Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên dưa.
QUY TRÌNH
Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây dừa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
(Ban hành kèm theo quyết định số........./QĐ-UBND ngày ..../..../2025 của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I. Mục tiêu kinh tế kỹ thuật.
1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản: 4 năm (1 năm trồng và 3 năm chăm sóc).
2. Thời kỳ kinh doanh: giống dừa cao 40 - 45 năm, đối với giống dừa lùn 20 năm, tính từ năm thứ 5.
3. Chu kỳ kinh doanh: Cây dừa có chu kỳ kinh doanh đối với giống dừa cao 45 - 50 năm, đối với giống dừa lùn khoảng 24– 25 năm.
4. Mục tiêu năng suất:90-120 trái/cây/năm.
II. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh.
- Nhiệt độ: Cây thích hợp với nhiệt độ từ 20 - 340C, tối thích 270C.
- Ẩm độ: Thích hợp ẩm độ đất 80 - 90%, ẩm độ dưới 60% có thể gây ra hiện tượng rụng trái non.
- Gió: Phù hợp với gió nhẹ đến vừa.
3. Ánh sáng: Độ chiếu sáng 1.800 - 2.000 giờ chiếu sáng trên năm trở lên.
4. Đất đai: Cây phù hợp với nhiều loại đất khác nhau như đất thịt, đất phù sa, đất cát pha, đất có nhiều chất hữu cơ và có hàm lượng kali cao, tầng đất dày 0,8m trở lên, pH đất 5,0 - 7,5. Không trồng dừa nơi khô hạn và vùng bị ngập úng và ngập mặn liên tục.
III. Kỹ thuật trồng và chăm sóc.
1. Giống và tiêu chuẩn giồng cây trồng.
1.1. Giống:Dừa có thể được phân thành 2 nhóm giống chính là giống dừa cao và giống dừa lùn với các đặc điểm chủ yếu như sau:
- Giống dừa cao:Cây thụ phấn chéo, cho trái sau trồng từ 5 - 7 năm, trái lớn và số trái trên quày ít, cây sinh trưởng nhanh, cao từ 18 - 20 mét, gốc phình to, cơm dừa dày 1,2 - 1,3 cm, hàm lượng dầu 65 - 67%, chu kỳ khai thác từ 45-50 năm và có khả năng thích nghi tốt với các điều kiện bất lợi của môi trường.
- Giống dừa lùn:Cây tự thụ phấn, cho trái sau trồng từ 3 - 4 năm, trái nhỏ và số trái trên quày nhiều, cây sinh trưởng chậm, cây thấp từ 10 - 12 mét, gốc nhỏ, thẳng, cơm dừa dày 0,7 - 1 cm, hàm lượng dầu nhỏ hơn 63%, chu kỳ khai thác từ 20 năm và có khả năng thích nghi kém với các điều kiện bất lợi của môi trường.
- Ngoài ra, có giống dừa lai là kết quả lai tạo giữa 2 giống dừa cao và dừa lùn nên mang đặc tính trung gian của 2 nhóm giống nói trên. Ưu điểm nổi bật là ra hoa sớm, năng suất cao, hàm lượng dầu cao và có khả năng thích nghi với một số điều kiện bất thuận của môi trường.
+ Khu vực Đắc Nông phù hợp với một số giống dừa lai như dừa xiêm xanh, dừa ta lai cao sản, dừa dâu (dừa đỏ).
1.2. Tiêu chuẩn cây giống.
- Tiêu chuẩn cây con giống dừa xuất vườn:
+ Thời gian cây con trong vườn ươm từ 7 - 9 tháng đối với giống dừa cao và 4 - 5 tháng đối với giống dừa lùn.
+ Cây sinh trưởng khỏe, thân thẳng, chỉ 1 mầm, có màu sắc và hình dạng đặc trưng của giống, gốc thân to, mọc nhiều rễ, lá có màu xanh đậm, láng, đã tách lá chét, không biểu hiện nhiễm bị sâu bệnh.
+ Cây con xuất vườn cao 70 - 100cm,số lá thật 5- 6, chu vi gốc 10-12cm.
+ Có nguồn gốc rõ ràng, đúng giống, sinh trưởng tốt, nhiều lá, lá xanh sậm, chu vi cổ thân to, không biểu hiện nhiễm bị sâu bệnh và dị dạng.
+ Sử dụng các giống cây dừa được cấp Quyết định công nhận lưu hành, tự lưu hành, lưu hành đặc cách, các giống trong danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh có thẩm quyền ban hành và được chuyển tiếp theo quy định.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc.
2.1. Thời vụ trồng.
- Cây dừa có thể trồng quanh năm tại những vùng chủ động nguồn nước tưới. Đối với những vùng không chủ động nước tưới, trồng vào đầu mùa mưa từ tháng 5 - 6, kết thúc trồng từ khoảng tháng 8 - 9, trước 2 tháng khi vào mùa khô.
