh giáHạngÝ nghĩa
Sách Đỏ Việt Nam 2024NT - Sắp bị đe dọa
Near Threatened
Chưa đạt ngưỡng bị đe dọa nhưng gần đạt, hoặc có thể đạt trong tương lai gần.
Danh lục Đỏ IUCNLC - Ít quan tâm
Least Concern
Đã được đánh giá nhưng chưa thuộc bất kỳ hạng bị đe dọa nào.

Đặc điểm và sinh thái

Đặc điểm nhận dạng

Thuộc nhóm ếch có kích thước từ trung bình đến lớn. Con đực trưởng thành có chiều dài đầu-thân khoảng 42 – 55 mm, con cái thường lớn hơn một chút. Vào mùa sinh sản, con đực trưởng thành phát triển các nốt gai sừng màu đen tập trung ở vùng ngực, các ngón tay trước (ngón I, II, III). Đây là vũ khí giúp chúng ôm giữ con cái bám chắc hơn trong dòng nước chảy xiết và cạnh tranh với các con đực khác. Da trên lưng thô ráp, có nhiều nốt sần dạng hạt hoặc các gờ da ngắn chạy dọc lưng. Có gờ trên màng nhĩ rất rõ ràng chạy từ sau mắt đến vai. Ngón chân có màng bơi rất phát triển (gần như hoàn toàn), giúp chúng bơi lội mạnh mẽ trong dòng nước chảy. Các đầu ngón chân không phình thành đĩa lớn mà chỉ có dạng mút ngón hơi tù. Lưng thường có màu sắc tối như màu đồng bẩn, nâu xám hoặc nâu ô liu với các đốm sẫm màu mờ tạo khả năng ngụy trang rất tốt trên đá suối. Vùng bụng có màu trắng đục hoặc hơi vàng, đôi khi có các vân xám nhạt ở họng.

Đặc tính sinh học

Loài này là cư dân đặc trưng của vùng núi cao, thường chỉ tìm thấy ở độ cao từ 1.100 m đến trên 2.500 m so với mực nước biển. Chúng gắn liền với các dòng suối đá nhỏ, thác nước, hoặc các vũng nước tĩnh ẩn mình dưới tán rừng thường xanh nguyên sinh quanh năm ẩm ướt và có nhiệt độ thấp. Hoạt động chủ yếu về đêm hoặc chiều tối tối trời. Ban ngày, chúng ẩn nấp cực kỳ kín đáo dưới các tảng đá lớn chìm một phần dưới nước, trong hang đá hoặc kẽ nứt ven suối. Mùa sinh sản diễn ra vào mùa mưa khi lưu lượng nước suối tăng lên. Con cái đẻ trứng dính thành từng mảng phía dưới mặt các tảng đá ngập nước để tránh bị dòng nước lũ cuốn trôi. Nòng nọc có cấu trúc miệng hút bám chắc vào đá để cạo ăn tảo và các chất hữu cơ bám trên bề mặt đá suối chảy xiết.

Môi trường sinh sống

Sống ở các suối đá trong rừng thường xanh (Phạm Văn Anh và cs.. 2012, Luong et al. 2021).

Tình trạng sinh sống

Loài này phân bố ở các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La và Nghệ An. Loài này thường bị người dân địa phương săn bắt để làm thực phẩm; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp; quần thể ước tính bị suy giảm khoảng gần 30% trong vòng hơn 15 năm qua

Mối đe dọa và giá trị

Mối đe dọa được ghi nhậnMất môi trường sống · Săn bắt, khai thác quá mức · Sự suy giảm quần thể
Giá trị của loàiGiá trị khoa học · Giá trị kinh tế · Giá trị môi trường sinh thái

Phân bố tại Việt Nam

Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.

Tỉnh, thành phố có ghi nhận phân bố
Lào Cai
Lai Châu
Sơn La
Nghệ An

Khu bảo tồn ghi nhận loài

Theo kết quả kiểm kê loài tại các khu bảo tồn, di sản thiên nhiên trong Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.

