Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ.
(Ban hành kèm Quyết định số /QĐ-UBND, ngày//2025 của
UBND tỉnh Lâm Đồng)
I. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1. Thời gian kiến thiết cơ bản (KTCB): 7 năm (01 năm trồng mới + 06 năm chăm sóc).
2. Thời kỳ kinh doanh:13-23 năm, tính từ năm thứ 8.
3. Chu kỳ kinh doanh: từ 20-30 năm, phụ thuộc vào thực tế kỹ thuật thâm canh.
4. Mục tiêu năng suất: đạt khoảng từ7-10 tấn/ha
II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
- Nhiệt độ:cây măng cụt có giới hạn nhiệt độ khá rộng từ 5 - 380C, sinh trưởng phát triển tốt ở nhiệt độ 25 - 300C. Ở nhiệt độ dưới 200C cây sinh trưởng, phát triển chậm, nhiệt độ 38- 400C có thể gây cháy cho cả lá và vỏ trái.
- Ẩm độ:ẩm độ thích hợp từ 80% trở lên.
- Lượng mưa:cây măng cụt không thể sinh trưởng phát triển tốt ở vùng quá khô hay quá ẩm. Lượng mưa hàng năm thấp nhất phải là 1.270 mm, phân bố đều trong năm và không mưa ở giai đoạn cây mang trái là thích hợp nhất.
3. Ánh sáng: Cây măng cụt có thể ra hoa cả ngày ngắn lẫn ngày dài, nhưng thuận lợi nhất ở điều kiện ngày dài. Số giờ chiếu sáng khoảng 2.000 giờ/năm. Trong hai năm đầu trồng ra vườn sản xuất cây măng cụt cần phải được che bớt ánh nắng mặt trời trực tiếp, che bớt khoảng 50-60% ánh sáng mặt trời.
4. Đất đai
Cây măng cụt có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất sét giàu hữu cơ, đất đỏ bazan, đất phù sa ven sông, đất giàu hữu cơ, tơi xốp, tầng canh tác dày, thoát nước tốt (mực nước ngầm dưới 1m) và gần nguồn nước tưới. pH đất thích hợp đối với cây măng cụt từ 5,5 - 7, không thích hợp với đất kiềm, đất thoát nước kém.
III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống và cách nhân giống
- Giống
Sử dụng các giống được cấp Quyết định công nhận lưu hành, tự lưu hành, lưu hành đặc cách, các giống trong danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh các ngành có thẩm quyền ban hành và được chuyển tiếp theo quy định hoặc đã được Quyết định công nhận cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng.
Do hạt măng cụt bất thụ phát triển từ phôi cái nên hầu như tất cả những cây măng cụt đều bắt đầu từ một dòng ban đầu dù được gieo từ hạt. Hiện nay, chỉ có 01 giống được trồng ở các nước Đông Nam Á là giống Garcinia mangostana.
- Nhân giống
+Trồng bằng hạt: chọn trái có hạt to (trọng lượng hạt > 1g) để làm giống và ươm hạt trong môi trường tro trấu hoặc xơ dừa. Khi cây con đạt 4 - 5 tháng tuổi mới chuyển sang bầu, đến khi cây được 01 năm tuổi lại chuyển sang bầu to hơn, lúc này bầu phải có kích thước 16 – 17 cm x 40 – 45 cm để rễ măng cụt phát triển thuận lợi trong năm thứ hai. Cả hai giai đoạn này chọn vật liệu thoát nước tốt, giàu dinh dưỡng làm bầu cho cây, có thể dùng hỗn hợp như xơ dừa: phân chuồng : đất theo tỷ lệ 3:1:1, tưới nước đều đặn và che mát cho cây. Cần tưới nhẹ phân bón 02 tháng/lần theo công thức N:P:K= 15:15:15, kết hợp với việc phòng trừ các loại sâu bệnh hại để giúp cây phát triển tốt.
