Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ.
(Ban hành kèm theoQuyết định số /QĐ-UBNDngày //2025
của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I.Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1.Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB): từ khi trồng đến khoảng sau 8 tháng đến 1 năm cây ổi cho quả.
2. Thời kỳ kinh doanh:9 – 11 năm, tính từ năm thứ 2.
3.Chu kỳ kinh doanh:10 - 12 năm (tùy vào điều kiện khí hậu, kỹ thuật canh tác,...).
4. Mục tiêu năng suất:20 -30tấn/ha.
I. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1. Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa
- Nhiệt độ:25 – 290C
- Ẩm độ:Bộ rễ ổi thích nghi tốt với sự thay đổi đột ngột độ ẩm đất
2. Độ cao và gió:
Ổi có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, nhưng nó vẫn có thể phát triển trong khu vực cận nhiệt đới ở độ cao lên đến 1700 m. Khả năng thích ứng này đã dẫn đến nó được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới và ở một số nơi ổi được xem như là một loài cỏ dại xâm lấn.
3. Ánh sáng:
Cây ổi ưa sống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Vì vậy, nó là cây ưa sáng, tuy nhiên cường độ ánh sáng quá cao sẽ làm nám trái, cây sinh trưởng kém dẫn đến tuổi thọ ngắn.
4. Đất đai:
Ổi mọc tốt trên đất phì nhiêu, có cơ cấu nhẹ như đất phù sa, đất cát pha có tầng canh tác sâu (tối thiểu 0,5 m). Đất hơi chua hay hơi kiếm (pH = 4,5 – 8,2) nhưng thoát nước tốt và giàu chất hữu cơ đều có thể trồng ổi.
II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống:
Hiện nay có nhiều giống ổi đã trồng ở nước ta. Các giống ổi phổ biến gồm: Ổi lê Đài Loan, nữ hoàng, xá lị không hạt.
- Ổi lê Đài Loan: Ổi lê có nguồn gốc từ Đài Loan, giống ổi này có đặc điểm sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cao, quả có mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, cây ổi lê phát triển nhanh, trồng khoảng 06 tháng là cây bắt đầu cho trái và hơn năm là cây có thể cho trái ổn định mang lại giá trị kinh tế. Thân cây ổi lê Đài Loan nhẵn chắc, cây phát triển nhanh, phân cành sớm. Hoa mọc từng chùm thường khoảng 02 hoặc 03 hoa, thường ra ở nách lá. Hoa ổi có 05 cánh màu trắng có nhiều nhị vàng, từ lúc ổi ra hoa đến khi thu hoạch khoảng 2 đến 2,5 tháng. Trái ổi lê khi còn non có màu xanh sẫm khi chín có màu xanh ngả vàng.
- Ổi nữ hoàng: Ổi nữ hoàng thuộc loại cây thân gỗ lùn. Chiều cao tối đa 03 m, tán 02 m. Cây ổi nữ hoàng cho trái tốt sau 05 tháng. Ổi nữ hoàng có dạng trái hình cầu, có gân dọc theo trái. Trọng lượng trung bình 350 - 400 g/trái. Đây là giống cây rất dễ ra hoa và đậu trái. Ruột rất nhỏ có một ít hạt.
- Ổi xá lị không hạt: cây ổi xá lị không hạt có thể cho trái vào tháng thứ năm sau khi trồng. Năng suất bình quân 60 - 80 tấn trái/ha vào năm thứ 3. Chất lượng thơm ngon, thị trường ăn tươi rất ưa chuộng. Cây ổi không hạt sản xuất theo phương pháp chiết cành đảm bảo cây sinh trưởng phát triển nhanh.
Ngoài các giống kể trên, còn có nhiều giống ổi khác như ổi bôm, ổi xá lị ruột đỏ (da láng, da sần), ổi Thái Lan… những giống này có nhiều đặc tính tốt về hình dạng màu sắc thịt quả, ít hột, vị ngọt, thơm ngon…
1.2. Tiêu chuẩn cây giống
- Cây giống phải đúng giống quy định.
