Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên dưa.
(Ban hành kèm theoQuyết định số /QĐ-UBNDngày //2025
của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I.Mục tiêu kinh tế kỹ thuật
1.Thời kỳ kiết thiết cơ bản (KTCB): khoảng 01 năm.
2. Thời kỳ kinh doanh:03 năm, tính từ năm thứ 2.
3.Chu kỳ kinh doanh: Thời kỳ kinh doanh của cây dứa khoảng 04 năm.
4. Mục tiêu năng suất: Năng suất quả đạt khoảng 30 - 50 tấn/ha/vụ (tùy theo giống và điều kiện đầu tư, chăm sóc); năng suất và chất lượng quả cao nhất là ở vụ thứ nhất, các năm tiếp theo năng suất, chất lượng và kích thước quả giảm dần.
I. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1.Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa
- Nhiệt độ:Cây dứa thích hợp trong phạm vi nhiệt độ 20 - 32oC. Trong giai đoạn quả phát triển, nếu thời tiết lạnh, ẩm và cường độ ánh sáng yếu kéo dài thì quả thường nhỏ, phẩm chất kém, ngược lại nhiệt độ lớn hơn 35oC thì thân, lá, quả thường bị hiện tượng cháy nắng.
- Ẩm độ và lượng mưa:
+ Ẩm độ: Cây dứa thích hợp với ẩm độ không khí từ 75 - 80%.
+ Lượng mưa: Cây dứa yêu cầu lượng mưa trung bình khoảng 1.200 - 1500mm/ năm và phân bố đều trong các tháng; mùa khô kéo dài cần phải có biện pháp giữ ẩm, tưới đủ nước cho vườn dứa.
Trên đất thấp cần điều chỉnh sao cho mực nước trong mương thấp hơn tối thiểu là 40cm so với mặt đất trồng để rễ cây không bị úng. Trên đất cao cần bố trí hệ thống nước tưới bổ sung cho cây vào mùa khô để đảm bảo đủ ẩm và thoát nước tốt vào mùa mưa.
2. Độ cao và gió:
- Cây dứa thích hợp ở địa hình bằng, có khí hậu ấm áp, phù hợp trồng ở các tỉnh đồng bằng miền Bắc, miền Trung và miền Nam; Địa hình, khí hậu, tính chất đất ở Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng cũng phù hợp để trồng cây dứa (với vùng đất có độ dốc lớn có thể trồng theo hàng đồng mức và bố trí mương thoát nước, dùng nilon hoặc rơm rạ che phủ, chống xói mòn).
- Cây dứa (thân, lá) khá dẻo dai, vững chắc, cây cao thường dưới 1 mét và bộ rễ phát triển khá mạnh, vì vậy có khả năng chịu gió khá tốt; tuy nhiên, để cây đứng vững (không bị nghiêng, đổ) thì trong canh tác nên trồng cây chắn gió để giảm tốc độ gió.
3. Ánh sáng:Cây dứa thích ánh sáng tán xạ hơn là ánh sáng trực xạ. Vùng cao có nhiệt độ và cường độ ánh sáng thấp thì chu kỳ của sinh trưởng của cây kéo dài. Tuy nhiên, ánh sáng trực xạ vào mùa khô dễ gây ra hiện tượng cháy nắng trên quả. Cây dứa có khuynh hướng ra hoa tự nhiên vào thời kỳ ngày ngắn. Thiếu ánh sáng cây mọc yếu, quả nhỏ; ngược lại nếu ánh sáng quá mạnh kèm theo nhiêt độ cao lá sẽ bị vàng hoặc đỏ, lúc này cần che mát cho cây dứa.
4. Đất đai:Đất trồng dứa phải có tầng canh tác dày trên 40 cm, đất phải tơi xốp, thoát nước tốt. Các loại đất trồng dứa như: đỏ Bazan, đất đỏ vàng, đất xám ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, đất cát ở duyên hải Trung Bộ, đất phù sa ở Đồng bằng sông Cửu Long đều trồng dứa được. Yêu cầu pH nước trong đất đối với nhóm dứa Cayen (Cayenne) là 5,0 - 6,0; giống MD2 là 4,5 - 6,5.
II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống: Tỉnh Lâm Đồng phù hợp trồng 2 loại dứa là Cayen và MD2.
- Dứa Cayen: có năng suất cao, quả to trung bình 2 - 2,5kg, dạng hình trụ thích hợp làm nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu. Giống này phát triển tốt trên đất có pH trung tính và cần có sự đầu tư thâm canh cao.
- Dứa MD2: có năng suất cao; cây sinh trưởng khỏe; lá màu xanh đậm, không có gai; chiều dài lá khi ra hoa từ 95 - 105 cm. Giống MD2 có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau (đất đỏ bazan, đất đá vôi, đất đỏ vàng, đất phù sa cổ …), thích hợp đất có độ pH từ 4,5 - 6,5.