+Ghép ngọn: chọncây 2 năm tuổi để làm gốc ghép và chọn cành tương xứng với gốc ghép ở những cây đã cho trái để làm cành ghép (cành 3 - 4 cặp lá), ghép theo kiểu ghép nêm rồi dùng bao nilon bọc kín cành ghép và nơi ghép. Sau khi ghép xong cần giữ trong nhà có che bóng và chăm sóc như trường hợp cây ươm hạt, sau 2-3 tháng mới đưa ra vườn trồng.
1.2.Tiêu chuẩn cây giống cây măng cụt
TT | Chỉ tiêu | Yêu cầu |
|---|---|---|
1 | Hình thái | - Cổ rễ thẳng, vỏ không bị thương tổn đến phần gỗ. - Bộ rễ phát triển tốt, có nhiều rễ tơ, rễ cọc không cong vẹo. -Thân cây thẳng và vững chắc. - Các lá ngọn đã trưởng thành, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng của giống. - Cây giống phải đang sinh trưởng khỏe, không mang triệu chứng chảy nhựa vàng trên thân. |
2 | Tuổi cây xuất vườn | 2 năm sau khi gieo hạt |
3 | Số cành | từ 1 cặp nhánh ngang trở lên. |
4 | Số lá | 12 cặp lá trưởng thành trở lên |
5 | Chiều cao cây (từ mặt giá thể bầu ươm đến đỉnh chồi) | từ 70 cm trở lên |
6 | Đường kính gốc (đo tại nơi cách mặt nền bầu ươm 2 cm) | từ 0,6 cm trở lên |
7 | Bầu ươm | - Đường kính và chiều cao 16 - 17 cm, và 40 - 45 cm - Số lỗ thoát nước từ 20 - 30 lỗ/ bầu, đường kính lỗ 0,6 - 0,8 cm. |
8 | Độ chuẩn giống | Cây sản xuất phải đúng giống như tên gọi ghi trên nhãn, hợp đồng. Mức độ khác biệt về hình thái cây giống không vượt quá 5% số lượng cây. |
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1.Thời vụ trồng
Cây măng cụt có thể trồng được quanh năm, nhưng thời vụ trồng tốt nhất là từ 15/5 đến 15/8 hàng năm (trước khi kết thúc mùa mưa 01 tháng).
2.2. Mật độ, khoảng cách
- Trồng thuần: trồng măng cụt với khoảng cách 6 – 7 m x 6 – 7 m theo kiểu ô vuông (204 - 277 cây/ha) nếu không sử dụng cơ giới trong vườn. Đối với những vườn có sử dụng cơ giới để chăm sóc, thu hoạch, … thì khoảng cách giữa hai hàng xa hơn khoảng cách giữa cây trên hàng, có thể trồng với khoảng cách 8 – 9 m x 6 – 7 m (158 - 208 cây/ha). Trồng dày nhưng đảm bảo tán cây không được giáp nhau, phải tỉa cành tạo tán cho cây sau mỗi vụ thu hoạch.
- Trồng xen: có thể trồng xen măng cụt với sầu riêng, điều, cà phê và một số loại cây tán hẹp khác. Trồng xen với khoảng cách 10 x 10 m (100 cây/ha) hoặc khoảng cách 12 x 12 m (69 cây/ha). Chú ý nhu cầu phân bón và nước tưới vì giữa cây măng cụt và cây trồng chính có thể có sự cạnh tranh dinh dưỡng lẫn nhau.
2.3. Chuẩn bị đất
- Chọn đất thoát nước tốt, làm đất và đào hố trước khi trồng 3-4 tháng để đất kịp ải. Đối với vùng đất thấp, có khả năng thoát nước kém, cần thiết kế mương thoát nước trong và xung quanh vườn; giữa các hàng cây bố trí các líp cạn hoặc làm luống có chiều cao tối thiểu 0,5 mét và bề rộng luống 6-7 mét để thoát nước trong vườn.đối với đất trồng có độ dốc >200 cần thiết kế hàng trồng theo đường đồng mức, độ rộng đường đồng mức tối thiểu đạt 4 mét.
2.4. Đào hố, bón lót
- Đào hố: Đào hố theo quy cách: 60x60x60cm; đất xấu đào hố với kích thước 70 x 70 x 70 cm.
