Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây vú sữa

Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .

Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ.

Nội dung quy trình kỹ thuật

QUY TRÌNH

Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây vú sữa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

(Ban hành kèm Quyết định số /QĐ-UBND, ngày / /2025

của UBND tỉnh Lâm Đồng)

I. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật

1. Thời gian kiến thiết cơ bản (KTCB): 3 năm (1 năm trồng mới và 2 năm chăm sóc).

2. Thờikỳ kinh doanh: 17 năm, tính từ năm thứ 4.

3. Chu kỳ kinh doanh:chu kỳ kinh doanh khoảng20 năm, tùy theo vào thực tế kỹ thuật thâm canh.

4. Mục tiêu năng suất: đạt khoảng 20 tấn/ha.

II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh

1.Nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa

- Nhiệt độ:cây vú sữa có giới hạn nhiệt độ khá rộng từ 5 - 380C, sinh trưởng phát triển tốt ở nhiệt độ 22 - 340C. Ở nhiệt độ dưới 200C cây sinh trưởng, phát triển chậm, nhiệt độ 38- 400C có thể gây cháy cho cả lá và vỏ trái.

- Ẩm độ:thích hợp từ 80% trở lên.

- Lượng mưa:cây vú sữa không thể sinh trưởng phát triển tốt ở vùng quá khô hay quá ẩm. Lượng mưa hàng năm thấp nhất phải là 1.270 mm, phân bố đều trong năm và không mưa ở giai đoạn cây mang trái là thích hợp nhất.

2. Độ cao:cây vú sữa có thể trồng từ vùng đồng bằng đến độ cao 1.000m so với mặt nước biển, nhưng thích hợp phát triển ở đồng bằng hơn.

3. Ánh sáng:cây vú sữa có thể ra hoa cả ngày ngắn lẫn ngày dài, nhưng thuận lợi nhất ở điều kiện ngày dài. Số giờ chiếu sáng khoảng 2.000 giờ/năm. Trong hai năm đầu trồng ra vườn sản xuất cây vú sữa cần phải được che bớt ánh nắng mặt trời trực tiếp, che bớt khoảng 50-60% ánh sáng mặt trời.

4. Đất đai:cây vú sữa có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất sét giàu hữu cơ, đất đỏ bazan, đất phù sa ven song, đất giàu hữu cơ, tơi xốp, tầng canh tác dày, thoát nước tốt (mực nước ngầm dưới 1m) và gần nguồn nước tưới. pH 5,5-6,5 thích hợp cho cây vú sữa sinh trưởng phát triển.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

1. Giống và tiêu chuẩn cây giống

1.1. Giống

Sử dụng các giống được cấp Quyết định công nhận lưu hành, tự lưu hành, lưu hành đặc cách, các giống trong danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh có thẩm quyền ban hành và được chuyển tiếp theo quy định hoặc đã được Quyết định công nhận cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng.

- Các giống vú sữa trồng phổ biến hiện nay: Vú sữa Lò Rèn, Vú sữa Tím Mica, Vú sữa Bơ Hồng, Vú Sữa Hoàng Kim, Vú sữa Vĩnh Kim.

1.2. Nhân giống

Cây vú sữa được nhân giống bằng nhiều phương pháp như gieo hạt, chiết canh, ghép,…nhưng phổ biến nhất vẫn là phương pháp chiết cành và ghép.

Nhân giống bằng phương pháp chiết cành:chọn các cây cho năng suất cao và độ tuồi từ 6 – 10 năm tuổi. trên cây chọn các cành bánh tẻ khỏe mạnh không sâu bệnh có độ tuổi từ 12 – 14 tháng tuổi, cành nằm ngang, da vừa hóa gỗ không mang cành vượt chọn làm cành chiếc. Thời gian chiết cành từ tháng 2 - 4 dương lịch.