Cây giống dứa dùng để lấy chồi hoặc cung cấp vật liệu giâm hom giống phải đảm bảo các yêu cầu như: sinh trưởng khỏe, không bị nhiễm sâu, bệnh hại; lấy từ vườn nhân xuất giống; độ đồng đều cao.
1.2. Tiêu chuẩn cây giống
Bảng 1. Yêu cầu về khối lượng và chiều cao chồi giống dứa Cayen và MD2
TT | Loại chồi | Khối lượng chồi (gam) | Chiều cao chồi (cm) |
1 | Chồi ngọn | 200 - 300 | 18 - 25 |
2 | Chồi nách | 200 - 300 | 25 - 30 |
3 | Chồi cuống | 180 - 250 | 18 - 25 |
4 | Chồi giâm hom | 100 - 150 | 20 - 25 |
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng: Thời điểm trồng tốt nhất là từ đầu mùa mưa đến giữa mùa mưa hàng năm (tháng 5, 6, 7).
2.2.Mật độ, khoảng cách:
Tùy theo địa hình, tính chất đất, khả năng đầu tư và mục đích sản xuất để bố trí mật độ phù hợp; có thể áp dụng mật độ, khoảng cách trồng đối với dứa Cayen và MD2 như sau:
- Mật độ: 50.000 chồi/ha, giống dự phòng để trồng dặm: 1.000 chồi/ha.
- Khoảng cách trồng:
+ Trồng theo băng: Cây cách cây 40cm, hàng cách hàng 40cm.
+ Trồng hàng kép đôi: cây cách cây trên hàng 30cm, hàng cách hàng 40cm, khoảng cách giữa 2 hàng sông là 80cm.
2.3. Chuẩn bị đất
- Đất được chuẩn bị trước khi trồng từ 1,5 - 2 tháng. Cày xới đất sâu khoảng 30cm, thu gom, vệ sinh sạch sẽ cỏ dại và tàn dư thực vật. Trước khi trồng 0,5 - 1 tháng tiến hành san bằng mặt đất, đánh luống trồng kết hợp bón lót phân, vôi và xử lý đất (phòng, trừ kiến, rệp sáp và bệnh hại trong đất).
- Bố trí mương, luống trồng cây dứa:
+ Vùng đấp thấp, bằng phẳng, mực thủy cấp cao nên phân thành lô. Trên mỗi lô, xẻ mương lên luống sao cho mặt luống phải cao hơn mực nước dưới mương tối thiểu 40 cm. Nên bố trí luống trồng vuông gốc với trục giao thông.
+ Vùng đất có độ dốc thấp (dưới 4%) thiết kế lô trồng theo kiểu bàn cờ. Luống trồng trong mỗi lô có thể được bố trí cắt ngang hoặc song song với hướng dốc nhưng phải vuông góc với trục giao thông.
+ Vùng đất đồi dốc từ 4 - 15% nên bố trí đất kiểu bậc thang trên đường đồng mức vuông góc với hướng dốc và có hệ thống đường liên đồi, đường trục chính phục vụ đi lại vận chuyển (nên bố trí hệ thống kênh mương theo đường đồng mức nhằm chặn nước chảy từ trên dốc xuống để tránh xói mòn. Hệ thống mương này được bố trí cách nhau khoảng 50 - 200m tùy theo độ dốc và vuông góc với hướng dốc; các rảnh này được nối với nhau bằng hệ thống ống hoặc máng bê tong, phần cuối cùng nên đổ ra suối hay bãi đất có thảm thực vật che phủ).
+ Vùng đồi có độ dốc hơn 15% không thích hợp cho mục đích trồng dứa có cơ giới hóa (độ nghiêng tối đa để áp dụng phương tiện cơ giới là 15%).
- Trồng cây chắn gió: Dọc theo trục đường chính và các đường nhánh trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả lâu năm. Những cây che bóng, cây chắn gió cần được trồng trước cây dứa khoảng 6 tháng đến 1 năm.
- Bón lót (tính cho 01 ha):
Phân chuồng hoai mục: 10 - 20 tấn hoặc phân hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ sinh học: 3.000 - 5.000 kg (tùy vào tính chất đất, điều kiện đầu tư) và phân lân như sau:
Bảng 2. Lượng phân lân bón lót (kg/ha)
Giống dứa | Lân nguyên chất (P2O5) | Lân thương phẩm (Supe lân, lân nung chảy) |
Cayen | 128 | 800 |
MD2 | 100 | 625 |
- Tùy theo độ chua của đất, có thể bón lót 700 - 1.000 kg vôi bột.
- Thời gian bón: lúc làm đất lần cuối (khoảng 0,5 - 1 tháng trước khi trồng).