- Bón lót:dùng phân chuồng hoai đã xử lý, bón lót 15-30 kg/hố, kết hợp với 0,5-1 kg phân lân nung chảy và 0,5 kg vôi đảo đều trước trồng 10-15 ngày.
2.5. Thiết kế vườn và trồng cây chắn gió
Đối với những vườn ở địa hình bằng phẳng cần thiết kế hệ thống rãnh thông nhau để tiêu thoát nước kịp thời khi có mưa bão, nhằm tránh hiện tượng ngập úng cục bộ. Trồng cây chắn gió cần chọn cây có độ cao hợp lý, gỗ chắc, khó đổ ngã để trồng quanh vườn và đường phân lô.
-Chăm sóc cây giống trước khi trồng:
+ Dùng dây ni long quấn chặt bầu đất: Sau khi vận chuyển cây giống về nhà cần kiểm tra ngay nếu cây bị lỏng gốc, bà con phải dùng dây ni long quấn chặt bầu đất theo chiều dọc của bầu để cố định gốc cây không bị lung lay, giúp bộ rễ nhanh ổn định.
+ Xếp thưa cây giống vào chỗ mát: xếp thành từng luống có che lưới đen, hoặc lá dừa. Tuyệt đối không xếp cây dưới nắng trực tiếp, cây chậm hồi phục, có thể chết vì lỏng gốc. Cũng không xếp cây dưới bóng che toàn bộ, cây thiếu ánh nắng cũng không phát triển. Vị trí dưỡng cây đảm bảo che được 75% ánh sáng trực tiếp là tốt nhất.
+ Giữ cho cây không bị đổ ngả:Hỗn hợp bầu của cây măng cụt chủ yếu là sơ dừa, bộ lá nặng nên khi xếp cây dưỡng dễ bị đổ ngã, do vậy phải dùng 2 cọc tre cột cây ngang làm giá đỡ giữ cho cây khỏi đổ ngã;
+ Tưới nước giữ ẩm: Nếu trời nắng, phải tưới nước ngày 2 lần (sáng sớm và chiều mát), 7-10 ngày sau khi dưỡng, cây chặt bầu, khỏe mạnh mới đem trồng.
2.6. Kỹ thuật trồng
- Chọn cây khỏe mạnh đem ra trồng trước, các cây chưa hồi phục, tiếp tục dưỡng; vận chuyển nhẹ nhàng, tránh làm lỏng gốc.
- Đào một lỗ (trong hố đã xử lý) có độ sâu bằng chiều dài bầu cây giống.
- Dùng kéo cắt bỏ dây quấn quanh bầu đất, đặt cây vào hố, nhẹ nhàng cắt và rút bao ni lon ra khỏi bầu đất (tuyệt đối không làm bể bầu).
- Dùng tay lấp và nén nhẹ đất quanh bầu, chỉ lấp đất ngang mặt bầu tạo hình mu rùa để thoát nước trong mùa mưa.
- Cắm cọc giữ cây khỏi đổ ngã và lay gốc, che bóng và tưới nước ngay sau khi trồng (nếu trời không mưa).
2.7. Che bóng cho cây
Trong những năm đầu trồng ra vườn sản xuất (4 năm đầu), cây măng cụt cần phải được che bóng để giảm bớt ánh nắng mặt trời trực tiếp, nếu không che bóng cây có hiện tượng cháy lá ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây, đồng thời cháy đỉnh sinh trưởng làm cho cây không phát triển chồi mới. Đây là khâu kỹ thuật hết sức quan trọng cần phải thực hiện tốt mới đảm bảo tỷ lệ sống cũng như quá trình sinh trưởng của cây măng cụt. Cây măng cụt cần che bóng trong 4 năm đầu, mức độ che bóng giảm dần qua các năm. Nhu cầu che bóng của măng cụt: năm đầu tiên cần che 60% ánh sáng, năm thứ 2 cần che 50%, năm thứ 3 cần che 30%, từ năm thứ 4 thì không cần che bóng cho cây. Có thể che mát cho cây bằng tàu lá dừa, lưới che hoặc trồng chuối xung quanh cây măng cụt đến năm thứ 4. Lưu ý: trồng chuối che bóng phải cách gốc măng cụt ít nhất 1m theo hướng đông và hướng tây.