- Cách chiết: dùng dao bén khoanh và lột bỏ khoảng vỏ từ 2 – 2,5cm, dùng dây nilon cột quanh vết cắt để ráo nhựa cây, 20 – 25 ngày sau đó bắt đầu bó bầu, vật liệu bó bầu thường là xơ dừa, rơm rạ, bùn nhuyển, bao nylon.

Sau khi bó bầu khoảng 10 – 15 ngày, thường xuyên tưới nước để bầu không bị khô. Sau khi bó bầu 3 – 4 tháng, cắt nhánh và dùng bẹ chuối hoặc bầu nilon chứa đất xốp giâm nhánh, để trong mát dưỡng 15 - 30 ngày cho rễ thuần thục trước khi đem trồng.

Nhân giống bằng phương pháp ghép:có nhiều cách ghép, tuy nhiên trong sản xuất hiện nay ghép áp cành treo bầu và ghép nêm được áp dụng phổ biến nhất.

* Ghép cành treo bầu: chọn kích cỡ gốc ghép phải tương xứng với cành ghép và cành ghép đã thành thục. Gốc ghép trồng trong bầu được buộc vào giàn đỡ bầu gần cành ghép.

+ Gốc ghép: sử dụng gốc ghép có đường kính từ 0,8 – 1 cm (tương đương 16 – 18 tháng tuổi). Dùng dao bén vạt gốc ghép theo hình vạt nêm dài 1,5 – 2 cm, cách mặt bầu ươm 0,6 – 10 cm.

+ Cành ghép: vị trí ghép cách chồi ngọn 30 – 40 cm trở lên, dùng dao cắt xéo góc 300 vào đến giữa tâm cành rồi kéo dài về phía ngọn cành khoảng 2,5 – 3 cm.

+ Ghép: đặt vạt nêm của gốc ghép vào nơi vạt xéo trên cành ghép, phải đặt sao cho mặt cắt của gốc và cành ghép trùng khít lên nhau, quấn mối ghép bằng dây PE, sau đó cột chặt vào cành lớn hơn trên cây tránh gió lay.

+ Cắt dây ghép: nơi ghép sẽ được kết dính sau khi ghép khoảng 3 tuần, 1,5 – 2 tháng sau ghép có thể cắt dây những cây ghép thành công, 1 tháng sau đó thay bầu ươm lớn hơn, tưới nước đầy đủ, để cây nơi râm mát và chăm sóc đến khi đưa đi trồng.

* Ghép nêm:

+ Gốc ghép: có đường kính tương đương hoặc lớn hơn cành ghép (8-12 tháng tuổi), được vạt 2 đường đối xứng nhau tạo thành hình vạt nêm dài 3-7 cm.

+ Chồi ghép (bo): chồi ghép được cắt từ cây mẹ có độ dài từ 10-20cm, dùng dao vạt hình vạt nêm tương ứng với chiều dài của chữ U trên gốc ghép. Đường cắt xéo sâu vào gỗ cành giống đến 1/3 đường kính chồi ghép, sau đó lồng vạt nêm gốc ghép vào miệng cắt xéo của chồi ghép sao cho tượng tầng của 2 mặt cắt tiếp xúc tối đa. Quấn kín mối ghép bằng dây ghép PE.

1.3. Tiêu chuẩn cây giống

- Đối với cây thực sinh: thân thẳng vững chắc, các lá ngọn trưởng thành, xanh tốt, lá có hình dạng và kích thước đặc trưng của giống. Số tầng lá (cơi lá) có từ 1 tầng trở lên, số cành có từ 4 cành trở lên. Chiều cao cây giống tính từ mặt giá thể bầu ươm đến đỉnh chồi từ 40 – 50cm trở lên.

- Đối với vây ghép: cây con từ 12 - 24 tháng, chiều cao cây từ 50-70 cm trở lên, đường kính gốc >1cm, đường kính cành (chồi) ghép từ 0,6 – 0,7 cm. Cây khỏe không sâu bệnh, cụt ngọn, dị hình, lá ngọn đã trưởng thành, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng của giống.