2.5. Kỹ thuật trồng:
- Tùy theo địa hình, điều kiện đất đai, quy mô thửa đất và điều kiện canh tác (thủ công hay dùng máy móc cơ giới) để chọn cách trồng cho phù hợp (trồng theo băng, trồng theo hàng kép đôi, hàng kép 4). Tuy nhiên, để thuận tiện đi lại chăm sóc, thu hoạch thì nên chọn trồng theo hàng kép đôi.
- Kỹ thuật trồng: Trước khi trồng nên xử lý chồi giống để sạch mầm mống sâu bệnh bằng các loại thuốc theo khuyến cáo và để khô ráo trước khi trồng. Giăng dây thành hàng trên luống rồi dùng dụng cụ rạch hàng sâu khoảng 15 - 20cm; đặt gốc chồi dứa sâu khoảng 4 - 5 cm, nén chặt đất xung quanh giữ chồi thẳng đứng trong thời gian cây chưa bén rễ, không làm đứt gãy rễ và lá trong quá trình trồng; tránh làm rơi đất vào nõn chồi và không nên trồng quá sâu dễ gây thối rễ. Trường hợp trồng dứa có che phủ nilon, sau khi bón phân lót, lên luống, tiến hành phủ nilon lên toàn bộ mặt luống, chèn cố định mép nilon để tránh dịch chuyển, đục lỗ theo khoảng cách, thẳng hàng rồi trồng. Khi trồng, dùng tay lùa xuống dưới nilon cho đất vào gốc và nén chặt, giữ cho cây thẳng đứng.
Sau khi trồng 15 - 20 ngày, tiến hành trồng dặm bằng những chồi tốt, đồng đều với vườn dứa, điều chỉnh lại những cây bị ngã đổ cho đứng và vững gốc.
2.6. Phân bón và kỹ thuật bón phân:
2.6.1. Lượng phân bón(tính cho 01 ha):
Bảng 3. Lượng phân bón ở các năm sau khi trồng (kg/ha/năm)
Năm bón | Giống dứa | Lượng phân nguyên chất | Quy ra phân thương phẩm | ||||
N | P2O5 | K2O | Urê | Lân supe, lân nung chảy | K2SO4 | ||
Năm 1 | Cayen | 550 | 128 | 1.080 | 1.196 | 800 | 2.077 |
MD2 | 390 | 180 | 425 | 848 | 1.125 | 817 | |
Năm 2 trở đi | Cayen | 550 | 256 | 1.080 | 1.196 | 1.600 | 2.077 |
MD2 | 390 | 180 | 425 | 848 | 1.125 | 817 | |
Ghi chú: Phân đạm (ngoài Urê có thể sử dụng Đạm Phú Mỹ, Đạm Cà Mau,,…); Phân lân (ở những vùng đất chua, phèn nên bón phân lân nung chảy); ngoài phân đơn có thể sử dụng phân bón phức hợp: NPK, KNO3,… Không nên bón phân có chứa Clo cho cây dứa.
2.6.2. Cách bón phân
Bảng 4. Thời gian bón, lượng bón từng đợt trong năm thứ nhất
Giống dứa | Tỷ lệ bón (%) | ||||
Lần 1 (trong vòng 2 tháng sau trồng) | Lần 2 (4 tháng sau trồng) | Lần 3 (6 tháng sau trồng) | Lần 4 (trước xử lý ra hoa 2 tháng) | Lần 5 (12 tháng sau trồng) | |
Cayen | + 50% lân + 25% đạm + 25% kali | + 50% lân + 25% đạm + 25% kali | + 50% đạm + 25% kali | + 25% kali | - |
MD2 | + 40% lân + 23% đạm + 18% kali | + 20% lân + 15% đạm + 18% kali | + 20% lân + 15% đạm + 18% kali | + 20% lân + 23% đạm + 34% kali | + 24% đạm + 12% kali |
* Ghi chú:
- Từ năm thứ 2 trở đi có thể chia lượng phân trong năm bón 4 lần cho cây dứa (nên bón vào các tháng 4, 6, 8, 10 hàng năm). Ngưng bón phân 1,5 - 2 tháng trước khi xử lý ra hoa, đặc biệt là phân đạm.
Để nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón, tránh thất thoát, rải đều phân cho cây sử dụng, tránh dư thừa phân lúc mới bón thì có thể chia nhỏ lượng phân theo định mức trên để bón nhiều lần trong năm (6 - 7 lần). Lượng phân bón có thể điều chỉnh tùy theo điều kiện đầu tư thâm canh, mục đích sản xuất, tính chất đất.
- Năm thứ 3 sau trồng có thể bón bổ sung 2.000 phân hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ sinh học (tùy theo tính chất của đất).
2.6.3. Kỹ thuật bón phân
- Trường hợp không dùng màng phủ luống: Rải phân đều lên mặt xuống, xung quang gốc (không nên cho thuốc chạm vào gốc và rơi lên nõn).
- Trường hợp có dùng màng phủ luống: Bón phân vào lỗ quanh gốc.