Khi cây măng cụt bước sang năm thứ 4 (sau khi thu hoạch các cây trồng cũ xong) thì chặt bỏ toàn bộ cây trồng cũ. Tiếp tục áp dụng việc làm cỏ, bón phân, chăm sóc cây măng cụt theo đúng quy trình kỹ thuật.
2.8. Bón phân và kỹ thuật bón phân
2.8.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)
- Bón phân hữu cơ: 3.000 kg/ha/năm bón 1 lần vào đầu mùa mưa kết hợp với bón phân vô cơ.
- Lượng phân bón vô cơ:
Tuổi cây | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | ||||
N | P2O5 | K2O | Urê | Super lân | Kali clorua | |
Năm thứ nhất | 50 | 35 | 40 | 108 | 218 | 67 |
Năm thứ 2 | 50 | 35 | 40 | 108 | 218 | 67 |
Năm thứ 3 | 90 | 35 | 60 | 196 | 218 | 100 |
Năm thứ 4 đến năm thứ 7 | 230 | 100 | 200 | 500 | 625 | 333 |
Chia lượng phân bón trên làm 3 đợt bón trên năm.
Đợt 1: đầu mùa mưa (tháng 3-4).
Đợt 2: giữa màu mưa (tháng 8-9)
Đợt 3: Cuối mùa mưa (tháng 11-12)
2.8.2. Thời kỳ kinh doanh
Từ năm thứ7 trở đi phân bón vô cơ bón 3 lần/năm. Tùy theo tình hình sinh trưởng và năng suất của cây mà bón lượng phân cho phù hợp hàng năm.
- Bón phân chuồng hoai mục 30-40kg hoặc phân hữu cơ 10-15kg cho mỗi cây.
- Lượng phân bón vô cơ:
Số lần bón | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | Lượng nguyên chất (kg/ha/năm) | ||||
N | P2O5 | K2O | Urê | Super lân | Kali clorua | |
Lần 1 | 140 | 163 | 98 | 304 | 1.018 | 163 |
Lần 2 | 66 | 174 | 181 | 143 | 1.087 | 302 |
Lần 3 | 94 | 163 | 181 | 204 | 1.018 | 302 |
Tổng | 300 | 500 | 460 | 651 | 3.123 | 767 |
Chia lượng phân bón trên làm 3 đợt bón trên năm.
- Thời gian bón:
+ Đợt 1: Sau khi thu hoạch xong, tỉa cành tạo tán, kết hợp chung với bón phân hữu cơ.
+ Đợt 2: Trước khi ra hoa 30 - 40 ngày. Lưu ý: Trong giai đoạn này, tránh bón nhiều đạm vì sẽ kích thích ra lá mới làm chậm quá trình ra hoa.
+ Đợt 3: Lúc cây đậu quả xong (quả có đường kính khoảng 2cm).
2.8.3. Kỹ thuật bón phân
Bón phân phải kết hợp với việc xới xáo làm cỏ quanh gốc, trước khi bón phân nên tiến hành thu dọn toàn bộ vật liệu tủ gốc rồi bón lên mặt líp (mô) hoặc xới rảnh sâu 5 - 10 cm ở 2/3 đường kính tán cây, bón phân vào rãnh. Sau khi bón phân nên che phủ gốc bằng các vật liệu hữu cơ và tưới nước liên tục 5 - 7 ngày cho phân tan vào đất.
2.9. Chăm sóc
2.9.1. Làm cỏ
Trong những năm đầu khi cây chưa khép tán, cỏ dại sẽ phát triển mạnh. Làm 2 lần/năm (đầu và cuối mùa mưa).
Sử dụng biện pháp làm cỏ thủ công hoặc phun thuốc trừ cỏ; chú ý làm sạch cỏ trước khi bón phân. Khi làm cỏ, cần tránh làm đứt những rễ ăn nổi, nếu làm đứt rễ lúc trái đang lớn thì trái sẽ nhỏ, chất lượng giảm (sượng trái).