- Đối với từng giống phải đồng nhất về hình thái và đặc tính di truyền. Trường hợp sản xuất với số lượng lớn từ 500 cây trở lên, độ sai khác về hình thái không quá 5 %.
- Cây giống phải sinh trưởng khoẻ và không mang theo bệnh hại nguy hiểm.
- Đối với cây chiết, cây giống phải giữ nguyên được bộ lá ban đầu hoặc có các đợt lộc mới đã thành thục.
- Đối với cây ghép, cây giống có tuổi tính từ khi gieo hạt đến khi xuất vườn không quá 18 tháng (thời gian gieo hạt đến khi ghép 10-12 tháng, từ khi ghép đến xuất vườn 4-6 tháng).
STT | Chỉ tiêu đánh giá | ĐVT | Cây chiết | Cây ghép | ||
|---|---|---|---|---|---|---|
Loại 1 | Loại 2 | Loại 1 | Loại 2 | |||
1 | Chiều cao cây tính từ mặt bầu | cm | > 50-60 | 40-50 | >70-80 | 60-70 |
2 | Đường kính gốc đo cách mặt bầu 5 cm | cm | > 2 | 1,5-2 | 1-1,5 | 0,8-1 |
3 | Đường kính cành ghép đo trên vết ghép 2 cm | cm | - | - | > 0,5 | 0,4-0,5 |
4 | Chiều dài cành ghép tính từ vết ghép | cm | - | - | > 50-60 | 40-50 |
5 | Số lượng cành cấp 1 | cành | 3-4 | 1-2 | 2-3 | 1 |
6 | Kích thước bầu đất | cm | 10 x 22 | |||
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng:có thể trồng quanh năm trong điều kiện tưới tiêu chủ động hoặc trồng trong mùa mưa từ tháng 5 – tháng 8.
2.2.Mật độ, khoảng cách
- Trồng thuần: những năm đầu ổi mọc chậm, tán nhỏ, có thể trồng dày với khoảng cách 2 x 2 m, mật độ 2.500 cây/ha. Khi giao tán sẽ tỉa bỏ bớt để giữ khoảng cách 4 x 4 m, mật độ 625 cây/ha. Mật độ trồng nếu không tỉa được khuyến cáo là 3 x 3 m, mật độ 1.111 cây/ha (tùy từng vùng địa phương).
- Trồng xen: trồng cây ổi xen trong vườn cây có múi, măng cụt, chôm chôm, dâu,…để tăng thu nhập tùy thuộc vào khoảng cách cây trồng chính. Khi cây trồng chính lớn thì tỉa và đón bỏ ổi dần.
2.3. Chuẩn bị đất
Đất trồng cần được làm tơi xốp, thoáng khí, giữ nước tốt, tầng canh tác dày trên 50 cm; đặc biệt đất phù sa rất tốt để cây ổi phát triển cho năng suất và chất lượng cao.
2.4. Đào hố, bón lót
- Đào hố: mặt líp thấp có thể vun mô cao 20 – 30 cm, rộng mô 40 – 60 cm. Vùng đất cao có thể đào hố 50 x 50 x 50 cm.
- Bón lót: mỗi hố trồng 20 – 30 kg phân chuồng hoai mục + 0,3 – 0,5 kg supper lân + 1 – 2 kg phân hữu cơ vi sinh. Trộn đều hỗn hợp phân bón, lấp đất lại. Sau 01 tháng tiến hành trồng cây.
2.5. Kỹ thuật trồng:
Khi trồng dùng dao cắt đáy bầu, đặt cây xuống giữa mô và mặt bầu bằng với mặt cây con, sau đó rạch theo chiều dọc của bầu để kéo bao nylon lên và lấp đất lại nén đất xung quanh, cắm cọc giữ chặt cây con. Sau đó dùng rơm hay cỏ khô đậy kín cây con. Tưới nước giữ ẩm cho cây con mỗi ngày một lần và che mát cho cây nếu nắng khô và cây còn yếu.