2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

2.1. Thời vụ trồng

Có thể trồng được quanh năm nếu chủ động nước tưới. Tại Lâm Đồng thời vụ trồng thích hợp từ 15/5 đến 15/8 hàng năm (trước khi kết thúc mùa mưa 01 tháng).

2.2. Mật độ và khoảng cách trồng

- Đối vùng đất bằng, trồng hàng cách hàng 6m, cây cách cây 8m với mật độ 208 cây/ha.

- Các vùng đất dốc, bố trí khoảng cách 6 m x 6m /cây theo kiểu nanh sấu với mật độ 278 cây/ha.

2.3.Chuẩn bị đất

Đất trồng vú sữa phải đảm bảo chủ động trong việc tưới và tiêu nước để đảm bảo đủ nước tưới trong mùa khô và thoát nước tốt trong mùa mưa cũng như có thể tạo khô hạn để xử lý cây ra hoa nghịch vụ. Chọn vùng đất có độ dốc < 20o, tầng đất canh tác ≥ 60 cm, mực ngầm ≥ 2 m, pH 5-7, thoát nước tốt, giàu mùn.

- Đào hố: Kích thước hố 60 x 60 x 60 cm; làm đất và đào hố trước khi trồng 3-4 tháng để đất kịp ải. Khi đào hố nên để riêng lớp đất trên mặt và đất ở lớp phía dưới.

- Bón lót: Trước khi trồng 10-15 ngày, bón lót mỗi hố 20-30 kg phân chuồng đã ủ hoai, 0,5-1,0 kg Super lân và 0,5 kg vôi, lấp đầy cách miệng hố khoảng 10 cm (ngoài vật liệu bón lót trên không nên dùng phân hữu cơ chưa hoai hay tro bếp bón lót dễ gây thối rễ, mặn đất và chết cây).

2.4.Kỹ thuật trồng

- Chọn cây khỏe mạnh đem ra trồng trước, các cây chưa hồi phục, tiếp tục dưỡng; vận chuyển nhẹ nhàng, tránh làm lỏng gốc.

- Đào một lỗ (trong hố đã xử lý) có độ sâu bằng chiều dài bầu cây giống.

- Dùng kéo cắt bỏ dây quấn quanh bầu đất, đặt cây vào hố, nhẹ nhàng cắt và rút bao ni lon ra khỏi bầu đất (tuyệt đối không làm bể bầu).

- Dùng tay lấp và nén nhẹ đất quanh bầu, chỉ lấp đất ngang mặt bầu tạo hình mu rùa để thoát nước trong mùa mưa.

- Dùng 3 cọc dài 60 - 80 cm cắm thành hình tam giác xung quanh, cách gốc cây 40 - 50 cm, buộc chụm phần trên ngọn cọc lại tương ứng với 2/3 chiều cao của cây và buộc vào thân cây để cố định, bảo vệ cây khỏi bị gió làm nghiêng;.

- Trồng dặm kịp thời những cây bị chết, cây yếu, trồng dặm vào đầu mùa mưa. Khi trồng dặm chỉ cần móc đất và trồng lại trên hố cũ. Cây giống trồng dặm cũng phải chọn cây tốt đủ tiêu chuẩn.

2.5. Phân bón và kỹ thuật bón phân

2.5.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)

Tuổi cây

Phân hữu cơ

(kg/ha)

Lượng phân nguyên chất (kg/ha)

Lượng phân thương phẩm (kg/ha)

Số lần bón/năm

N

P2O5

K2O5

Ure

(kg/ha)

Lân super

(kg/ha)

Kali clorua

(kg/ha)

Năm 1

3.000

90

80

90

195

445

150

Bón 2 lần

Năm 2 + 3

3.000

140

120

180

304

667

301

Bón 4 lần

* Thời điểm bón:

- Năm thứ nhất: bón lót toàn bộ phân hữu cơ và phân lân trước khi trồng 1 tháng. Phân urê và kali được chia đều và bón 2 lần trong mùa mưa.

