Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây mít

Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .

Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên mít.

Dịch hại thường gặp và thuốc đã đăng ký phòng trừ

Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.

Dịch hạiSố thuốc đã đăng ký
Nứt thân xì mủ2
Thán thư1
Xì mủ1

Nội dung quy trình kỹ thuật

QUY TRÌNH

Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây mít trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

(Ban hành kèm Quyết định số/QĐ-UBND, ngày //2024 của UBND

tỉnh Lâm Đồng)

I. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật

1.Thời gian kiến thiết cơ bản (KTCB): 02 năm (01 năm trồng mới + 01 năm chăm sóc)

2. Thời kỳ kinh doanh: 6-10 năm, tính từ năm thứ 3.

3. Chu kỳ kinh doanh:chu kỳ kinh doanh từ 812 nămtùy theo vào thực tế kỹ thuật thâm canh.

4. Mục tiêu năng suất: đạt khoảng từ 20-30 tấn/ha.

II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh

1. Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa

- Nhiệt độ thích hợp cho cây mít từ 200C - 320C. nhiệt độ quá thấp sẽ gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây.

- Độ ẩm: cây mít thích hợp độ ẩm từ 70-75%, độ ẩm chủ yếu tác động vào thời kỳ ra hoa, đậu trái, các giai đoạn khác ít ảnh hưởng.

- Lượng mưa: cây mít thích hợp ở lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.000 2000mm.

2. Độ cao và gió

Cây mít thường nằm trong khoảng 400 - 1200m so với mực nước biển. Cây mít có thể chịu được gió, nhưng nếu gió quá mạnh có thể làm gãy cành hoặc đổ cây, đặc biệt là khi cây còn non.

3. Ánh sáng: Mít là cây ưa sáng, ánh sáng trong khoảng 2.000-2.500 giờ/năm là thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển.

4. Đất đai: cây mít phù hợp trồng và sinh trưởng tốt trên những loại đất tơi xốp, giàu dinh dượng và thoát nước tốt. Độ pH từ 6,5-7,5 là phù hợp nhất cho cây sinh trưởng tốt.

III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

1. Giống và tiêu chuẩn cây giống

1.1. Giống

Chỉ sử dụng các giống mít được cấp có thẩm quyền công nhận, được phép sản xuất, kinh doanh. Các giống mít được trồng phổ biến hiện nay gồm: Mít nghệ, mít ruột đỏ, mít Thái Changai, mít Viên Linh, …

1.2. Kỹ thuật nhân giống

* Nhân giống bằng phương pháp chiết cành: Mùa chiết thường là mùa mưa, cành chiết được chọn trên những cây còn trẻ (khoảng 18 - 24 tháng tuổi), đã hóa gỗ, đường kính cành chỗ bó phải được 1 cm trở lên. Khoanh vỏ bóc đi rộng 4 - 5 cm.

- Cạo tầng sinh gỗ dưới vỏ để khô 01 - 02 ngày rồi dùng rơm hoặc xơ dừa, bó quanh nơi đã bóc vỏ. Dùng bọc nilon bó lại và dùng dây buộc chặt lại.

- Nếu có chất kích thích sinh trưởng, bôi vào miệng vết cắt, phía trên, nơi rễ sẽ đâm ra thì tỷ lệ sống có thể lên đến 100%, rễ ra vừa nhanh vừa nhiều. Không có chất kích thích, rễ ra chậm, tỷ lệ sống thấp hơn. Khoảng 70 - 80 ngày sau khi rễ đã xuất hiện phía ngoài bầu chiết thì bắt đầu đem trồng vào vườn giâm hoặc vào chậu, vào túi nilon để ở chỗ râm mát. Chú ý tưới nước thường xuyên để giữ ẩm. Khoảng 01 - 02 tháng sau, khi đã có rễ thứ sinh thì có thể đem trồng ra vườn.

* Nhân giống bằng phương pháp ghép

- Ghép áp cành: Chọn gốc ghép độ sáu tháng tuổi dùng dao vát chéo hai bên rồi nêm xiên vào tược của các giống mít ngon, cột dây lại, sau ba tháng thì cắt rời khỏi cây mẹ, dưỡng một tháng nữa rồi đem trồng.

- Ghép mắt: Mở cửa sổ, bóc bỏ mảnh gỗ dính với mắt. Nên lấy mắt ở cành già, ít nhất trên mười hai tháng tuổi, thời gian ghép tốt nhất vào tháng 11 - 12 dương lịch.

