Ếch gai sần việt nam (Quasipaa acanthophora)

Quasipaa acanthophora Dubois & Ohler, 2009

Mã định danh quốc gia: 4R28G.HSL
Nhóm hồ sơ: Loài nguy cấp, quý, hiếm
Danh mụcTình trạng của loài
Sách Đỏ Việt Nam 2024EN - Nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng rất lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai gần.
Danh lục Đỏ IUCNVU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.

Ếch gai sần việt nam có tên khoa học Quasipaa acanthophora Dubois & Ohler, 2009, thuộc họ Dicroglossidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia.

Về hạng bảo tồn, loài được xếp EN - Nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2024; VU - Sẽ nguy cấp theo Danh lục Đỏ IUCN.

Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 3 tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Lạng Sơn, Quảng Ninh.

Loài đã được kiểm kê tại 2 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.

Hạng bảo tồn

Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.

Nguồn đánh giáHạngÝ nghĩa
Sách Đỏ Việt Nam 2024EN - Nguy cấp
Endangered
Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng rất lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai gần.
Danh lục Đỏ IUCNVU - Sẽ nguy cấp
Vulnerable
Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần.

Đặc điểm và sinh thái

Đặc điểm nhận dạng

Thuộc nhóm ếch cỡ lớn, con đực trưởng thành có chiều dài đầu - thân khoảng 70 – 100 mm, con cái có thể tương đương hoặc lớn hơn một chút. Thân hình mập mạp, đầu rộng hơn dài. Điểm đặc trưng nhất của con đực trưởng thành vào mùa sinh sản là sự xuất hiện của rất nhiều nốt gai sừng màu đen, nhọn (như những chiếc gai nhỏ) phủ dày đặc ở vùng ngực, bụng và mặt trong của các ngón tay trước. Da vùng lưng vô cùng thô ráp, xù xì với các nốt sần lớn và gờ da ngắn chạy dọc lưng. Màng nhĩ nhỏ, không rõ ràng và có một gờ da sau mắt rất dày, thẫm màu bao phủ phía trên. Các chi ngắn, cực kỳ cơ bắp. Ngón chân sau có màng bơi hoàn toàn, màng rất dày phát triển đến tận mút ngón để phục vụ cho việc bơi lặn chống lại dòng nước xiết. Đầu ngón chân hơi tù, không phình thành đĩa bám. Mặt lưng có màu nâu xám, nâu ô liu hoặc màu bùn tối xen lẫn các vết đốm đen nhạt loang lổ giúp chúng ngụy trang giống hệt những tảng đá bám rêu ngập nước. Mặt bụng màu trắng đục hoặc hơi vàng nhạt, vùng họng thường có các đường vân xám đan xen.

Đặc tính sinh học

Loài này thích nghi chuyên hóa với đời sống ở các dòng suối đá, thác nước chảy mạnh trong các khu rừng thường xanh mưa nhiệt đới á núi cao, đặc biệt phổ biến xung quanh các hệ thống núi đá vôi nguyên sinh ở độ cao từ thấp đến trung bình (thường từ 200 m đến trên 1.000 m so với mực nước biển). Hoạt động hoàn toàn về đêm. Ban ngày, chúng ẩn nấp cực kỳ kín đáo trong các hang đá sâu ngập nước, kẽ nứt của các tảng đá khổng lồ dọc lòng suối hoặc dưới các thân cây mục ven bờ. Khi bị động, chúng lập tức nhảy xuống nước sâu và trốn vào các kẽ đá đáy suối. Sinh sản vào khoảng tháng 10, nòng nọc phát triển qua mùa đông thành ếch con vào khoảng tháng 3 và 4.. Con cái đẻ trứng dính chặt thành từng mảng lớn phía dưới mặt đáy của các tảng đá chìm trong dòng nước chảy. Nòng nọc của chúng có thân hình thon dài, cơ đuôi khỏe và cấu tạo miệng đặc biệt để bám đá, ăn các loại tảo bám và mùn bã hữu cơ dòng suối.

Môi trường sinh sống

Loài này ghi nhận ở các suối nước chảy, bám trên đá ở các thác nước trong rừng thường xanh ở độ cao từ 300 - 1.220 m (Dubois & Ohler 2009, Pham et al. 2020).