- Năm thứ 2 và năm thứ 3:

Phân hữu cơ: 3.000 kg/ha/năm bón 1 lần vào đầu mùa mưa.

Phân bón vô cơ được chia làm 4 lần/năm như sau:

+ Lần 1 (giữa mùa khô kết hợp tưới nước lần 2 hoặc lần 3): bón 40 % phân urê.

+ Lần 2 (đầu mùa mưa): 30% phân urê, 100 % Lân super.

+ Lần 3 (giữa mùa mưa): 30% phân urê, 50% Kaliclorua.

+ Lần 4 (kết thúc mùa mưa): 50% Kaliclorua.

2.5.2. Thời kỳ kinh doanh

Thời kỳ bón

Phân hữu cơ

(kg/ha)

Lượng phân nguyên chất (kg/ha)

Lượng phân thương phẩm (kg/ha)

Số lần bón/năm

N

P2O5

K2O5

Ure

(kg/ha)

Lân super

(kg/ha)

Kaliclorua

(kg/ha)

> 4 năm

3.000

190

150

240

412

834

401

Bón 4 lần

* Thời điểm bón:

- Phân hữu cơ: 3.000 kg/ha/năm bón 1 lần vào đầu mùa mưa.

- Phân bón vô cơ được chia làm 4 lần/năm như sau:

+ Lần 1 (giữa mùa khô kết hợp tưới nước lần 2 hoặc lần 3): bón 40 % phân urê.

+ Lần 2 (đầu mùa mưa): 30% phân urê, 50 % Lân super.

+ Lần 3 (giữa mùa mưa): 30% phân urê, 50 % Lân super, 50% Kaliclorua.

+ Lần 4 (kết thúc mùa mưa): 50% Kaliclorua.

*Cách bón: bón phân phải kết hợp với việc xới xáo làm cỏ quanh gốc. Rạch vòng tròn quanh gốc, cách gốc cây 20 - 30cm, sau đó rải phân, lấp đất và tủ gốc.

2.5.3. Kỹ thuật bón phân

Trước khi bón phân nên tiến hành thu dọn toàn bộ vật liệu tủ gốc rồi bón lên mặt líp (mô) hoặc xới rảnh sâu 5-10 cm ở 2/3 đường kính tán cây, bón phân vào rãnh. Sau khi bón phân nên che phủ gốc bằng các vật liệu hữu cơ và tưới nước liên tục 5-7 ngày cho phân tan vào đất.

2.6. Chăm sóc

2.6.1. Làm cỏ

Mùa mưa làm sạch cỏ 3-4 lần theo băng trên hàng hoặc theo từng gốc. Sau lần làm cỏ cuối mùa mưa, tủ quanh gốc cây bơ bằng cỏ khô, tàn dư cây họ đậu, cây chắn gió tạm thời... Lưu ý tủ chừa cách gốc 40-50 cm.

2.6.2. Tưới nước

Tưới nước đầy đủ là yếu tố thiết yếu đối với cây vú sữa nhằm đảm bảo sinh trưởng. Tưới đẫm sau thời kỳ khô hạn tạo tác dụng ra hoa đồng loạt cho cây và đảm bảo tỉ lệ đậu quả cao.

- Giai đoạn cây con: cần cung cấp đầy đủ cho cây vú sữa. Tưới 3-5 lần/ tuần, tùy theo thời tiết hoặc nhu cầu của cây, giảm tỷ lệ cây chết và phát triển nhanh đặc biệt trong 3 năm đầu.

- Giai đoạn cây ra hoa và mang quả cần tưới nước 2-3 ngày/ lần.

2.6.3.Tỉa cành tạo tán

Trong các năm đầu nên tỉa bớt cành, chỉ để lại các cành phân bố cành đều theo các hướng, tạo cho cây có tán tròn đều và khống chế chiều cao không vượt quá 4 - 4,5m. Cắt bỏ cành vượt trong tán, cành sâu bệnh, cành phụ ốm yếu mọc liên tiếp trên cùng một cành chính, cành mọc gần mặt đất.