Khu bảo tồn / di sản thiên nhiênPhân loạiĐịa bàn
Vườn quốc gia Hoàng LiênDi sản thiên nhiên cấp quốc gia đặc biệtLào Cai, Lai Châu
Vườn quốc gia Pù MátDi sản thiên nhiên cấp quốc gia đặc biệtNghệ An
Khu dự trữ thiên nhiên Sốp CộpDi sản thiên nhiên cấp tỉnhSơn La
Khu bảo tồn thiên nhiên CopiaDi sản thiên nhiên cấp tỉnhSơn La

Loài khác trong họ Dicroglossidae

Tên gọiTên khoa họcSách Đỏ VNIUCNNĐ 84/2021
Ếch vạchQuasipaa delacouriEN - Nguy cấpLC - Ít quan tâm
Ếch gai vân namNanorana yunnanensisVU - Sẽ nguy cấp
Ếch gai boulengerQuasipaa boulengeriVU - Sẽ nguy cấp
Ếch gai sần việt namQuasipaa acanthophoraVU - Sẽ nguy cấp
Ếch gai sầnQuasipaa verrucospinosaLC - Ít quan tâm
Ếch nhẽo quảng ninhLimnonectes quangninhensisVU - Sẽ nguy cấp

Câu hỏi thường gặp

Ếch đồi chang là loài gì?

Ếch đồi chang có tên khoa học Nanorana aenea (Smith, 1922), thuộc họ Dicroglossidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia. Thuộc nhóm ếch có kích thước từ trung bình đến lớn. Con đực trưởng thành có chiều dài đầu-thân khoảng 42 – 55 mm, con cái thường lớn hơn một chút. Vào mùa sinh sản, con đực trưởng thành phát triển các nốt gai sừng màu đen tập trung ở vùng ngực, các ngón tay trước (ngón I, II, III). Đây là vũ khí giúp chúng ôm giữ con cái bám chắc hơn trong dòng nước chảy xiết và cạnh tranh với các con đực khác. Da... Loài được ghi nhận phân bố tại Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Nghệ An.

Ếch đồi chang được xếp hạng bảo tồn thế nào?

Sách Đỏ Việt Nam 2024 xếp loài ở hạng NT - Sắp bị đe dọa — Chưa đạt ngưỡng bị đe dọa nhưng gần đạt, hoặc có thể đạt trong tương lai gần. Danh lục Đỏ IUCN xếp loài ở hạng LC - Ít quan tâm — Đã được đánh giá nhưng chưa thuộc bất kỳ hạng bị đe dọa nào. Hạng bảo tồn phản ánh mức độ nguy cơ tuyệt chủng theo đánh giá khoa học, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không.

Ếch đồi chang phân bố ở khu bảo tồn nào?

Dữ liệu kiểm kê ghi nhận loài tại 4 khu: Vườn quốc gia Hoàng Liên, Vườn quốc gia Pù Mát, Khu dự trữ thiên nhiên Sốp Cộp, Khu bảo tồn thiên nhiên Copia.

Vì sao ếch đồi chang bị đe dọa?

Cơ sở dữ liệu ghi nhận các mối đe dọa chính với loài gồm: Mất môi trường sống; Săn bắt, khai thác quá mức; Sự suy giảm quần thể. Về tình trạng sinh sống: Loài này phân bố ở các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La và Nghệ An. Loài này thường bị người dân địa phương săn bắt để làm thực phẩm; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp; quần thể ước tính bị suy giảm khoảng gần 30% trong vòng hơn 15 nă...

Căn cứ pháp lý

  • Luật Đa dạng sinh học 2008
  • Nghị định 06/2019/NĐ-CP
  • Nghị định 84/2021/NĐ-CP
  • Nghị định 160/2013/NĐ-CP
  • Nghị định 26/2019/NĐ-CP
Cập nhật từ nguồn: 12/08/2026. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