1.3. Tiêu chuẩn cây giống

- Cây mít giống phải đảm bảo tính đúng giống

- Tuổi cây đạt 4 - 5 tháng tuổi sau khi ghép

- Cây sinh trưởng, phát triển tốt và đạt các yêu cầu về hình thái, như:

+ Thân gốc ghép thẳng, đường kính 0,8 - 1,3cm, vỏ không bị thương tổn, không bị dập, sùi

+ Vết ghép tiếp hợp tốt và cách mặt bầu ươm 20 - 40cm

+ Cổ rễ và rễ cọc thẳng, bộ rễ phát triển tốt, có nhiều rễ tơ.

+ Thân cây ghép thẳng, chiều cao tính từ mặt bầu ươm đến đỉnh chồi đạt từ 60cm và đường kính thân (vị trí trên vết ghép) từ 0,8cm trở lên, chưa phân cành, có trên 9 lá, lá ngọn thành thục, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng giống.

+ Cây không bị nhiễm các loại sâu bệnh hại.

2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

2.1. Thời vụ trồng

Nếu chủ động nước tưới thì có thể trồng mít quanh năm, nhưng tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa khi đã mưa đều và kết thúc trước mùa khô khoảng 2 - 2,5 tháng. Không nên trồng lúc mưa dầm vì cây sẽ chậm phát triển hoặc chết do nghẹt rễ. Thời vụ trồng khuyến cáo từ 15/5 dương lịch và kết thúc trước 15/8 dương lịch.

2.2. Mật độ và khoảng cách trồng

- Trồng thuần: Mít là cây ưa sáng, cần nhiều ánh sáng cho cây sinh trưởng và phát triển, kháng sâu bệnh. Mật độ trồng 400 cây/ha (khoảng cách 5m x 5m), mật độ trồng 333 cây/ha (khoảng cách 5m x 6m); mật độ trồng 238 cây/ha (khoảng cách 6m x 7m). Đất cằn cỗi nên trồng dầy, đất tốt nên trồng thưa.

- Trồng xen cà phê: có thể trồng với mật độ từ 69 - 123 cây/ha với các khoảng cách sau: 9 x 9m (mật độ 123 cây/ha); 9 x 12m (mật độ 93 cây/ha); 9 x 15m (mật độ 74 cây/ha) hay 12 x 12m (mật độ 69 cây/ha).

2.3.Chuẩn bị đất:Chọn đất cao ráo, dễ thoát nước, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình và đất giàu mùn. Đất trước khi trồng cần cày sâu, nhặt sạch cỏ dại.

2.4. Đào hố, bón lót

- Đào hố: Đào hố trồng với kích thước 60cm x 60cm x 60cm; đất xấu đào hố với kích thước 70cm x 70cm x 70cm (dài x rộng x sâu).

- Bón lót: Mỗi hố bón 15 - 20kg phân hữu cơ ủ hoai + 0,5kg super Lân + 0,5 kg vôi bột trộn đều với lớp đất mặt và lấp đầy hố. Việc bón lót phải được hoàn thành tối thiểu 20 ngày trước khi trồng cây

2.5.Kỹ thuật trồng

- Dùng cuốc đào một lỗ nhỏ thẳng đứng từ trên xuống dưới và bóc túi nilon ra. Sau đó vun đất vào gốc và ấn nhẹ xung quanh.

- Đất có độ dốc thấp trồng mặt bầu ngang với mặt đất, đất có độ dốc cao trồng mặt bầu thấp hơn mặt đất từ 20 - 30 cm. Sau đó cắm cọc để cố định cây con, nếu đất khô phải tưới và ủ ẩm cho cây.

2.5. Phân bón và kỹ thuật bón phân

2.5.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB):

Tuồi cây

Lượng nguyên chất (kg/ha)

Lượng phân bón

(kg/ha)

Vôi (kg)

Phân hữu cơ sinh học (kg)

N

P2O5

K2O

Urê

Super lân

Clorua kali

1

200

100

100

434

606

167

400

3.000

2

240

240

240

520

1.454

400

400

3.000

3

240

240

240

520

1.454

400

-

3.000

(Lượng phân bón trên áp dụng cho mật độ trồng thuần 400 cây/ha)

- Số lần bón:

+Lần 1 vào đầu mùa mưa: 50% lượng phân đạm và kali kết hợp 100% vôi và lân.

+Lần 2 vào cuối mùa mưa: Bón lượng còn lại.

- Cách bón: Bón cách cây 30 - 50 cm. Khi cây có tán, vét rãnh quanh tán sâu 10 - 15 cm,rộng từ 20 - 30cmrãi phân xuống rãnh sau đó lấp đất để tránh mất phân.