Vào sau mỗi vụ thu hoạch cần tỉa các cành mọc đứng bên trong tán, cành rũ, cành ốm yếu, sâu bệnh… để giúp cây thông thoáng và sớm ra chồi mới.

Đối với vườn có độ tuổi từ 10 năm trở lên, cây cao quá 6m nên tiến hành trẻ hoá cho cây. Kỹ thuật trẻ hoá nên được áp dụng liên tiếp trong 3 - 4 năm, mỗi năm trên từng phần của cây để đảm bảo mức thu nhập.

Sau mỗi vụ thu hoạch nên cưa bỏ 1-2 cành vươn cao, ít lá và có biểu hiện sinh trưởng, năng suất kém nhất trên tán cây. Cưa ngắn các cành này còn 30- 50cm tính từ gốc cành. Khi cưa nên rót nước liên tục vào vết cưa nhằm tránh nhiệt độ cao do ma sát gây chết mô cây ảnh hưởng đến khả năng tái sinh chồi sau này, vết cưa nghiêng 450để tránh đọng nước. Sơn phủ bề mặt vết cưa bằng dung dịch CuSO4. Khoảng 15-20 ngày sau dưới mỗi vết cưa sẽ phát triển 5-15 chồi mới, nên tỉa bớt số chồi mới chỉ giữ lại 2-3 chồi khỏe và ở vị trí đều quanh cành. Khi chồi mới phát triển đến chiều dài 50-60cm thì tiến hành loại bỏ đỉnh sinh trưởng để kích thích chồi phân cành.

Lưu ý quan sát và phòng trừ sâu hại cho cành mới. Cành mới có khả năng cho quả sau 12-18 tháng.

2.7.Sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ

2.7.1. Sâu đục quả(Alophia sp.)

a) Đặc điểm gây hại

Sâu đục quả gây hại quanh năm nhưng phát triển mạnh nhất là vào mùa nắng. Sâu gây hại từ khi quả còn nhỏ cho đến khi quả chín. Khi sâu hại ở giai đoạn quả nhỏ sẽ làm quả bị rụng sớm ảnh hưởng đến năng suất, khi quả lớn sâu cắn phá ăn phần thịt quả làm ảnh hưởng đến mẫu mã và giảm giá trị thương phẩm của quả.

Sâu hại gây ra các vết thương trên quả sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh tấn công khiến cây dần suy giảm khả năng đề kháng, ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất của mùa vụ.

Trưởng thành sâu đục quả đẻ trứng rải rác từng quả trên bề mặt vỏ quả. Sâu non mới nở bắt đầu tấn công bên ngoài vỏ quả. Sang tuổi 2, sâu sẽ bắt đầu ăn vào sâu bên trong thịt quả, khi quan sát sẽ thấy những đường hầm trên vỏ quả, làm quả bị chảy nhựa trắng chung quanh lỗ đục. Quá trình phát triển của sâu diễn ra hoàn toàn bên trong quả. Sau thời gian đục phá của sâu, gần cuống hoặc đáy quả có những chùm phân của sâu kết lại với nhau bằng một lớp tơ mỏng.

b) Biện pháp phòng trừ

- Cần tiến hành thăm vườn thường xuyên để kịp thời phát hiện sâu đục quả nhất là lúc bướm (con trưởng thành) xuất hiện ở vườn đẻ trứng và quả bắt đầu có dấu hiệu mới bị tấn công để có biện pháp phòng trừ sớm.

- Có thể sử dụng biện pháp tưới nước bằng máy với áp suất mạnh cũng làm giảm đáng kể mật số sâu đục quả.

- Dọn sạch tàn dư, cắt tỉa cành, quả bị sâu bệnh, đem tiêu hủy để diệt sâu và nhộng tránh lây lan.