2.9.2.Tưới nước
Măng cụt có nhu cầu nước rất lớn, nhất là giai đoạn cây con và cây đang mang quả. Nếu thiếu nước ở giai đoạn cây con thì cây chậm lớn. Giai đoạn cây đang mang quả thì quả nhỏ và giảm phẩm chất quả.
Tuổi cây (năm) | Lượng nước tưới (lít/cây) | Chu kỳ tưới (ngày) | Phương pháp tưới |
1 - 6 | 20 - 40 | 5 - 7 | Tưới dí, phun tại gốc |
6 - 10 | 40 - 60 | 5 - 7 | Tưới dí, phun tại gốc |
Trên 10 năm | > 80 | 5 - 7 | Tưới dí, phun tại gốc |
2.9.3. Tủ gốc giữ ẩm: sử dụng rơm hay cỏ khô phủ xung quanh gốc một lớp dày 10- 20cm, cách gốc từ 10-15cm. Giữ cho gốc măng cụt khô ráo sẽ làm giảm sự xâm nhập của nấm bệnh.
2.9.4. Tỉa cành, tạo tán
- Tỉa cành tạo sự thông thoáng cho cây, giúp cây quang hợp tốt, hạn chế sự phát triển của rong rêu và sâu, bệnh hại; tiến hành 2 lần/năm;tỉa cành mọc đan chéo nhau, mọc ngược, sâu, bệnh.
- Tỉa lần 1 vào sau thu hoạch quả, tỉa những cành bị sâu, bệnh, không có khả năng cho quả, cành vô hiệu bên trong tán cây. Đặc biệt tỉa ngắn những cành ở mặt ngoài tán, nhằm không cho tán cây giao nhau, đồng thời kích thích cây ra đọt nhanh và nhiều hơn.
- Tỉa lần 2 ngày sau khi bón phân lần 1 và thực hiện chậm nhất 7 ngày sau khi bón phân.
Dụng cụ tỉa cành là loại kéo cắt cành trên cao; những cây có cành phát triển tốt hoặc cành chạm đất cần phải dùng dây kéo cành lên trên.
2.10. Phòng trừ sâu, bệnh hại
2.10.1.Quản lý dịch hại tổng hợp
- Biện pháp canh tác: vệ sinh vườn, dọn sạch cỏ rác, tàn dư thực vật khác và xử lý cách xa vườn trồng; làm bồn, tỉa cành, tạo tán hợp lý cho vườn cây, tưới nước đầy đủ và đúng thời điểm trong mùa khô, chống ngập úng trong mùa mưa, thu hái kịp thời những trái chín sớm, ... để giúp cây khỏe tăng sức đề kháng với dịch hại.
- Biện pháp cơ giới vật lý: loại trừ các đối tượng dịch hại bằng các biện pháp như: cắt, nhổ bỏ, tiêu hủy các bộ phận hoặc cây bị sâu bệnh hại nặng, tiêu diệt bằng tay các loại sâu hại với mật độ thấp. Sử dụng đèn để bẫy các loại côn trùng gây hại.
- Biện pháp sinh học: bảo vệ và sử dụng thiên địch, vi sinh vật có ích như bọ rùa đỏ (Rodolia sp.), bọ mắt vàng, nhện, nấm Trichoderma, Peacilomyces, …; duy trì môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật có ích; sử dụng các loại thuốc sinh học trong phòng trừ dịch hại.
- Biện pháp hóa học: Nếu sử dụng các biện pháp trên không ngăn chặn được mới sử dụng thuốc để phun, ưu tiên các loại thuốc có nguồn gốc từ sinh học và thảo mộc. Sử dụng luân phiên các loại thuốc (không sử dụng một loại thuốc có hiệu quả để tránh hiện tượng kháng thuốc) đồng thời tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng, đúng cách).
2.10.2. Sâu hại và biện pháp phòng trừ
a) Sâu vẽ bùa(Phyllocnistis citrella)
* Đặc điểm gây hại
- Bướm ban ngày ẩn dưới mặt lá, cơ thể rất nhỏ nên ít thấy, hoạt động mạnh lúc chập tối. Đẻ trứng rải rác ở dưới hoặc trên mặt lá non mới xoè ra.