2.6. Phân bón và kỹ thuật bón phân:
2.6.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)
Bảng 1. Liều lượng phân bón trên cây ổi thời kỳ kiến thiết cơ bản (mật độ 1.111 cây/ha)
Thời kỳ bón | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | Lượng thương phẩm (kg/ha/năm) | Số lần bón/năm | |||||
Hữu cơ (tấn) | N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali Clorua | ||
Năm 1 | 13– 15 | 65 | 19 | 70 | 140 | 115 | 117 | Bón 4 lần |
2.6.2. Thời kỳ kinh doanh
Bảng 2. Liều lượng phân bón trên cây ổi thời kỳ kinh doanh (mật độ 1.111 cây/ha)
Thời kỳ bón | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | Lượng thương phẩm (kg/ha/năm) | Số lần bón/năm | |||||
Hữu cơ (tấn) | N | P2O5 | K2O | Ure | Super Lân | Kali Clorua | ||
Năm thứ 2 trở đi | 13 – 15 | 129 | 42 | 135 | 280 | 255 | 225 | Bón 4 lần |
2.6.3. Kỹ thuật bón phân
Vôi: bón 2 – 4 kg cây/năm để điều chỉnh pH của đất nếu cần thiết (bón trước hoặc sau 20 ngày khi bón các loại phân khác).
Phân hữu cơ và hữu cơ vi sinh: Rải đều trên phần đất dưới tán chiếu từ mép tán vào 0,5 m, xới nhẹ 5 – 10 cm, tưới đẫm nước.
Phân vô cơ: Rải đều lên phần đất dưới tán chiếu từ mép tán vào 0,5 m, xới nhẹ đất để trộn phân vào đất rồi tưới đẫm nước để thấm vào đất hoặc pha phân vô cơ với nước (10%) để tưới sau đó tưới đẫm nước. Sau khi bón phân có thể tủ đất bằng tàn dư thực vật.
Phân trung lượng: kết hợp với phân đa lượng hay sử dụng riêng lẽ, giúp tăng đậu trái, cành mang trái chắc khỏe,... Một số dạng phân như: Super canxi, phân bón lá kích thích ra hoa, đậu quả,...
Phân vi lượng (Boron, kẽm,...): Chủ yếu ở dạng phân bón lá và được phung qua kết hợp với các lần thuốc sâu (không chung với thuốc trừ bệnh) giúp tăng đậu trái, cuống trái dai, trái ít dị dạng.
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản:
Hạng mục | Ure (%) | Super lân (%) | Kali Clorua (%) | Thời gian bón |
Bón lót | 100 | |||
Bón thúc | ||||
Lần 1 | 25 | 25 | Bón 4 đợt/năm, 3 tháng bón 1 lần | |
Lần 2 | 25 | 25 | ||
Lần 3 | 25 | 25 | ||
Lần 4 | 25 | 25 |
- Thời kỳ kinh doanh:
Hạng mục | Ure (%) | Super lân (%) | Kali Clorua (%) | Thời gian bón |
Lần 1 | 20% | 50% | 20% | sau khi thu hoạch tập trung |
Lần 2 | 30% | 50% | 20% | 2 tháng sau bón đợt 1 |
Lần 3 | 30% | 30% | 2 tháng sau bón đợt 2 | |
Lần 4 | 20% | 30% | 2 tháng sau bón đợt 3 |
2.7. Chăm sóc
2.7.1. Làm cỏ
Thường xuyên làm có xung quanh gốc cây. Sử dụng dụng cụ thủ công hoặc máy cắt cỏ trong vườn không để cỏ cạnh tranh dinh dưỡng với cây.
2.7.2. Tưới nước
Sử dụng hệ thống tưới tự động để chủ động việc tưới cho cây. Số lần tưới vào mùa nắng 2 ngày/ lần, tưới đủ ẩm giúp cây sinh trưởng tốt. Vào mùa mưa, cần căn cứ vào số ngày không mưa (3 - 4 ngày) để tưới bổ sung cho cây, tránh cho cây bị thiếu nước.