- Trường hợp có phủ luống bằng rơm, rạ: Có thể bón rải phân đều lên luống rồi phủ rơm rạ lên để tránh thất thoát phân.
Có thể kết hợp bón phân với làm cỏ; ngưng bón phân 1,5 - 2 tháng trước khi xử lý ra hoa. Trước và sau khi bón phân có thể tưới nhẹ nước để cho phân tan và thấm vào lớp đất mặt.
2.7. Chăm sóc
2.7.1. Làm cỏ
- Trường hợp có dùng nilon phủ luống: Thường xuyên nhổ sạch cỏ quanh gốc để tránh cỏ lấn át và cạnh tranh dinh dưỡng của cây dứa (nếu để cỏ quá lớn khi nhổ sẽ ảnh hưởng đến cây dứa, đặc biệt là lúc dứa còn nhỏ); làm sạch cỏ dưới rãnh và lối đi lại (nơi không có nilon che phủ).
- Trường hợp không dùng nilon phủ luống: Thường xuyên làm sạch cỏ, xới xáo, phá váng ở lớp đất mặt làm cho đất tơi xốp, thoáng khí để cây sinh trưởng, phát triển tốt (không tác động ảnh hưởng đến bộ rễ và cây). Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản có thể trồng xen các cây họ đậu vào giữa luống (cây lạc, đậu).
Ngoài việc làm cỏ bằng thủ công (cuốc, nhổ) có thể dùng máy cắt cỏ hoặc thuốc diệt cỏ (sử dụng thuốc trong danh mục, thuốc an toàn, có nguồn gốc sinh học với lượng nước thuốc khoảng 2000 - 3000 lít; dung dịch thuốc phun trải đều trên bề mặt đất và tránh tiếp xúc cây dứa). Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc trừ cỏ chỉ áp dụng khi cỏ quá nhiều, thiếu nhân công lao động.
2.7.2. Tưới nước
- Trong mùa mưa: thông thường đất đủ ẩm, đủ nước để cây dứa sinh trưởng phát triển tốt, nên hầu như không phải tưới hoặc ít phải tưới nước; trong trường hợp thời tiết không có mưa kéo dài, cần kiểm tra ẩm độ đất để tưới nước đủ ẩm cho cây.
- Trong mùa khô: tùy vào điều kiện thời tiết và độ ẩm của đất để tưới nước cho phù hợp, có thể tưới 10 ngày/lần; mỗi lần tưới khoảng 80 - 90 m3/ha (tùy vào độ ẩm đất và thời tiết). Có thể áp dụng phương pháp tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt, tưới thủ công bằng ống nhựa mềm gắn doa (tùy theo điều kiện đầu tư) sao cho nước thấm sâu, không gây rửa trôi đất mặt. Quản lý ẩm độ đất, cỏ dại và chống bào mòn rửa trôi đất bằng cách tủ gốc cho cây dứa, có thể sử dụng màng phủ nông nghiệp hay nguồn vật liệu tại chỗ như: rơm, rạ, ... kết hợp xới đất và vun gốc.
2.7.3. Tỉa chồi, tạo hình
- Tỉa chồi: Chồi cuống hình thành xung quanh đáy quả, có thể dùng tay tách nhẹ theo chiều từ trên xuống và được thực hiện vào giai đoạn các mắt dứa ở đáy quả bắt đầu phát triển. Ngoài ra, có thể khử đỉnh sinh trưởng để làm giảm sinh trưởng của chồi ngọn, tập trung dinh dưỡng nuôi quả. Việc tỉa chồi và khử đỉnh sinh trưởng của chồi ngọn nên xử lý vào thời tiết nắng ráo để tránh nhiễm bệnh cho cây dứa thông qua vết thương.
- Cắt lá, định vị chồi: Sau khi thu hoạch vụ dứa tơ, kết hợp cắt bớt lá già cách gốc 20 - 25cm. Chỉ để lại một chồi bên (chồi nách) gần mặt đất nhất và mọc hướng vào bên trong hàng kép.
2.7.4. Tủ gốc giữ ẩm
Sau khi chuẩn bị đất, tiến hành phủ đất bằng xác bã thực vật (rơm, tạ, cỏ khô...) nhằm giữ ẩm cho đất, hạn chế cỏ dại đồng thời tránh đất bắn vào nõn cây sau mỗi cơn mưa hoặc tưới. Màng phủ nilon có thể được áp dụng ở những nơi thiếu nước tưới và có khả năng đầu tư.
2.7.5. Chống cháy nắng trên quả (nám quả)
Giai đoạn quả phát triển gặp ánh sáng có bức xạ quá cao vỏ quả sẽ bị cháy vàng trước khi quả chín, nên bố trí trong lô dứa hàng cây phân xanh thân gỗ che bóng kết hợp sử dụng cỏ khô, rơm, năng... đậy trên chồi ngọn hoặc kéo nhiều lá lên trên đỉnh quả dùng dây buộc túm lại. Ngoài ra, có thể sử dụng túi chuyên dùng để bao quả.