2.5.2. Thời kỳ kinh doanh: từ năm thứ 4 trở đi

Tuổi cây

Lượng nguyên chất (kg/ha)

Lượng phân bón (kg/ha)

Phân hữu cơ sinh học (kg)

N

P2O5

K2O

Urê

Super lân

Clorua kali

Thời kỳ kinh doanh (>4 tuổi)

280

280

280

608

1.697

468

3.000

(Lượng phân bón trên áp dụng cho mật độ trồng thuần 400 cây/ha)

- Số lần bón:

+ Lần 1 (ngay sau khi kết thúc thu hoạch trái vụ trước): kết hợp với tạo tán tỉa cành và sửa bồn vun xới gốc. Bón 50% phân lân để phục hồi bộ rễ.

+ Lần 2 (trước khi ra hoa): 25% đạm + 20% lân + 30% kali nhằm mục đích kích thích hình thành mầm hoa.

+ Lần 3 (khi mới đậu trái): 40% đạm + 15% lân + 30% kali.

+ Lần 4 (trước thu hoạch lứa trái đầu khoảng 30 ngày): 35% đạm + 15% lân + 40% kali.

- Cách bón: Vét rãnh quanh tán sâu 15 - 20 cm, rãi phân xuống rãnh sau đó lấp đất để tránh mất phân.

2.6. Chăm sóc

2.6.1. Làm cỏ

- Làm cỏ 3 - 4 lần trong năm trên toàn bộ diện tích;

- Đối với đất dốc làm cỏ theo băng, không làm cỏ trắng toàn bộ diện tích;

- Không khuyến cáo sử dụng thuốc diệt cỏ.

Khi cây ở giai đoạn nhỏ, trong mùa khô cần dùng cỏ khô, rơm rạ phủ gốc để giữ ẩm cho cây, nên phủ cách gốc 10 - 15cm tùy độ lớn của cây.

2.6.2. Tưới nước

- Kỹ thuật tưới lúc mới trồng: Nếu trồng trong mùa khô phải tưới nước thường xuyên từ 02 - 03 ngày ít nhất trong một tháng đầu. Trồng trong mùa mưa, nếu trời không mưa phải để ý đến việc tưới nước. Cây mít khi còn nhỏ nếu thiếu nước cây sẽ chết. Ngược lại, trong mùa mưa nếu đất xung quanh gốc cây bị ẩm đọng nước cây con cũng bị chết vì bộ rễ thiếu dưỡng khí và thối rễ.

- Sử dụng phương pháp tưới gốc và tưới tiết kiệm. Không áp dụng kỹ thuật tưới tràn.Lượng nước và chu kỳ tưới như sau:

Lượng nước tưới

Số lần tưới

Chu kỳ tưới

Tưới gốc (lít/gốc/lần)

Tưới tiết kiệm (lít/gốc/lần)

(Lần)

(ngày)

450 – 500

400 - 450

3

30 - 35

2.6.3.Tạo hình

- Tỉa cành: Tỉa những cành sâu bệnh, cành trong tán để cây thông thoáng nhằm tăng năng suất và có hình dáng cân đối, cành phân bố đều quanh thân. Tiến hành tỉa cành khi cây cao khoảng 1m trở lên, cây còn nhỏ tỉa cành, tạo tán 2 lần/năm. Cây lớn mỗi năm một lần khi thu hoạch trái xong. Cách tỉa cành mít như sau:

+ Tỉa bỏ bớt các cành cấp 2, cấp 3, cành bị sâu bệnh, cành trong tán, ... cho cây thông thoáng và cân đối.

+ Cắt bỏ các cành gần sát mặt đất, giữ lại cành cấp 1 cách gốc khoảng 2m trở lên (cành đầu tiên kể từ mặt đất phải cao hơn cây cà phê 50cm), chọn các cành mọc theo các hướng khác nhau, cành trên cách cành dưới khoảng 40 - 60cm, tạo thành tầng không quá 4 cành cấp 1.

2.6.4. Tỉa trái: Tùy theo giống và điều kiện chăm sóc mà cách tỉa trái khác nhau. Tuy nhiên, cần tỉa trái theo nguyên tắc: tỉa bớt trái xấu, trái sâu bệnh, trái nhỏ, trái méo méo, gai không đều và cả những trái bình thường nếu số lượng trái quá nhiều để đảm bảo mật độ trái phù hợp và khả năng nuôi trái của từng cây.