2.7.3. Tạo hình, tạo tán
Trong năm đầu tiên, thường xuyên bấm ngọn tạo cây có tán tròn đều, có nhiều cành cấp 1, 2 và 3. Những năm tiếp theo thường xuyên bấm tỉa cành tạo bộ khung chắc với nhiều cấp cành nhưng tán thấp (<1,5 m). Cành chưa có hoa, bấm ngọn để lại 4 cặp lá. Cành đã có hoa, bấm ngọn để lại 2 cặp lá phía trên hoa. Bấm cành đã chuyển màu nâu hay khi 2 cặp lá phía trên hoa đã thành thục.
2.7.4. Xử lý ra hoa
cây ổi có thể ra hoa và cho trái quanh năm, tuy nhiên cần xử lý ra hoa để tạo ra sản lượng tập trung nhằm tránh sâu bệnh phá hại và có giá trị cao vào một thời điểm nhất định.
Kỹ thuật bấm đọt xử lý ra hoa:
Cành ổi chưa ra hoa: dung kéo bấm bỏ đọt chừa lại 3 cành lá kép
Cành ổi ra 1 cặp nụ hoa và cây có nhiều cành mang trái: bấm bỉ đọt nhưng chừa phía trên cặp hoa đó một cặp lá để có thể ra thêm một nụ mới
Cành ổi có đủ 2 cặp nụ và nhiều cành không cho trái thì cắt đọt trên cặp nụ 2, không chừa cặp lá nào nữa để cành ổi có thể tập trung dinh dưỡng nuôi trái
Việc bấm đọt được tiến hành thường xuyên 1-2 tuần/ lần.
2.7.5. Bao trái
Trước khi bao trái 1- 2 ngày cần phun thuốc phong ngừa sâu bệnh hay tỉa bỏ trái dị dạng, bị bệnh gâp hại. Thời gian bao trái tốt nhất khi trái có đường kính 2,0 - 2,5 cm. Vật liệu bao trái chuyên dung và kết hợp với túi lưới xốp.
2.8. Phòng trừ sâu, bệnh hại
2.8.1. Quản lý dịch hại tổng hợp
- Thăm đồng thường xuyên để phát hiện sớm sâu bệnh, có thể ngắt bỏ ổ trứng hoặc tiêu diệt sâu non mới nở. Tiến hành cắt tỉa lá già, lá bệnh trong điều kiện thời tiết khô ráo để ngăn cản bệnh phát triển.
- Sử dụng bẫy xanh, bẫy vàng, kích thước 20 x30cm đặt so le với khoảng cách 3m trên luống ở độ cao 15-20cm so với ngọn cây để dẫn dụ, tiêu diệt trưởng thành bọ trĩ, ruồi đục lá hại hành. Chú ý việc sử dụng bẫy dính chỉ có hiệu quả khi triển khai đồng loạt.
- Dùng màng phủ màu ánh bạc và màu trắng để ngăn cản bọ trĩ gây hại. - Bảo vệ và phát triển các quần thể thiên địch tự nhiên sẵn có trên ruộng hành tây như bọ đuôi kìm; bọ rùa, nhện ăn thịt (Amblyseius sp.), ong ký sinh Opius sp. bằng biện pháp duy trì mật độ các loài dịch hại như sâu xanh, bọ trĩ, ruồi đục lá ở mật độ thấp dưới ngưỡng gây hại kinh tế làm thức ăn cho thiên địch.
- Trồng hoa xung quanh ruộng (đặc biệt là các loài hoa có mật như hoa cứt lợn, cúc cánh bướm, lạc dại) để hấp dẫn thiên địch đến cư trú và phát triển. - Không sử dụng thuốc BVTV tùy tiện, chỉ sử dụng khi thật cần thiết ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu bệnh hại hành như:
+ Sử dụng Trichoderma sp. (Promot Plus WP, Biobus 1.00 WP) rải vào đất để phòng trừ bệnh thối trắng, lở cổ rễ.