Trồng mật độ dày hợp lý; bón phân cân đối, dừng hẳn bón phân trước khi xử lý ra hoa và trong giai đoạn phát triển của quả. Có thể xử lý ra hoa rải vụ thu hoạch để tránh dứa chín vào thời điểm có cường độ bức xạ (cường độ ánh sáng) lớn trong năm.
2.7.6. Cách xử lý ra hoa
- Khi dứa có khoảng 38 - 40 lá là đạt tiêu chuẩn để xử lý ra hoa. Ngưng bón phân 1,5 - 2 tháng trước khi xử lý, đặc biệt là phân đạm.
- Thời gian xử lý: Tốt nhất là vào những ngày trời râm mát, nhiệt độ không khí thấp; nếu giai đoạn trời nắng nóng thì xử lý từ chiều mát cho đến sáng sớm hôm sau (xử lý ban đêm càng tốt). Không xử lý lúc vừa mưa xong hoặc trời sắp có mưa.
- Hóa chất: Có thể sử dụng một số hóa chất và các xử lý như sau
(1) Adephone 480SL (hoạt chất Ethephon min 91%) pha ở nồng độ 0,4 - 0,5% và 1,5% urê khuấy trộn đều rồi phun ướt đều toàn bộ cây (lượng nước phun khoảng 2.000 lít/ha).
(2) Đất đèn khô: đập nhỏ đất đèn thành các hạt nhỏ (hạt có khối lượng 1 - 1,5gam), bỏ hạt đất đèn vào nỏn dứa (mỗi cây 1 hạt) vào buổi sáng sớm khi còn sương đọng ở nõn hoặc bỏ vào buổi tốt. Trong các tháng mùa khô cần tưới nước vào nõn cây trước khi bỏ đất đèn; tiến hành xử lý nhắc lại lần 2 cách lần thứ nhất 3 ngày.
(3) Đất đèn ướt: hoà đất đèn thành dung dịch có nồng độ 1,5 - 2,0% rót vào nõn cây dứa với lượng khoảng 50 - 60ml/cây. Tiến hành xử lý vào buổi sáng sớm hoặc buổi tối; tiến hành xử lý nhắc lại lần 2 cách lần thứ nhất 3 ngày. Bổ sung urê vào dung dịch đất đèn với lượng 30 gam/10 lít dung dịch để làm tăng khả năng ra hoa.
Lượng đất đèn xử lý ra hoa khoảng 80 kg/ha.
(4) Ngoài ra, có thể xử lý theo cách dưới đây:
Bảng 5. Cách xử lý ra hoa dứa
Hóa chất | Nồng độ sử dụng | Số lần,cách xử lý | Điều kiện xử lý |
Ethephon 48% + Urea (Nước lạnh 10 -12oC) | 500 ppm + 2% | Xử lý 2 lần (cách nhau 2 - 3 ngày), rót vào tim đọt 50 - 60 ml | Tưới nước 2 - 3 ngày trước khi xử lý ra hoa |
CaC2 (Nước lạnh 10-12oC) | 2% | Xử lý 2 lần (cách nhau 2 - 3 ngày), rót vào tim đọt 50 - 60 ml | Tưới nước 2 - 3 ngày trước khi xử lý ra hoa |
2.8. Phòng trừ sâu, bệnh hại
2.8.1. Quản lý dịch hại tổng hợp
Để phòng trừ sâu, bệnh hại cây dứa cần áp dụng đồng bộ các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), gồm:
- Biện pháp canh tác: sử dụng giống sạch bệnh; làm đất kỹ, thu gom, tiêu hủy tàn dư thực vật vụ trước; xử lý đất; mật độ trồng thích hợp, trồng đúng thời vụ; quản lý cỏ dại hợp lý; tưới, tiêu nước hợp lý; bón phân đầy đủ, cân đối.
- Biện pháp cơ giới, vật lý: Sử dụng bẫy, bả dẫn dụ, bắt sâu trưởng thành; nhổ bỏ những cây bị nhiễm bệnh nặng để tránh lây nhiễm.
- Biện pháp sinh học: Bảo vệ thiên địch và sinh vật có ích trên đồng ruộng để khống chế sinh vật gây hại; sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu, bệnh.
- Biện pháp hóa học: Khi sâu bệnh phát sinh, gây hại đến ngưỡng thì tiến hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ. Dùng các thuốc có trong danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam hoặc tham khảo sử dụng các thuốc phòng, trừ sâu bệnh hại trên cây trồng khác; ưu tiên sử dụng các thuốc an toàn, thuốc có nguồn gốc sinh học; áp dụng theo nguyên tắc 4 đúng và đảm bảo thời gian cách ly.
2.8.2. Sâu hại chính trên cây dứa
a) Rệp sáp (Dysmicoccus brevipes/ Dysmicoccus sp.)