2.7.Phòng trừ sâu, bệnh hại

2.7.1. Biện pháp phòng trừ tổng hợp

a) Biện pháp canh tác

- Luôn vệ sinh vườn, dọn sạch cỏ rác, tàn dư thực vật khác và xử lý cách xa vườn trồng.

- Cây giống: Chọn cây giống sạch bệnh, cây giống đạt tiêu chuẩn, độ đồng đều cao, phát huy ưu điểm của giống, sức sống khỏe, năng suất cao.

- Mật độ trồng hợp lý, trồng xen cây che bóng và kỹ thuật chăm sóc kịp thời: Trồng với mật độ thích hợp đúng theo quy định, tránh trồng dày sẽ tạo ẩm độ cao tạo điều kiện nấm bệnh phát triển.

- Sử dụng phân bón đầy đủ, cân đối, hợp lý và đúng giai đoạn (cung cấp đầy đủ chất hữu cơ, các nguyên tố đa, trung, vi lượng cho cây) tránh tình trạng bón thừa chất này hoặc thiếu chất kia để giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, tăng sức đề kháng với dịch hại.

- Áp dụng các biện pháp canh tác khác như làm bồn, tỉa cành, tạo tán hợp lý cho vườn cây, tưới nước đầy đủ và đúng thời điểm trong mùa khô, chống ngập úng trong mùa mưa, thu hái kịp thời những trái chín, ... để giúp cây khỏe tăng sức đề kháng với dịch hại.

- Phát hiện kịp thời dịch hại trên đồng ruộng: kiểm tra thường xuyên vườn cây, phân tích và xác định mức độ nhiễm dịch hại vào các giai đoạn thời tiết có nguy cơ ảnh hưởng đến sâu bệnh hại phát triển.

b) Biện pháp cơ giới vật lý

Loại trừ các đối tượng dịch hại bằng các biện pháp như: cắt, nhổ bỏ, tiêu hủy các bộ phận hoặc cây bị sâu bệnh hại nặng, tiêu diệt bằng tay các loại sâu hại với mật độ thấp. Sử dụng đèn để bẫy các loại côn trùng gây hại.

c) Biện pháp sinh học

Bảo vệ và sử dụng thiên địch, vi sinh vật có ích như bọ rùa đỏ (Rodolia sp.), bọ mắt vàng, nhện, nấm Trichoderma…; duy trì môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật có ích; sử dụng các loại thuốc sinh học trong phòng trừ dịch hại.

d) Biện pháp hóa học

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là biện pháp cuối cùng trong hệ thống kỹ thuật bảo vệ thực vật, khi các biện pháp kể trên không có hiệu quả hoặc hiệu quả quá thấp, sâu hại phát triển mạnh(mức độ phá hại của sâu bệnh vượt ngưỡng kinh tế) có nguy cơ làm giảm năng suất, chất lượng thì cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh hại, không để phát triển thành dịch.

Không sử dụng thuốc hóa học tùy tiện, chỉ nên sử dụng các loại thuốc có phổ tác động hẹp, thuốc thế hệ mới phân giải nhanh, thuốc ít độc đối với thiên địch nhưng hiệu quả đối với các loài sâu bệnh hại. Ưu tiên sử dụng các loại thuốc thảo mộc và thuốc có nguồn gốc sinh học. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vậtphải theo nguyên tắc 4 đúng.Phun thuốc bảo vệ thực vậtphải đảm bảo thời gian cách ly thuốc. Chỉ sử dụng thuốc trong Danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam.

2.7.2. Sâu hại chính

a) Sâu đục quả (Glyphodes caesalis)

* Đặc điểm gây hại:Sâu có thể tấn công nhiều vị trí trên trái nhưng phổ biến nhất là chui chổ gần cuống trái. Sâu non mới nở đục ngay vào trái. Sâu phá hại từ khi trái còn rất non đến khi sắp chín. Sâu đục vào trong trái và ăn phần thịt nằm dưới vỏ trái. Sâu tấn công trên bất kỳ vị trí nào của trái, có thể đục từ trên cuống xuống hoặc có thể tấn công dưới đít trái. Sau khi đẩy sức, sâu chui ra ngoài trái kết phân khô thành kén và hóa nhộng bên trong kén. Trái bị hại vẫn phát triển nhưng ngay vết đục thường bị thối, sau đó khô đi, làm giảm giá trị thương phẩm của trái.

* Biện pháp phòng trừ

- Thu hoạch quả chín sớm hơn bình thường, không nên để quả chín lâu trên cây hấp dẫn sâu đục quả đến đẻ trứng.