+ Sử dụng Azadirachtin + Matrine (Lambada 5EC); Emamectin benzoate
+ Petroleum oil 245g/l (Comda 250EC) để phòng trừ sâu xanh da láng;
+ Sử dụng Matrine (Sokupi 0.36AS); Petroleum spray oil (SK Enspray 99 EC) phòng trừ bọ trĩ.
2.8.2. Sâu hại
a) Rầy phấn trắng (Aleurodicus dispersus)
* Đặc điểm gây hại:
- Rầy trưởng thành ban ngày đậu ở mặt dưới lá hoạt động nhiều vào sáng sớm và chiều mát, có động thì bay lên cao. Rầy trưởng thành và rầy non chích hút nhựa cây chủ yếu là ở ngọn và các lá non, làm lá có các đốm hoặc vệt màu vàng, mật độ rầy cao có thể làm vàng cả lá, chỉ gân lá còn xanh. Rầy trưởng thành đẻ trứng thành một vòng xoắn ốc ở mặt dưới lá, vòng trứng được che phủ bởi những lông sáp trắng mịn. Một con cái đẻ khoảng 15 - 30 trứng. Chất mật ngọt do rầy tiết ra là môi trường cho nấm muội đen phát triển, ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây.
- Vòng đời 25 - 40 ngày (phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường), trong đó thời gian phát dục trứng 06 - 07 ngày, rầy non 15 - 30 ngày, rầy trưởng thành 14 ngày. Trong tự nhiên rầy cũng có nhiều loài thiên địch, chủ yếu là bọ rùa ăn thịt và ong ký sinh.
* Biện pháp phòng trừ
- Vệ sinh tàn dư thực vật và cỏ dại quanh vườn, cắt tỉa đảm bảo độ thông thoáng.
- Ngắt bỏ ổ trứng, tập trung tiêu hủy.
- Tưới nước rửa trôi “Ổ” của rầy để phá tan nơi “Cư trú” của chúng.
- Hiện chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây ổi. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất Imidacloprid, Thiamethoxam để phòng trừ rệp.
b) Rệp sáp phấn (Planococcus minor, P.lilacinus, P. sp., Pseudococcus sp.)
* Đặc điểm gây hại:
- Rệp tập trung thành đám ở mặt dưới lá và trên trái, hút nhựa làm cho lá bị quăn, biến vàng, trái còn nhỏ thì bị rụng hoặc phát triển kém. Chỗ có rệp thường có nấm bồ hóng đen phát triển làm giảm giá trị của quả.
- Vòng đời trung bình 25 - 30 ngày. Rệp phát sinh quanh năm, thường vào các tháng mùa khô, nắng nóng.
* Biện pháp phòng trừ:
- Khi rệp phát sinh ít dùng biện pháp thủ công bắt giết.
- Có thể phun rửa tán lá bằng nước pha nước rửa chén với áp lực phun xịt cao.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho kiến vàng sinh sống và phát triển.
- Khi mật số rệp dày đặc có thể sử dụng hoạt chất Natural rubber (Map Laba 10EC) để phòng trừ.
c) Sâu đục quả (Conogethes punctefiralis)
* Đặc điểm gây hại:
Bướm hoạt động ban đêm, ban ngày ẩn trong tán lá. Mỗi bướm cái đẻ 20 - 30 trứng. Sâu non đục vào quả từ khi quả còn nhỏ cho đến khi gần thu hoạch. Quả non bị đục sẽ bị biến dạng, khô và rụng. Quả lớn thì bị thối. Triệu chứng để nhận diện là từng đám phân màu nâu đậm do sâu thải ra bên ngoài lỗ đục.
* Biện pháp phòng trừ:
- Thu gom tiêu hủy những quả bị hư.
- Sau khi thu hoạch vệ sinh cho vườn thông thoáng.
- Áp dụng biện pháp bao trái để hạn chế tác hại của sâu đục quả.