- Bao quả là biện pháp hiệu quả để ngừa sâu đục quả (tuy nhiên biện pháp này chỉ thực hiện được ở các cây có tán thấp).

-Tham khảo sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có chứa hoạt chất: Abamectin, Emamectin, Permethrin để phòng trừ

2.7.2. Sâu ăn bông(Eustalodes anthivora)

a) Đặc điểm gây hại

- Trưởng thành thường đẻ trứng trên các chùm bông, mỗi con có thể đẻ từ 50 - 60 trứng.

- Sâu tấn công gây hại khi hoa nở, ăn cánh hoa làm cho hoa bị rụng. Sâu gây hại nặng nhất vào tuổi 3, có thể phát hiện thấy rất nhiều sâu trên một bông. Khi bị động, ấu trùng thường có tập quán bám sát trên các nhánh bông nên rất khó phát hiện.

- Sâu hóa nhộng trên cây, bên trong kén bằng bông kết dính lại.

b) Biện pháp phòng trừ

- Thu gom tàn dư của trái đã bị sâu ăn để tiêu hủy.

- Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ sâu ăn bông hại vú sữa, có thể tham khảo sử dụng một số hoạt chất: Abamectin, Emamectin benzoate,Matrine,Alpha-cypermethrin, Permethrin, Chlorfluazuron để phòng trừ.

2.7.3. Rệp sáp (Pseudococcus sp.)

a) Đặc điểm gây hại

- Rệp gây hại từ khi trái còn non, chích hút trên cuống trái và trái. Chúng thường tập trung nhiều ở những chùm trái dầy chặt, gây hại trong suốt giai đoạn phát triển của trái từ khi còn nhỏ cho đến lúc chín.

- Trên trái non nếu mật số rệp cao sẽ làm cho trái không phát triển được và có thể bị rụng sớm. Nếu mật số rệp thấp hoặc tấn công khi trái đã lớn thì trái vẫn tiếp tục phát triển nhưng làm giảm chất lượng của trái.

- Trong qúa trình sống rệp tiết ra mật ngọt tạo môi trường thích hợp cho nấm muội đen phát triển và làm giảm giá trị thương phẩm.

- Loài rệp này ít di chuyển. Kiến là nguồn lây lan rệp từ nơi này sang nơi khác, từ cây này sang cây khác.

b) Biện pháp phòng trừ

- Trồng cây với mật độ vừa phải, không nên trồng quá dầy để vườn cây luôn được thông thoáng.

- Vệ sinh vườn cây thường xuyên, cắt bỏ cành bị rệp, cành nằm khuất trong tán lá... để vườn luôn thông thoáng. Phun trừ kiến để hạn chế nguồn lây lan của rệp.

- Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện và phun thuốc diệt trừ rệp kịp thời, nhất là ở giai đoạn cây đang có bông, trái non, trái đang phát triển.

- Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ rệp sáp hại vú sữa. Có thể tham khảo sử dụng một số loại thuốc để rừ rệp có hoạt chất: Abamectin, Abamectin + Azadirachtin, Abamectin + Chlorfluazuron, Abamectin + Matrine, Abamectin + Petroleum oil. Phun trực tiếp vào chỗ có rệp hại để phòng trừ.

2.7.4. Sâu đục thân(Pachyteria equestris)

a) Đặc điểm gây hại

Sâu non: khi mới nở cắn phá trên vỏ của cây để lại các đường ngoằn ngoèo trên thân.

Sâu lớn hơn sẽ đục sâu vào lớp trong thân cây, có mùn cưa và phân của sâu bị đẩy ra ngoài tại các lỗ đục.

Nhánh cây bị sâu đục lâu dẫn sẽ chết khô, dễ gãy khi có gió lớn.