- Vệ sinh vườn sạch sẽ, cắt tỉa cho cây thông thoáng hạn chế nơi trú ngụ của sâu. Thường xuyên thu gom, đào hố xử lý các quả thối, rụng cùng vôi bột để diệt hết trứng, dòi và nhộng tránh lây lan cho các lứa, vụ sau.

- Bao quả bằng túi chuyên dụng.

b) Ruồi đục trái (Bactrocera umbrosa)

* Đặc điểm gây hại: Sâu non đục vào trong quả, chỗ vết đục bên ngoài lúc đầu là 1 chấm đen, sau lớn dần có màu vàng rồi chuyển qua nâu. Bên trong quả, dòi đục thành đường hầm vòng vèo làm quả bị thối mềm, dễ rụng.

* Biện pháp phòng trừ:

- Thường xuyên vệ sinh vườn cây, thu gom tiêu hủy toàn bộ lượng trái mít bị thối rụng dưới gốc.

- Thu hái toàn bộ trái bị hại còn ở trên cây, đem ngâm trong nước hoặc xử lý vôi bột lấp đất lại diệt sâu non.

- Tỉa thưa vườn cây ở mật độ hợp lý và tỉa cành tạo tán thông thoáng cho cây nhằm hạn chế nơi trú ngụ của các loài bướm và ruồi trưởng thành.

- Bón đầy đủ, cân đối lượng phân theo quy trình hướng dẫn tạo cho cây khỏe, sinh trưởng, phát triển tốt, chống chịu với sâu bệnh hại.

-Bao quả bằng túi chuyên dùng cho cây ăn quả (lưu ý túi bao trái phải thoát được hơi và tránh đọng nước để không làm thối trái) và thu hoạch quả chín sớm hơn bình thường, không để quả chín quá lâu trên cây sẽ hấp dẫn ruồi đến đẻ trứng gây hại

* Biện pháp đặt bẫy bả và phun thuốc diệt ruồi vàng

- Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật như: Methyl Eugenol + Propoxur (Vizubon-P); Methyl Eugenol +Naled (Flykil 95EC); Protein thuỷ phân (Sofri Protein 10DD, Ento-Pro 150DD), Methyl Eugenol + Imidacloprid (Acdruoivang 900OL)để đặt bẫy và phun xịt dẫn dụ tiêu diệt ruồi vàng.

- Cách đặt bẫy: Bẫy được treo trên cây, nơi đầu gió và râm mát, cách mặt đất khoảng 1,5-2 mét để dẫn dụ ruồi bay vào. Mỗi bẫy cách nhau khoảng 50m, đặt 25 - 30 bẫy/ha (không treo bẫy ngoài nắng, thuốc sẽ giảm hiệu lực nhanh). Thay bông mới sau 15 ngày hoặc khi thấy ruồi không vào bẫy.

c) Bọ cánh cam (Anomala cupripes)

* Đặc điểm gây hại

- Sâu non sống trong đất, ăn xác cây mục nát và rễ cây. Bọ trưởng thành ban đêm ăn lá cây, mật độ cao có thể làm cây xơ xác ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây nhất là khi còn nhỏ.

- Thời gian 1 lứa từ 5 - 7 tháng, trong đó trứng 15 - 20 ngày, sâu non 100 - 150 ngày, nhộng 15 - 20 ngày, bọ trưởng thành sống 2 - 3 tháng.

* Biện pháp phòng trừ

- Trưởng thành bọ cánh cam có xu tính với ánh sáng mạnh, có thể sử dụng bẫy đèn cao áp từ 19 - 22 giờ đêm để thu bắt và tiêu diệt.

-Làm cỏ, vệ sinh vườn trồng cây, thu dọn tàn dư (lá rụng, lá già, cỏ dại, thực vật mục nát…) đem tiêu hủy để hạn chế trưởng thành đẻ trứng, ấu trùng sống và gây hại rễ cây.

- Trước khi trồng cây: ở những vùng đã bị bọ Cánh cam xanh gây hại cần cày sâu, làm đất kỹ, nhặt sạch cỏ dại, tàn dư cây trồng để hạn chế sự tồn tại của ấu trùng cánh cam.

- Hiện chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục để phòng trừ bọ cánh cam hại mít. Có thể tham khảo sử dụng một số hoạt chất như Abamectin, Pyrethrinsđể phòng trừ.

d) Rệp sáp phấn(Planococcus lilacinus)

* Đặc điểm gây hại:

- Rệp trưởng thành cái và rệp non tập trung thành đám ở mặt dưới lá và cuống quả hút nhựa làm cho lá biến vàng, quả còn nhỏ thì phát triển kém.