- Đặc điểm gây hại: Rệp sáp rất phổ biến trên các vùng trồng dứa, chúng xuất hiện chủ yếu trong mùa khô; rệp sáp tấn công trên rễ, chồi, thân, lá, hoa và quả của cây dứa; là đối tượng truyền bệnh virus gây héo khô đầu lá. Thành trùng cái hình bầu dục, màu hồng, toàn thân phủ một lớp sáp trắng. Rệp sáp có khả năng sinh sản rất cao và nhanh. Trong 01 năm có thể có 5 - 6 thế hệ. Cả ấu trùng và thành trùng thường sống tập trung dưới gốc, rễ, đôi khi cũng di chuyển lên nách lá và quả. Cây bị tấn công nặng rễ bị hư, cây bị héo và quả nhỏ.
Rệp sáp thường gây hại nặng trên những ruộng dứa trồng nhiều vụ, không thông thoáng. Rệp sáp gây hại nặng nhất là trong mùa khô. Kiến đen làm lây lan rệp sáp từ cây này sang cây khác.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Làm đất kỹ trước khi trồng; thực hiện tốt vệ sinh đồng ruộng; xử lý đất, xử lý cây con với các loại thuốc trừ rệp sáp, kiến, mối. Bón phân đầy đủ, cân đối giữa đạm, lân, kali để cây khỏe mạnh. Thực hiện tốt việc tưới và tiêu nước.
+ Diệt trừ kiến, rệp sáp bằng cách rãi thuốc hoặc dùng bẫy dẫn dụ kiến đến ăn thức ăn có trộn thuốc.
+ Thuốc hóa học: trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện nay chưa có thuốc đăng ký phòng trừ rệp sáp hại cây dứa; có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc trừ rệp sáp trên cây trồng khác (cây ăn quả, rau…) nhưng phải nằm trong danh mục thuốc BVTV được sử dụng tại Việt Nam hiện hành; ưu tiên sử dụng thuốc an toàn với môi trường, nông sản và thực hiện đúng thời gian cách ly. Có thể tham khảo sử dụng thuốc có hoạt chất: Abamectin (min 90%); Abamectin 20g/l + Matrine 5g/l; Abamectin 1% + Petroleum oil 24%; Abamectin 0.3% + Petroleum oil 88%; Acetamiprid (min 97%); Acetamiprid 186g/l + Pyriproxyfen 124g/l; Spirotetramat (min 96%); Fenobucarb (BPMC) (min 96%); Buprofezin (min 98%); Imidacloprid (min 96%); Buprofezin (min 98%) …Nồng độ, liều lượng phun theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
b) Bọ cánh cứng (Antitrogus sp.)
- Đặc điểm gây hại: Bọ cánh cứng sống và đẻ trứng dưới đất, ấu trùng nở ra có màu trắng dài khoảng 30 - 35 mm, tấn công vào bộ rễ làm cây bị héo và dễ đổ ngã; gây vết thương ở rễ tạo điều kiện cho tuyến trùng và bệnh xâm nhập vào rễ và gây hại.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Cày bừa, làm đất kỹ để diệt bọ tồn tại trong đất.
+ Thuốc hóa học: trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện nay chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bọ cánh cứng hại cây dứa; có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc trừ bọ cánh cứng trên cây trồng khác (cây ăn quả, rau, mía…) nhưng phải nằm trong danh mục thuốc BVTV được sử dụng tại Việt Nam hiện hành; ưu tiên sử dụng thuốc an toàn với môi trường, nông sản và thực hiện đúng thời gian cách ly. Một số thuốc tham khảo sử dụng như: Vimatox 5SG; Ometar 1.2 x 109 bào tử/g; có thể xử lý đất trước khi trồng dứa và định kỳ 3 - 4 tháng rải thuốc ngừa bọ cánh.
2.8.3. Bệnh hại chính trên cây dứa
a) Bệnh héo khô đầu lá dứa (do virus)
Đây là một loại bệnh rất phổ biến và gây hại nghiêm trọng nhất hiện nay. Bệnh thường thể hiện rõ triệu chứng héo khô đầu lá vào cuối mùa mưa cho đến hết mùa khô. Rệp sáp là đối tượng lan truyền bệnh.
- Triệu chứng: Bệnh héo khô đầu lá thể hiện đầu tiên ở các lá già làm lá bị đỏ, đầu lá bị khô và cong xuống dần, đến những lá khác trong cây, lúc đó toàn bộ lá bị đỏ, cây bị chết đi hoặc nếu có xử lý thì cho quả nhỏ năng suất giảm rỏ rệt.
-Biện pháp phòng trừ:
Do virus gây ra nên hiện nay chưa có thuốc đặc trị bệnh, phương pháp phòng là chủ yếu. Một số biện pháp như sau:
+ Trồng cây giống sạch bệnh và không mang rệp sáp. Chuẩn bị đất được thực hiện vào mùa khô, đất trồng cho cày xới sâu 30 cm, nhặt kỹ gốc cỏ, phơi đất từ 30 - 40 ngày; xử lý đất để diệt rệp sáp, kiến và tuyến trùng.