- Sâu non sau khi nở đục thành những đường vòng vèo phía dưới biểu bì lá, để lại lớp biểu bì màu trắng bạc, sâu đục tới đâu bài tiết phân tới đó, vết phân kéo dài như một sợi chỉ. Lá bị sâu hại uốn cong và biến dạng, giảm khả năng quang hợp, có thể bị khô và rụng.
- Sâu thường gây hại từ khi lá non mới xoè ra, đọt cây mới dài khoảng 5 – 6cm. Sâu phát sinh quanh năm có thể gây hại bất cứ lúc nào khi cây ra đọt non, mật độ gây hại nhiều hay ít phụ thuộc vào độ dày và độ mọng nước của lá.
* Biện pháp phòng trừ
- Tỉa cành và bón phân hợp lý cho cây ra chồi tập trung để hạn chế sự phá hoại của sâu.
- Nên nuôi thả kiến vàng trong vườn cây.
- Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký trên cây măng cụt. Có thể tham khảo sử dụng một số hoạt chất sau để phun phòng trừ: Abamectin, Abamectin +Bacillus thuringiensis, Abamectin + Matrine, Azadirachtin. Phun ngay khi chồi mới ra dài khoảng 2 – 4cm.
b) Bọ trĩ (Thrips sp.)
* Đặc điểm gây hại:vòng đời của bọ trĩ rất ngắn, trung bình khoảng 15-18 ngày. Bọ trĩ trưởng thành di chuyển nhanh, đẻ trứng trong mô mặt dưới lá. Cả bọ trĩ trưởng thành và bọ trĩ non đều tập trung mặt dưới lá để chích hút nhựa làm lá biến đổi và nhăn nheo. Bọ trĩ còn hại cả hoa, quả non làm hoa khô rụng nhiều, quả non chậm lớn, sần sùi. Bọ trĩ phát triển nhiều trong điều kiện nóng và khô hạn. Bọ trĩ có sức chịu thuốc cao và mau quen thuốc.
* Biện pháp phòng trừ
- Vào mùa khô thì nên phun nước lên cây để làm tăng độ ẩm cho vườn cây góp phần giảm mật độ của bọ trĩ.
- Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký trên cây măng cụt. Khi bọ trĩ xuất hiện với mật độ cao có thể tham khảo sử dụng một số hoạt chất thuốc sau để phun phòng trừ: Abamectin,Emamectin benzoate,Spirotetramat, … Nên luân phiên thay đổi thuốc giữa các lần phun.
c) Nhện đỏ (Tetranychus sp.)
* Đặc điểm gây hại: Nhện trưởng thành giăng thành một lớp sợi rất mỏng ở mặt dưới lá, đẻ trứng từng quả gắn vào lớp tơ. Nhện non và nhện trưởng thành đều sống tập trung ở mặt dưới lá chích hút nhựa lá, quả non làm cho quả nhỏ, sần sùi.Vòng đời trung bình 20-25 ngày, nhện phát triển nhiều trong điều kiện thời tiết nóng và khô. Nhện sống tập trung ở dưới mặt lá chích hút nhựa tạo thành những vết nâu màu vàng nhạt dọc hai bên gân lá. Nếu mật độ nhện cao gây hại làm lá vàng và rụng, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây.
* Biện pháp phòng trừ
- Bón phân chăm sóc đầy đủ cho cây sinh trưởng tốt. Có thể phun nước với áp lực mạnh lên tán cây vào mùa nắng sẽ làm giảm mật số nhện đỏ.
2.10.3. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ
a) Bệnh thán thư (Colletotrichum sp.)
*Triệu chứng gây bệnh: bệnh gây hại chủ yếu trên lá, có khi trên hoa và quả. Trên lá vết bệnh lúc đầu là những đốm nhỏ màu vàng nâu, sau lớn dần hình hơi tròn, xung quanh viền nâu đậm, có nhiều chấm đen nhỏ li ti xếp thành các vòng tròn đồng tâm. Trên hoa vết bệnh là những đốm nâu ở cuống hoặc cánh hoa, bệnh nặng làm hoa bị khô và rụng. Trên vỏ quả vết bệnh hình tròn màu vàng, sần sùi và hơi lõm vào, đôi khi có nhựa chảy ra.