- Chỗ có rệp thường có nấm bồ hóng phát triển. Rệp phát sinh quanh năm, thường nhiều vào các tháng mùa khô, nắng nóng.

- Vòng đời trung bình: 25 - 30 ngày.

* Biện pháp phòng trừ

- Trồng với mật độ vừa phải, không quá dày để vườn luôn được thông thoáng.

- Vệ sinh vườn tược thường xuyên, cắt tỉa bỏ những cành bị sâu bệnh, cành nằm khuất trong tán lá tạo cho vườn luôn thông thoáng. Chăm sóc chu đáo để cây sinh trưởng và phát triển tốt, có sức chống đỡ với rệp.

- Dọn sạch cỏ rác, lá cây mục tủ ở xung quanh gốc để phá vỡ nơi trú ngụ của kiến.

- Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện và phun thuốc diệt trừ rệp kịp thời nhất là ở giai đoạn cây đang có bông, trái non, trái đang phát triển

- Hiện danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ rệp sáp hại cây mít. Nếu mật độ cao có thể tham khảo sử dụng một số hoạt chất thuốc sau để phòng trừ: Thiamethoxam, Petroleum oil, Imidacloprid, …

2.7.3. Bệnh hại chính

a) Bệnh đốm nâu (Phomopsis artocarpina)

* Triệu chứng gây bệnh:

- Bệnh gây hại chủ yếu trên lá. Vết bệnh hình tròn, lúc đầu nhỏ, màu nâu, sau lớn lên đường kính từ 10 - 15mm, ở giữa màu xám tro, trên đó có những hạt nhỏ màu đen xếp thành các đường vòng đồng tâm, đó là các ổ bào tử.

- Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ khoảng 25 - 280C, chết ở 510C trong 10 phút. Nấm tồn tại ở dạng sợi và bào tử ở trên lá bệnh.

* Biện pháp phòng trừ

- Chăm sóc, bón phân đầy đủ cân đối để cây sinh trưởng, phát triển tốt.

- Vệ sinh vườn sạch sẽ. Tiêu hủy triệt để tàn dư sâu bệnh trên đồng ruộng.

- Hiện chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục để phòng trừ bệnh đốm nâu hại mít. Có thể tham khảo sử dụng một số hoạt chất đã đăng ký phòng trừ bệnh đốm lá trên các loại cây ăn trái khác như Hexaconazole, Propiconazole để phòng trừ.

b) Bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor)

* Triệu chứng gây bệnh:

- Đầu tiên trên vỏ cây có đám sợi nấm màu trắng, sau chuyển màu hồng và lớn dần có thể bao phủ cả 1 đoạn cành, vỏ cây chỗ bị bệnh khô và nứt ra, lá héo và cả cành bị khô chết. Sợi nấm lúc đầu màu trắng, sau chuyển màu hồng.

- Vết bệnh thường xuất hiện chỗ cành giáp thân vì ở đây nước thường đọng lại, lâu khô thích hợp cho nấm phát triển.

- Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ 25 - 300C, vườn cây rậm rạp, trời âm u, mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển mạnh. Nấm tồn tại và lan truyền từ các cành bị bệnh.

* Biện pháp phòng trừ

- Cắt tỉa cành cho vườn cây thông thoáng, cắt bỏ và tiêu huỷ các cành bị bệnh.

- Chăm sóc, bón phân đầy đủ để cây sinh trưởng tốt tăng sức đề kháng với bệnh.

- Hiện chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục để phòng trừ bệnh nấm hồng hại mít. Có thể tham khảo sử dụng một số thuốc có hoạt chất Validamycin, Copper Oxychloride, Hexaconazole, ... để phòng trừ.

c) Bệnh thối trái (Phytophthora sp.)

* Triệu chứng gây bệnh

- Triệu chứng điển hình là trên mặt vỏ trái lúc đầu xuất hiện những vết bệnh màu nâu nhỏ sau đó lớn dần, lan khắp trái và ăn sâu vào thịt trái làm trái thối mềm và có mùi hôi, chua.

- Khi trời ẩm hoặc khi trái rụng xuống đất trên vết bệnh có lớp nấm như tơ trắng.

- Bệnh thường phát sinh trên trái già, chuẩn bị chín, phát triển mạnh trong mùa mưa trên những vườn cây ít thông thoáng.

Biện pháp phòng trừ

- Đối với bệnh thối trái biện pháp phòng sẽ có hiệu quả hơn là để bệnh phát triển rồi mới xử lý thuốc.