Tình trạng sinh sống

Loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh và Bắc Giang. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 3.200 km2; số địa điểm ghi nhận 3; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác than, khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng làm canh tác nông nghiệp (tiêu chuẩn B1ab(iii)). Ngoài ra, do cơ thể có kích thước lớn nên loài này là đối tượng bị săn bắt làm thực phẩm của người dân địa phương và bán cho khách du lịch. Quần thể bị suy giảm ước tính khoảng hơn 50% trong vòng hơn 15 năm qua.

Mối đe dọa và giá trị

Mối đe dọa được ghi nhậnMất môi trường sống · Săn bắt, khai thác quá mức · Sự suy giảm quần thể
Giá trị của loàiGiá trị khoa học · Giá trị môi trường sinh thái · Giá trị kinh tế

Phân bố tại Việt Nam

Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.

Tỉnh, thành phố có ghi nhận phân bố
Bắc Ninh
Lạng Sơn
Quảng Ninh

Khu bảo tồn ghi nhận loài

Theo kết quả kiểm kê loài tại các khu bảo tồn, di sản thiên nhiên trong Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.

Khu bảo tồn / di sản thiên nhiênPhân loạiĐịa bàn
Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ ThượngDi sản thiên nhiên cấp tỉnhQuảng Ninh
Khu dự trữ thiên nhiên Tây Yên TửDi sản thiên nhiên cấp tỉnhBắc Ninh

Loài khác trong họ Dicroglossidae

Tên gọiTên khoa họcSách Đỏ VNIUCNNĐ 84/2021
Ếch vạchQuasipaa delacouriEN - Nguy cấpLC - Ít quan tâm
Ếch gai vân namNanorana yunnanensisVU - Sẽ nguy cấp
Ếch gai boulengerQuasipaa boulengeriVU - Sẽ nguy cấp
Ếch đồi changNanorana aeneaLC - Ít quan tâm
Ếch gai sầnQuasipaa verrucospinosaLC - Ít quan tâm
Ếch nhẽo quảng ninhLimnonectes quangninhensisVU - Sẽ nguy cấp

Câu hỏi thường gặp

Ếch gai sần việt nam là loài gì?

Ếch gai sần việt nam có tên khoa học Quasipaa acanthophora Dubois & Ohler, 2009, thuộc họ Dicroglossidae, bộ Anura, lớp Amphibia, giới Animalia. Thuộc nhóm ếch cỡ lớn, con đực trưởng thành có chiều dài đầu - thân khoảng 70 – 100 mm, con cái có thể tương đương hoặc lớn hơn một chút. Thân hình mập mạp, đầu rộng hơn dài. Điểm đặc trưng nhất của con đực trưởng thành vào mùa sinh sản là sự xuất hiện của rất nhiều nốt gai sừng màu đen, nhọn (như những chiếc gai nhỏ) phủ dày đặc ở vùng ngực, bụng và mặt trong của các ngón tay trước. Da vùng lưng... Loài được ghi nhận phân bố tại Bắc Ninh, Lạng Sơn, Quảng Ninh.

Ếch gai sần việt nam được xếp hạng bảo tồn thế nào?

Sách Đỏ Việt Nam 2024 xếp loài ở hạng EN - Nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng rất lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai gần. Danh lục Đỏ IUCN xếp loài ở hạng VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. Hạng bảo tồn phản ánh mức độ nguy cơ tuyệt chủng theo đánh giá khoa học, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không.

Ếch gai sần việt nam phân bố ở khu bảo tồn nào?

Dữ liệu kiểm kê ghi nhận loài tại 2 khu: Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, Khu dự trữ thiên nhiên Tây Yên Tử.

Vì sao ếch gai sần việt nam bị đe dọa?

Cơ sở dữ liệu ghi nhận các mối đe dọa chính với loài gồm: Mất môi trường sống; Săn bắt, khai thác quá mức; Sự suy giảm quần thể. Về tình trạng sinh sống: Loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh và Bắc Giang. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 3.200 km2; số địa điểm ghi nhận 3; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác than, khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng làm canh tác nông nghiệp (tiêu chuẩn B1ab(iii)). Ngo...

Căn cứ pháp lý

  • Luật Đa dạng sinh học 2008
  • Nghị định 06/2019/NĐ-CP
  • Nghị định 84/2021/NĐ-CP
  • Nghị định 160/2013/NĐ-CP
  • Nghị định 26/2019/NĐ-CP
Cập nhật từ nguồn: 12/08/2026. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