* Biện pháp phòng trừ:
- Cắt tỉa bớt cành lá cho cây thông thoáng. Cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây.
- Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký trên cây măng cụt.Khi phát hiện bệnh có thể sử dụng các loại hoạt chất thuốc sau để phun phòng trừ: Copper Hydroxide; Azoxystrobin + Difenoconazole; Mancozeb + Metalaxyl-M; Chlorothalonil,...
b) Bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor)
* Triệu chứng gây bệnh: bệnh gây hại trong điều kiện ẩm độ cao, mưa nhiều, vườn rậm rạp ít ánh nắng mặt trời chiếu sáng. Bệnh thường phát triển gây nặng trên những cây có tàn lá rậm rạp và che khuất nhau, nhất là vào những tháng mưa ẩm. Vết bệnh mới là những đốm màu trắng, sau lớn chuyển sang màu hồng. Vết bệnh thường xuất hiện và gây hại ở chảng ba nơi phân cành (vị trí này thường đọng nước, nấm dễ phát sinh, gây hại). Bệnh gây hại làm cho lớp vỏ bị nứt và bông tróc ra. Trên cành, thân bị gây hại lá chuyển sang màu vàng, khô héo, rụng, chết cành.
* Biện pháp phòng trừ
- Trồng cây với khoảng cách hợp lý, tỉa bớt cành lá vô hiệu để tránh che rợp, làm cho vườn thông thoáng. Cắt bỏ và tiêu huỷ các cành, nhánh nhiễm bệnh. Cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây.
- Dùng thuốc gốc đồng quét lên thân cây một năm 2-3 lần vào đầu và cuối mùa mưa.
- Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký trên cây măng cụt.Khi phát hiện bệnh có thể phun các loại thuốc chứa các hoạt chất sau: các loại thuốc gốc đồng Copper Hydroxide (Champion 77WP), Validamycin, Hexaconazole, … để phòng trừ.
c) Bệnh chảy nhựa thân(Phytophthora sp.)
* Triệu chứng gây bệnh:
- Bệnh thường xảy ra trong mùa mưa, nấm phát tán theo gió, theo nước mưa và dễ dàng gây hại trong các vườn trồng dày có tàn lá rậm rạp, chăm sóc kém. Nấm lưu tồn chủ yếu trong đất, trong nước, trong các bộ phận bị bệnh của cây.
- Đây là bệnh hại rất nguy hiểm trên cây măng cụt. Nấm tấn công phần vỏ thân gần mặt đất và lan dần đến các cành làm vỏ cây bị biến màu nâu, sau đó vỏ cây bị chảy nhựa, phần gỗ tại vết bệnh cũng hóa nâu. Đôi khi nấm còn tấn công trên các cành phía trên cao của cây.
* Biện pháp phòng trừ
- Đối với vườn mới trồng ở địa hình bằng: nên thiết kế líp trồng cao ráo và vị trí trồng phải cách mực nước ngầm từ 70 – 100cm.
- Trồng với mật độ vừa phải không trồng quá dày.
- Bón phân chuồng tạo cho đất tơi xốp và cung cấp các đầy đủ các nguyên tố trung, vi lượng cho cây.
- Tiêu và thoát nước tốt để hạn chế ẩm độ cao trong vườn nhất là trong mùa mưa.
- Trên vườn măng cụt đang cho trái nên tỉa cành tạo tán giúp cây thông thoáng để giảm bệnh. Những cành có bệnh cần cắt bỏ và tiêu hủy ngay để tránh lây lan.
- Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký trên cây măng cụt.Cần thường xuyên thăm vườn, phát hiện sớm cây bị bệnh để cạo sạch vết bệnh và tham khảo một số hoạt chất thuốc chứa gốc đồng, Mancozeb,Fosetyl Aluminium, Metalaxyl, Phosphonatephun lên cây theo nồng độ khuyến cáo từng loại thuốc hoặc pha với nước để quét lên vết bệnh hoặc có thể dùng các loại thuốc trên tưới xung quanh gốc theo liều lượng khuyến cáo.
d) Bệnh xì mủ, sượn trái (do nguyên nhân sinh lý).