- Hiện chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây ổi. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất Abamectin, Emamectinbenzoate,Spinetoram.
d) Ruồi đục quả (Bactrocera dorsalis)
* Đặc điểm gây hại:
- Ruồi trưởng thành hoạt động ban ngày, có khả năng bay xa. Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chọc sâu vào vỏ trái khoảng 5 mm rồi đẻ một chùm 05 - 10 trứng vào đó. Vết chích rất nhỏ nhưng có thể nhận ra được nhờ vết mủ khô màu nâu trên mặt vỏ trái. Một con cái đẻ 100 - 200 trứng. Sau khi nở, dòi đục ăn trong trái, tuổi càng lớn càng đục sâu vào phía trong làm trái bị thối và rụng. Bị hại nặng trái rụng hàng loạt. Trong 01 quả có thể có nhiều con dòi phá hại. Khi trưởng thành, dòi chui ra khỏi trái rơi xuống đất hóa nhộng ở độ sâu 03 - 07 cm. Vòng đời trung bình 20 - 30 ngày, trong đó thời gian trứng 02 - 03 ngày, dòi 10 - 15 ngày, nhộng 07 - 10 ngày, ruồi trưởng thành đẻ trứng 01 - 02 ngày sau khi bắt cặp và có thể sống trên 01 tháng.
- Ruồi phá hại chủ yếu trên quả gần chín đến chín, là đối tượng quan trọng nhất trên cây ổi.
* Biện pháp phòng trừ:
- Thu hoạch kịp thời, không để quả chín lâu trên cây.
- Thường xuyên thu nhặt các quả bị rụng, quả có dòi đem tiêu hủy để diệt dòi, hạn chế mật độ ruồi ở các lứa sau.
- Tỉa bỏ cành già, cành tăm, cành bị sâu bệnh... để vườn luôn được sạch sẽ và thông thoáng.
- Có thể tự làm bẫy bả ruồi bằng cách dùng quả chín như: Cam, quýt, dứa, táo có tẩm thuốc sâu rồi đặt trên cành cây.
- Sử dụng thuốc có hoạt chất Spinosad (Akasa 25SC, 250WP, Success 25SC), Methyl Eugenol 90% + Naled 5% (Flykil 95EC), Protein thuỷ phân (Ento-Pro 150SL)
2.8.3. Bệnh hại
a) Bệnh muội đen (bồ hóng - Capnodium sp.)
* Triệu chứng gây bệnh: nấm tạo thành các lớp bụi đen trên lá và quả. Nấm không phá hại tế bào và có thể tự bong tróc ra khi trời khô khô, nóng. Tuy vậy sự phát triển của nấm phần nào ảnh
* Biện pháp phòng trừ: chủ yếu là trừ rầy, rệp không cần phun thuốc trừ nấm. Ngoài ra có thể rửa sạch quả bị muội đen. Khi có bệnh hạn chế phun phân bón lá.
b) Bệnh thán thư (Glomerella psidii)
* Triệu chứng gây bệnh:
- Bệnh gây hại ở lá, ngọn, hoa và quả. Trên lá nấm tạo thành các đốm bênh màu tím ở giữa hoặc ở bìa, chóp lá làm cho lá bị cháy thành từng mảng. Ngọn cây bị nấm gây hại biến màu nâu thẫm lan dần xuống phía dưới làm ngọn khô, quăn, lá rụng, trời ẩm sinh các ổ nấm màu đen.
- Nấm có thể hại quả từ khi còn non, lúc đầu là những đốm đen nhỏ như đầu kim, về sau phát triển thành đốm tròn màu nâu thẫm, lõm vào thịt quả, giữa vết bệnh có các hạt nhỏ màu đen là các ổ bào tử. Các vết bệnh nối liền nhau, vùng quả bị bệnh trở nên cứng, sù sì như những vết ghẻ. Quả bị bệnh biến dạng và dễ rụng, giảm phẩm chất nghiêm trọng. Bệnh phát triển nặng vào mùa mưa, mầm bệnh có thể tiềm ẩn hơn 03 tháng trên trái non, bắt đầu hoạt động và gây thối khi trái bắt đầu già, chín.