+ Nhổ bỏ toàn bộ cây bị bệnh để tránh lây lan.
+ Tuyệt đối không nên chọn giống từ cây mẹ bị bệnh.
+ Nên chọn chồi có quả dài để có năng suất cao, chồi khỏe, sạch sâu bệnh; đồng thời xử lý cây giống trong thuốc trừ rệp sáp 5 - 10 phút trước khi đem ươm hoặc đem trồng.
+ Trong quá trình chăm sóc thường xuyên phòng trừ kiến và rệp sáp để tránh lây lan nguồn bệnh bằng các loại thuốc trừ rệp sáp đăng ký trong danh mục, ưu tiên sử dụng thuốc sinh học, an toàn, đảm bảo thời gian cách ly và sử dụng đúng liều lượng, nồng độ.
b) Bệnh thối rễ và thối nõn (do nấm Phytophthora sp.)
Bệnh thối rễ và thối nõn dứa thường xuất hiện nhiều trong mùa mưa, nơi có hệ thống thoát nước kém hoặc vùng đất quá ẩm.
- Triệu chứng:
+ Ở rễ: Khi bộ rễ dứa bị nhiễm bệnh ảnh hưởng đến toàn bộ cây, triệu chứng ban đầu là cây còi cọc, chậm sinh trưởng, chóp lá già bị thối đen và khô đi. Khi nhổ lên rễ bị thối, vỏ rễ tróc ra, cắt dọc theo thân rễ sẽ thấy những vùng thối đen lan tràn từ dưới lên, có mùi đặc trưng. Trường hợp bị nặng, rễ chết hoàn toàn, không hấp thu được nước và dinh dưỡng nên lá chuyển dần qua màu đỏ nhạt và thậm chí bị khô đầu lá.
+ Ở nõn: Triệu chứng thối nõn đầu tiên xuất hiện trên các lá ở giữa, lá có màu vàng hoặc hơi nâu, phần tâm ngọn dứa bị thối làm cho ngọn dứa bị héo.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Mặt luống trồng cần được làm cao ráo, thoát nước tốt, trồng đúng khoảng cách. Có hệ thống mương rãnh thoát nước tốt trong mùa mưa và trong khi tưới không để bộ phận rễ ngập úng. Không nên phủ cỏ sát gốc vào mùa mưa.
+ Nên xử lý hom trước khi trồng bằng thuốc đã đăng ký trong danh mục và các loại thuốc gốc đồng với nồng độ, liều lượng theo khuyến cáo.
+ Thuốc hóa học: trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện nay có một số thuốc đăng ký phòng trừ bệnh thối nõn dứa như: Sat 4SL (hoạt chất Cytosinpeptidemycin); Lilacter 0.3SL (hoạt chất Eugenol (min 99%)); Alimet 80WP, 80WG (hoạt chất Fosetyl-aluminium (min 95%)); Alonil 800WG (hoạt chất Fosetyl-aluminium (min 95%)); ANLIEN- annong 800WP (hoạt chất Fosetyl-aluminium (min 95%)); Ditacin 8SL (hoạt chất Ningnanmycin (min 20%)); Tricô ĐHCT- Khóm108 bào tử/g WP (hoạt chất Trichoderma sperellum 80% (8 x 107 bào tử/g) + Trichoderma harzianum 20% (2 x 107 bào tử/g)). Có thể luân phiên, kết hợp sử dụng các loại thuốc này với liều lượng như khuyến cáo của nhà sản xuất.
c) Bệnh thối quả dứa(do nấm Thielaviopsis paradoxa)
- Triệu chứng: Nấm bệnh có thể tấn công ngay vết cắt của cuống quả làm thối cuống và đáy quả, nấm cũng tấn công quả bị tổn thương trong lúc vận chuyển. Nhiệt độ và ẩm độ cao là 2 yếu tố gia tăng tỷ lệ bệnh và quả dứa sẽ thối rất nhanh.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Thu hoạch cẩn thận tránh làm quả bị xây xát, loại bỏ quả bị tổn thương. Dụng cụ bao bì phải sạch khi vận chuyển và bảo quản quả.
+ Thuốc hóa học: trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện nay chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh thối quả dứa; có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc trừ bệnh thối quả do nấm gây ra trên cây ăn quả khác, nhưng phải nằm trong danh mục thuốc BVTV được sử dụng tại Việt Nam; ưu tiên sử dụng thuốc an toàn với môi trường, nông sản và thực hiện đúng thời gian cách ly theo khuyến cáo.
d) Tuyến trùng hại rễ (phổ biến gồm Pratylenchus brachyurus và Meloydogyme incofnita acaita)
- Triệu chứng: Tuyến trùng tấn công trên bề mặt rễ tạo thành những vùng đen do tế bào rễ chết hoặc gây tổn thương; cây dứa kém phát triển, đỏ lá.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Dọn sạch cỏ trên vườn, quản lý tốt bệnh hại rễ và trong canh tác cần tránh gây vết thương cho rễ để tránh tuyến trùng xâm nhập.