- Muốn hạn chế được bệnh nhất là trong mùa mưa cần lưu ý một số biện pháp sau:

+ Vệ sinh vườn cây thường xuyên, cắt bỏ những cành sâu bệnh, tạo cho vườn cây thông thoáng, nhiều ánh sáng. Thoát nước tốt cho cây trong mùa mưa.

+ Bón cân đối NPK, bón thêm phân chuồng hoai mục ,bón bổ sung phân Calcium Nitrate giúp cho cây tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, giúp vỏ trái cứng chắc, ít bị nứt nẻ và từ đó nấm bệnh khó có thể tấn công.

+ Khi thu hoạch trái cẩn thận không làm trái bị dập hay xây xát, không làm rụng cuống trái.

+ Nên thu hái trong những ngày nắng ráo. Tồn trữ trái ở nơi khô ráo, thoáng mát. Tránh ủ trái thành từng đống lớn.

- Hiện chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam để phòng trừ bệnh thối trái hại mít. Có thể tham khảo sử dụng một số loại thuốc đăng ký phòng trừ bệnh thối trái sầu riêng do Phytophthora sp. như Metalaxyl, Mancozeb, Fosetyl Aluminium.

d) Bệnh thối gốc, chảy mủ(Phytophthora palmivora)

* Triệu chứng gây bệnh

Bệnh thường gây hại trên thân đặc biệt là vùng gốc. Khi bị gây hại thìsẽ thấy xuất hiện triệu chứng nhựa màu đỏ nâuchảy ra từ thân cây, khi bóc lớp vỏ ở chỗ bị bệnh sẽ thấy phần gỗ phía dưới có màu hồng nhạt và có những đốm màu hơi tím, viền gợn sóng. Nếu không phát hiện sớm và phòng trừ kịp thời bệnh sẽ lan rộng ra xung quanh, sau vài tháng có thể bao kín hết cả chu vi gốc, làm cho rễ bị thối, lá trên ngọn bị vàng và rụng, sau đó các lá phía dưới cũng bị vàng và rụng dần làm cho cây bị chết.

- Bệnh thường gây hại nhiều trong mùa mưa, những vườn đất thấp ẩm ướt, cỏ rác, lá cây…chất đống xung quanh vùng gốc, làm cho vùng gốc luôn có độ ẩm cao, ngoài ra nếu trồng quá dày, tán lá rậm rạp vườn bị bệnh gây hại nhiều hơn. Do cùng là kí chủ của nấm P.palmivora nên những cây mít trồng lẫn trong các vườn sầu riêng, cạnh những vườn tiêu… cũng là những cây thường bị hại nhiều hơn những cây khác.

* Biện pháp phòng trừ

- Khi lập vườn trồng cần dọn sạch sẽ thân, cành, lá và nhất là rễ của cây trồng cũ trong vườn, đặc biệt là những cây thường bị loại nấm này gây hại.

- Vườn phải có hệ thống thoát nước tốt trong mùa mưa.

- Không nên trồng quá dày, thường xuyên cắt tỉa bỏ những cành bị sâu bệnh, cành tăm mọc trong tán, cành không có khả năng cho trái …vệ sinh sạch sẽ cỏ dại, không ủ cỏ rác xung quanh gốc để vườn luôn thông thoáng, khô ráo.

- Tăng cường bón thêm phân hữu cơ tạo thuận lợi cho những loại vi sinh vật đối kháng với nấm gây bệnh phát triển tốt

- Những cây đang bị bệnh cần giảm bớt lượng phân đạm. Nếu bị bệnh nặng có thể ngưng hẳn việc bón phân đạm, chờ đến khi hết bệnh mới bón đạm trở lại, đồng thời bón bổ sung thêm phân lân và kali.

- Hiện chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục để phòng trừ bệnh thối gốc, chảy mủ hại mít. Tham khảo sử dụng một số hoạt chất thuốc sau Metalaxyl, Mancozeb, Fosetyl Aluminium, ... để phòng trừ.

e) Bệnh xơ đen (Pantoea Stewartii)

* Triệu chứng gây bệnh

Hiện tượng xơ đen rất phổ biến trên cây mít siêu sớm. Khi bệnh tấn công gây hại sẽ làm cho trái bị méo mó, ảnh hưởng lớn đến chất lượng và độ ngọt của trái. Vi khuẩn phát triển và làm cho múi không thụ tinh được, hạt bị lép. Nếu vi khuẩn xâm nhập vào trái sau khi đã thụ tinh thì làm cho hạt non bị hư và chuyển thành màu đen.