* Biện pháp phòng trừ:
- Xử lý hết nguồn bệnh trước khi trồng mới hoặc sau thu hoạch cần tỉa cành tạo tán cho cây thông thoáng. Thu dọn tiêu hủy tàn dư cây bệnh để tránh lây lan.
- Dùng vôi bột để xử lý đất, phun phòng bằng thuốc các thuốc có gốc đồng khi ẩm độ vườn cao.
- Khi bệnh phát sinh phun các thuốc gốc đồng.
- Hiện chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây ổi. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất Azoxystrobin; Chlorothalonil để phòng trừ.
c) Bệnh thối quả (bệnh thối nâu trái - Phytophthora parasitica)
* Triệu chứng gây bệnh: Bệnh phát triển trong thời tiết mát, ẩm độ không khí cao hoặc mưa nhiều, cây có cành lá rậm rạp. Các vết chích hút của sâu trên quả tạo điều kiện cho bênh phát triển mạnh.
* Biện pháp phòng trừ:
- Vệ sinh vườn cây, tỉa bớt cành lá cho thông thoáng, thu gom quả bị bệnh tiêu hủy.
- Hiện chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây ổi. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất Metalaxyl, Fosetyl Aluminium.
III. Thu hoạch, sơ chế, chế biến và bảo quản
Thu
hoạch
Thu hoạch đúng độ chín, khi vỏ quả chuyển từ màu xanh sáng xanh vàng, quả đang cứng chuyển sang giòn, mềm, cùi có mùi vị thơm. Thu quả vào buổi sáng hoặc buổi chiều, trời mát, không mưa, tránh thu hái vào giữa trưa khi trời quá nóng. Quả thu hoạch xong cần đặt vào sọt, giỏ sạch, tránh tiếp xúc với đất, bảo quản nơi râm mát để đưa đến nơi tiêu thụ
Sử dụng kéo cắt quả để tránh xước cành, ảnh hưởng đến các đợt quả chồi và khả năng ra quả tiếp theo.
Sơ chế,
chế biến
Ổi là một trong những loại cây ăn quả được sử dụng phổ biến ở nước ta hiện nay và rất quen thuộc trong đời sống hàng ngày. Một số sản phẩm chế biến từ quả ổi, búp ổi: trà, mứt, siro rượu,…
B
ảo quả
n
Ổi là loại quả khá là nhanh chín khi đã được thu hoạch nên nếu như không có biện pháp tác động sẽ rất nhanh hỏng. Nhiệt độ thích hợp nhất để bảo quản ổi tươi là khoảng từ 5 đến 15 độ C. Không nên để ổi gần những loại quả đang chín bởi sẽ sẽ khiến ổi nhanh chín và nhanh hỏng hơn.
* Yêu cầu tối thiểu về chất lượng ổi tươi:
Tùy theo các yêu cầu cụ thể cho từng hạng và sai số cho phép, ổi quả tươi phải:
- Nguyên vẹn;
- Lành lặn, không bị thối hỏng hoặc dập nát đến mức không phù hợp để sử dụng;
- Sạch, không có tạp chất lạ nhìn thấy bằng mắt thường;
- Không bị sinh vật hại gây ảnh hưởng đến hình thức bên ngoài của sản phẩm;
- Không bị hư hỏng bởi sinh vật hại;
- Không bị ẩm bất thường ở ngoài vỏ, trừ khi bị ngưng tụ nước do vừa đưa ra khỏi kho lạnh;
- Không có mùi và/hoặc vị lạ;
- Rắn chắc;
- Không có vết thâm.
* Yêu cầu về bao gói:
Ổi quả tươi phải được bao gói sao cho bảo vệ được sản phẩm một cách phù hợp. Vật liệu được sử dụng bên trong bao bì phải mới, sạch và có chất lượng tốt để tránh được mọi nguy cơ hư hại bên trong hoặc bên ngoài sản phẩm. Cho phép sử dụng vật liệu giấy hoặc tem liên quan đến các yêu cầu thương mại với điều kiện là việc in nhãn hoặc dán nhãn phải sử dụng mực in hoặc keo dán không độc.