+ Thuốc hóa học: trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam hiện nay chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh tuyến trùng hại cây dứa; có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc trừ tuyến trùng trên cây trồng khác (cây ăn quả, rau…) nhưng phải nằm trong danh mục thuốc BVTV được sử dụng tại Việt Nam; ưu tiên sử dụng thuốc an toàn với môi trường, nông sản và thực hiện đúng thời gian cách ly. Có thể tham khảo sử dụng các thuốc có hoạt chất: Fluopyram (min 96%); Abamectin (min 90%); Carbosulfan (min 93%); Carbosulfan (min 93%); Clinoptilolite … Nồng độ, liều lượng phun theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
* Ngoài các sâu, bệnh phổ biến trên, trên cây dứa còn một số đối tượng khác gây hại, như: Bệnh thối thân, thối gốc(do nấm Thielaviopsis paradoxa) và Nhện đỏ (Dolichotetranycus sp.)...; khi sâu, bệnh phát sinh gây hại có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc trong danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam đăng ký trừ sâu, bệnh trên cây dứa hoặc cây ăn quả khác. Yêu cầu đảm bảo thời gian cách ly, sử dụng đúng liều lượng; ưu tiên sử dụng thuốc sinh học, an toàn.
III. Thu hoạch, sơ chế, chế biến và bảo quản
1. Thu hoạch
Thời gian chín của quả dứa rất nhanh, khi gặp nhiệt độ cao hay có mưa rào lớn quá rất dễ bị thối; do đó cần tiến hành thu hoạch ngay khi quả đạt yêu cầu.
- Thu koạch cho mục đích ăn tươi và xuất khẩu tươi: Thời gian thu hoạch quả tốt nhất là khi quả có màu xanh nhạt và 1-2 hàng mắt ở gần cuống có màu vàng.
- Dùng để chế biến cho công nghiệp: thường được thu hoạch lúc quả chưa tới độ chín hoàn toàn, khoảng 105 - 110 ngày sau khi nở hoa (Thu hoạch khi 1/3 vỏ quả tính từ gốc đã chuyển màu vàng).
Kỹ thuật thu hái: Dùng dao sắc để cắt cuống quả, cắt quả kèm theo đoạn cuống dài 2 - 3cm, vết cắt phẳng, không để dập; không gây bầm dập quả, gãy cuống, gãy ngọn. Không thu hoạch vào những ngày có mưa hoặc nắng gắt.
2. Sơ chế, chế biến
Phần lớn sản phẩm (quả) dứa hiện nay là tiêu thụ quả tươi (phục vụ chế biến ăn nhanh: ăn tươi, ép nước uống, chế biến món ăn hàng ngày). Một phần còn lại được chế biến sâu bằng công nghiệp (dứa đóng hộp, nước ép đóng chai, kem dứa, kẹo dứa và chiết xuất chất Bromelin tạo các sản phẩm phục vụ trong chăm sóc sức khỏe con người).
3.Bảo quản
Quả sau khi thu hoạch cần vận chuyển ngay về nơi bảo quản. Dụng cụ thu hoạch, bảo quản phải sạch, tránh gây tổn thương trên vỏ qủa trong quá trình thu hái và vận chuyển. Thời gian từ thu hoạch đến khi đưa vào kho bảo quản không quá 24 giờ (trong điều kiện khí hậu khô nóng) và không quá 36 giờ (trong điều kiện khí hậu mát mẻ).
- Bảo quản quả sử dụng cho ăn tươi: chọn quả đẹp, không bị dập, không bị sâu bệnh hại; vặt bỏ lá ở gốc quả, cắt bằng cuống cách gốc 2cm; phân loại, đóng gói đưa vào kho mát khoảng 7 - 8oC để bảo quản (nếu không có kho bảo quản mát thì cho vào bảo quả nơi khô ráo, thoáng mát).
- Bảo quản quả để chế biến công nghiệp: Phân loại quả, chọn quả lành và loại bỏ quả hư hỏng, bị dập. Đối với quả có 1 - 2 hàng mắt quả chuyển vàng thì đưa vào kho mát 10 - 12oC, đối với những quả bắt đầu chín đưa vào kho mát 7 - 8oC để bảo quản.
Với điều kiện nhiệt độ như trên và độ ẩm trong kho khoảng 85 - 90% có thể bảo quản được 15 - 20 ngày.
Quả nên được vận chuyển đến nhà máy chế biến hay các chợ tiêu thụ, bến cảng... trong vòng 24 - 48 giờ.