Vi khuẩn Pantoea Stewartii gây bệnh xơ đen trên mít xâm nhập vào trái theo nước mưa bằng hai con đường: qua nướm hoa cái mở ra nhận phấn và con đường thứ hai là giữa trái đơn có khoảng hở, vi khuẩn theo nước mưa đi vào. Bên cạnh đó, sâu đục trái và các loại sâu khác cũng là tác nhân trung gian tạo vết thương hở trên trái để vi khuẩn và nấm tấn công.

Hiện tương xơ đen ở mít thường xuất hiện vào mùa mưa, mùa khô tương đối ít. Mít ra hoa vào tháng 5 âm lịch trở đi thì vi khuẩn gây bệnh xơ đen thường xuất hiện và gây hại. Vườn cây rậm rạp, ẩm thấp, không có hệ thống thoát nước tốt tạo điều kiện cho vi khuẩn phát sinh, gây hại.

Cây bị thiếu Canxi dễ nhiễm bệnh hơn.

* Biện pháp phòng trừ

Bón phân cân đối, đầy đủ cho cây đặc biệt là bổ sung canxi cho mít định kỳ và đúng liều lượng trong giai đoạn nuôi trái. Có thể bón phân Cancium nitrate cho cây định kỳ 1 tháng 1 lần với liều lượng 50 - 100g/gốc đồng thời kết hợp phun canxi qua lá định kỳ 15 - 20 ngày 1 lần trong giai đoạn nuôi trái.

Vườn trồng mít phải thoát nước tốt trong mùa mưa, chống xói mòn để đảm bảo độ phì cho đất. Thường xuyên vệ sinh, cắt tỉa cành để vườn thông thoáng hạn chế sâu bệnh hại.

Sử dụng miếng nylon làm mái che nước mưa lúc hoa cái chưa nhận phấn, sẽ hạn chế được vi khuẩn xâm nhập gây hại

Trong giai đoạn mùa mưa cần chủ động phun thuốc phòng trừ vi khuẩn gây bệnh xơ đen ở những vùng trồng mít có áp lực bệnh cao. Thuốc phải được phun ít nhất 3 lần vào các thời điểm: có cựa gà, trước và sau khi đậu trái. Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam hiện chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh xơ đen hại mít, có thể tham khảo sử dụng một số hoạt chất thuốc sau để phun phòng trừ: Copper Hydroxide; Oxolinic acid; Gentamicin sulfate + Oxytetracycline hydrochloride.

Lưu ý: Khi sử dụng thuốc BVTV phải tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng; ưu tiên sử dụng các loại thuốc thảo mộc, sinh học; thuốc có phổ tác động hẹp, thuốc thế hệ mới phân giải nhanh, ít độc đối với thiên địch nhưng hiệu quả đối với dịch hại; đảm bảo đúng liều lượng và thời gian cách ly theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Đối với các dịch hại chưa có thuốc đăng ký phòng trừ, khi sử dụng thuốc cần thử nghiệm trên diện hẹp trước khi sử dụng trên diện rộng.

IV. Thu hoạch chế biến bảo quản

1. Thu hoạch

Thu hoạch khi gai mít nở, lá yếm chuyển sang màu vàng, thời gian từ 9 - 15h hàng ngày. Hái nhẹ nhàng, khi hái không quăng ném, giữ không làm gãy gai hay sứt cuống mít. Sau khi hái, đặt mít nằm ngang, cuống quay xuống thấp cho mủ chảy ra.

Loại bỏ những quả bị sâu bệnh, xấu mã, phân loại tùy theo trọng lượng, xếp thành từng lớp vào sọt có lót lá hoặc rơm dưới đáy và xung quanh thành sọt, khi xếp quay cuống quả lên trên.

2. Chế biến

Địa điểm, nhà xưởng, nước, sơ chế, thu gom và xử lý chất thải, vệ sinh cá nhân; thiết bị, dụng cụ sơ chế,...phải tuân theo quy chuẩn, tiêu chuẩn Quốc gia.

3. Bảo quản

- Để nơi khô ráo, thoáng mát, tránh mưa, nắng.

- Dùng giấy hoặc lá có khổ lớn bọc xung quanh từng quả để tránh xây xát khi vận chuyển, tránh va lắc, không dùng sọt quá lớn hay quá nhỏ, phải đảm bảo mít được thông thoáng, không bị nóng khi vận chuyển./.

Quy trình khác cùng nhóm

Căn cứ pháp lý

  • Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 — quy định nguyên tắc phòng, chống sinh vật gây hại thực vật.
  • Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT — ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng — nguồn của danh sách thuốc gợi ý theo dịch hại.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