Sâu tấn công gây hại trên các nhánh cây sau đó đến thân chính và xuống gốc cây. Hệ thống mạch dẫn của cây bị đứt, chất dinh dưỡng không được vận chuyển lên nuôi các bộ phận khác: Hoa, lá, quả,…

Cây vú sữa: trở nên xơ xác, không còn dấu hiệu sinh trưởng, dần dần sẽ bị khô và chết.

b) Biện pháp phòng trừ

Theo dõi cây vú sữa của bạn thường xuyên để phát hiện sự hiện diện của rệp sáp ngay từ khi chúng xuất hiện. Điều này giúp bạn phát hiện sớm và đưa ra biện pháp ứng phó kịp thời.

Dọn vườn, làm sạch cỏ, loại bỏ cành, cây bị bệnh để tránh lây lan.

Biện pháp hóa học: danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ sâu đục thân hại vú sữa. Có thể tham khảo sử dụng một số loại thuốc cóchứa hoạt chất: Abamectin,Cypermethrin Alpha-cypermethrin, Imidaclopridđể phòng trừ.

2.7.5. Bệnh thối quả(Colletotrichum sp.,Lasiodiplodia theobromae)

a) Triệu chứng gây bệnh

- Triệu chứng do nấm Colletotrichum sp.:vết bệnh lúc đầu trên trái có những đốm nhỏ hình tròn có màu nâu hoặc nâu đen sau lan dần ra, nhiều đốm kết hợp với nhau thành những đốm lớn hơn và có thể lan ra bao quanh trái, làm cho thịt trái bị chai sượng và thối sau đó trái sẽ rụng.

- Triệu chứng do nấm Lasiodiplodia theobromae:phần thịt trái nơi gần cuống có màu nâu sậm sau đó lan dần làm quả thối và rụng.

- Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ khoảng 250C, thời tiết ẩm thấp, mưa nhiều.

b) Biện pháp phòng trừ

- Vệ sinh vườn, tỉa bỏ và thu gom những trái bị bệnh lại để tiêu hủy. Không nên trồng quá dày, tỉa bỏ cành vô hiệu để giúp vườn thông thoáng, hạn chế nấm bệnh phát triển.

- Biện pháp hóa học: danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh thối quả cây vú sữa. Có thể tham khảo sử dụng một số thuốc có hoạt chất: Azoxystrobin, Cymoxanil + Metalaxyl, Chlorothalonil để phòng trừ.

2.7.6. Bệnh bồ hóng(Capnodium sp).

a)Triệu chứng gây bệnh

- Bệnh phát sinh trên lá và trái, vết bệnh có những đốm với sợi nấm màu đen như lớp bồ hóng bám ở mặt lá.

- Nấm phát triển làm giảm khả năng quang hợp, làm trái xấu đi, giảm giá trị thương phẩm, vết bệnh có thể bị tróc khi nắng làm khô nấm.

- Nấm phát triển trên chất tiết của các loài côn trùng chích hút và sống nhờ chất dịch này.

b) Biện pháp phòng trừ

- Không trồng quá dày, vệ sinh vườn cây, tạo vườn cây thông thoáng, cắt tỉa cành sau thu hoạch.

- Áp dụng các biện pháp phòng trừ rệp triệt để để hạn chế bệnh bồ hóng phát triển.

2.7.7.Bệnh thối rễ (Fusarium solani, Fusarium oxysporium và Pythium helicoides)

a Triệu chứng gây bệnh

Trên lá: triệu chứng khá phổ biến và điển hình cuả bệnh thối rễ trên cây vú sữa là cây còi cọc, kích thước lá bị thu nhỏ lại hay còn gọi “lá me”, tán lá thưa, có màu xanh xám, đôi khi lá trên một số hay phần lớn các cành bị rụng dẫn đến hiện tượng cây bị trơ cành. Nếu cây mang nhiều trái thì chỉ thu hoạch được những lứa trái đầu tiên, trong khi đó phần lớn lượng trái còn lại đều bị héo xanh không thể thu hoạch được.