* Triệu chứng gây bệnh:
- Quả bị bệnh bên ngoài trông rất bình thường nhưng bên trong vỏ xì mủ vàng làm thịt quả bị thối, có vị chua. Nếu bệnh nhẹ chỉ có một vài múi thối, còn bị nặng có thể thối cả quả. Hiện tượng xì mủ và thối múi xảy ra khi quả già đến chín lúc còn đang ở trên cây.
- Hiện tượng này thường xảy ra trong mùa mưa do có sự thừa nước trong quả làm cho chất đường và axít từ vỏ chảy ra ngoài làm quả trở nên cứng, sau đó bị thối.
- Trong thời gian 2-3 tuần trước khi chín gặp mưa lớn liên tục thị bệnh xì mủ quả phát triển nhiều.
* Biện pháp phòng trừ: Chăm sóc vườn thường xuyên, tỉa cành thông thoáng và thoát nước tốt. Thường xuyên chăm sóc vườn và tạo điều kiện để cây ra hoa sớm và thu hoạch quả trước mùa mưa.
đ) Bệnh đốm lá (Pestalotia sp.)
* Triệu chứng gây bệnh:
- Vết bệnh ban đầu thường có màu vàng cam sau đó lan nhanh và chuyển sang màu nâu đỏ xung quanh vết bệnh có viền nâu sậm. Vết bệnh thường không có hình dạng nhất định. Kích thước vết bệnh có thể rất lớn hoặc nhiều vết bệnh liên kết với nhau làm cho lá bị khô và cháy. Bệnh này khá quan trọng trên măng cụt, bệnh nặng có thể làm rụng lá và ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
- Trên bề mặt vết bệnh cũng có thể thấy những ổ nấm này, chúng có thể là nguồn lây nhiễm tiếp theo. Bào tử của nấm gây bệnh có thể được lan truyền qua nước mưa, nước tưới phun,… từ những lá bệnh trên cây.
* Biện pháp phòng trừ: Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện hành chưa có thuốc đăng ký trên cây măng cụt.Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như: Metalaxyl + Mancozeb, Copper Oxychloride + Kasugamycin theo liều lượng khuyến cáo để phòng trừ bệnh đốm lá.
e) Bệnh đốm rong (tảo Cephaleuros virescens)
* Triệu chứng gây bệnh: Bệnh thường gây hại trong mùa mưa, thời tiết nóng ẩm. những vườn độ ẩm cao, kém thông thoáng, ít được tỉa cành tạo tán thường bị gây hại nặng. Tảo thường gây hại trên lá, thân, nhánh. Trên thân, nhánh tạo thành các đốm hình tròn có màu vàng đậm.
* Biện pháp phòng trừ
- Cắt tỉa cành, táo tán hợp lý, tạo thông thoáng cho cây và cho vườn.
- Thường xuyên thăm vườn khi phát hiện bệnh đốm rong xuất hiện trên lá sử dụng thuốc gốc Đồng (Coc 85, Boóc-đô 1%, Kocide, Champion, Norshield,…) hoặc thuốc gốc lưu huỳnh (Kumulus, Sulox,…) phun trên lá. Nếu bệnh trên thân, cành có thể sử dụng thuốc gốc Đồng pha đậm đặc quét lên thân, cành. Có thể quét vôi lên gốc thân vào đầu và cuối mùa mưa để phòng bệnh cho những vườn thường xuyên bị nhiễm bệnh đốm rong.
IV. Thu hoạch và bảo quản
4.1. Thu hoạch
Hái trái lúc trái có màu hồng, khi hái phải thật cẩn thận và tránh sự va chạm mạnh trên trái nhằm giảm đến mức thấp nhất sự xây xát. Nên dùng dụng cụ có túi vải để hái trái, tránh để trái rơi tự do trên mặt đất làm xay xát vỏ quả.
4.2. Bảo quản
Chứa quả trong túi plastic có đục lỗ và giữ quả được 28 ngày khi bảo quản ở nhiệt độ 130C. Bảo quản ở 20C giữ được 21 ngày, nhưng nếu chứa trong túi plastic kín sẽ giữ được 49 ngày.