Thân: trên những cây bị nhiễm bệnh thì da thân cây vú sữa tròn lẳng không còn gồ ghề như thân cây me.

Rễ:hệ thống rễ tơ kể cả rễ thứ cấp đều bị bị thối nhũn, sau đó khô và hoá nâu. Ngoài ra, bệnh còn tấn công ở vị trí cổ rễ hay một số vị trí cục bộ trên rễ chính (nằm gần mặt đất) từ đó làm cho toàn bộ hệ thống rễ bị thối khô và hoá nâu, nếu phát hiện muộn thì sẽ rất khó phòng trị.

Điều kiện phát sinh, phát triển:

Ẩm độ đất thích hợp cho bệnh phát triển >50%. pH đất thuận lợi cho sự phát triển của tác nhân gây bệnh thối rễ cây vú sữa ở mức > pH 4-6.Những vườn vú sữa bón càng ít phân hữu cơ hoặc không bón và sử dụng biện pháp bơm lùa để xử lý ra hoa thì có tỷ lệ bệnh càng cao.

b) Biện pháp phòng trừ

Bệnh thối rễ cây vú sữa do nhiều tác nhân khác nhau, do đó đòi hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp quản lý tổng hợp thì hiệu quả phòng trị bệnh mới đạt hiệu quả.

- Bón phân cân đối, hợp lý giữa các thành phần đa, trung và vi lượng.

- Tiến hành vệ sinh vườn: thu gom lá khô trên mặt líp, trái bị nhiễm sâu bệnh, cắt tỉa cành sâu bệnh, cành vượt bên trong tán, cành ốm yếu. Có thể tỉa cành tạo tán hay trẻ hoá cho cây tùy thuộc điều kiện sinh trưởng cuả vườn cây. Bón vôi cho toàn bộ vườn với liều lượng khoảng 5-10kg/ cây trưởng thành.

- Rải phân hữu cơ đã được ủ hoai kết hợp với nấm đối kháng Trichoderma.

Có thể tham khảo sử dụng một số thuốc có hoạt chất:Streptomyces lydicus WYEC 108, Streptomyces lydicus WYEC + Fe + Humic acid, Trichoderma spp., FosetylAluminiumđể phòng trừ:

IV. Thu hoạch, chế biến bảo quản

1. Thu hoạch

Đối với vú sữa từ khi đậu quả đến khi thu họach éo dài kỏang 180 – 200 ngày tùy theo giốg và mùa vụ. Cần tiến hành thu họach khi trái chín sinh lý trên cây, lúc quả phát triển đạt đến hình thái và màu sắc đặc trưng của giống. Khi thu họach nên thu cả cuống, nên dùng dụng cụ có túi vải để hái trái, tránh để trái rơi tự do trên mặt đất làm xay xát vỏ trái, ngay sau khi hái xong không nên để thành đống trên mặt đất mà phải chứa trong một dụng cụ như rổ nhựa, … để hạn chế những tổn thương sau thu hoạch. Lọai bỏ quả sâu bệnh, quả bị tổn thương, cho vào các thùng và có giấy lót tránh va chạm. Nên bao trái để tránh trầy sướt khi vận chuyển

2. Bảo quản

Trong thời gian tồn trữ, vận chuyển không nên để trái tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời vì sẽ làm tổn thương vỏ trái. Khi chất trái vào thùng, vào giỏ…nên lót giấy hoặc vật liệu xốp và không nên chất quá 4-5 lớp/giỏ.Bảo quản trái ở 130C chứa trái tròn túi plastic có đục lỗ sẽ giữ trái được 28 ngày. Bảo quản ở 200C giữ được 21 ngày, nhưng nếu chứa trong túi plastic kín giữ được 49 ngày.

Quy trình khác cùng nhóm

Căn cứ pháp lý

  • Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 — quy định nguyên tắc phòng, chống sinh vật gây hại thực vật.
  • Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT — ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng — nguồn của danh sách thuốc gợi ý theo dịch hại.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