- Khu vực Bình Thuận có thể trồng từ tháng 4 ở các vùng mùa mưa đến sớm và khu vực Đắc Nông có thể trồng tháng 9-10 ở vùng chủ động nguồn nước.
2.2. Mật độ và khoảng cách trồng
- Tùy tính chất đất, địa hình và thiết kế vườn trồng theo phương pháp hình vuông mật độ thấp hơn phương pháp tam giác đều, mật độ trồng dừa như sau:
+ Giống dừa cao khoảng cách 9 x 9m, mật độ từ 123 - 143 cây/ha.
+ Giống dừa lai khoảng cách 8,5 x 8,5m, mật độ từ 138 - 160 cây/ha.
+ Giống dừa lùn khoảng cách 8 x 8m, mật độ từ 156 - 180 cây/ha.
- Trồng dặm những cây yếu, cây dị dạng, cây chết ở mùa mưa tiếp theo để cây dừa trong vườn cho trái đồng đều. Cây trồng dặm phải cùng tuổi với cây trồng ban đầu, lượng cây dự trữ để dặm khoảng 5%.
2.3. Chuẩn bị đất.
- Tiến hành dọn sạch lớp thực bì và cày xới, đào hố và bón lót trước khi trồng khoảng 1 tháng.
- Trước khi lên luống, gom lớp đất mặt dùng để đấp mô trồng với kích thước mô chiều rộng nhỏ nhất 1 m, chiều cao ít nhất 0,5 m. Đối với đất vườn cũ trước khi trồng, gom lớp đất mặt vun mô lên cao để không bị úng trong mùa mưa.
2.4. Đào hố.
Kích thước hố 60 x 60 x 60 cm đối với vùng đất cát, tầng nước ngầm sâu đào 60 x 60 x 90 cm. Khi đào để riêng lớp đất mặt (20 - 25 cm) sang 1 bên, lớp đất dưới đáy sang 1 bên.
- Bón lót: Mỗi hố bón từ 25-30kg phân chuồng hoai (hoặc 8-10kg phân hữu cơ vi sinh) 0,1kg supe lân + 0,2kg kali, trộn đều phân với lớp đất mặt rồi cho xuống hố và lấp đất đầy hố trước khi trồng 15-20 ngày.
2.5. Kỹ thuật trồng.
- Đào một lỗ giữa hố, có kích thước bằng quả dừa, sau đó đặt cây con vào hố, lấp đất khoảng 2/3 quả. Ém đất xung quanh vừa phải, mỗi hố trồng 1 cây. Cây giống cao quá 0,8 mét, phải cắm cây giữ chặt và buộc dây tránh gió làm lung lay gốc ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây.
+ Trường hợp cây con ươm trong túi nylon, dùng dao rạch một đường vòng tròn xung quanh đáy cách đáy túi 1 - 2cm, không rạch sâu để tránh tổn thương cho rễ, nâng cây con đặt nhẹ vào hố, không làm bể đất lộ bộ rễ ra, lấp đất xung quanh cây, dùng chân giậm nhẹ quanh gốc, nhưng không giậm sát gốc, điều chỉnh vị trí cây cho ngay hàng, trồng dừa ngang mặt đất không tạo ụ. Tiếp theo rạch một đường dọc, cho đất lấp bầu đất từ từ, sau đó kéo túi nylon ra khỏi hố.
+ Trường hợp ươm dừa trên luống dùng dụng cụ để bứng cây con, tránh bể đất. Nên bứng cây vào buổi sáng hay vào buổi chiều, tránh giữa trưa khi trời nắng. Nếu vận chuyển cây đi xa, cần che mát và tưới nước, tránh làm khô bộ rễ.
+ Đối với giống ươm ngoài đất, khi bứng cây lên nên xử lý quả trước khi trồng bằng cách là cắt tất cả rễ cho sát trái, nhằm kích thích cho cây phát triển bộ rễ mới nhanh hơn. Các phần còn lại thao tác giống như dừa ươm trong bầu.
2.6. Phân bón và kỹ thuật bón phân.
2.6.1. Lượng phân bón cho cây dừa thời kỳ kiến thiết cơ bản.
- Phân chuồng ủ hoai: 5.400kg/ha, bón bình quân 30kg/hố. (trường hợp không có phân chuồng, có thể thay bằng 1.800 kg/ha phân hữu cơ vi sinh, bón bình quân 10kg/hố).
- Phân vô cơ:
Bảng 1: Lượng phân bón thời kỳ KTCB (180 cây)/năm. ĐVT: kg/ha/năm.
STT | Tuổi cây | Phân chuồng ủ hoai | Lượng phân bón nguyên chất | Lượng phân bón thương phẩm | ||||
N | P2O5 | K2O | Ure | Supe lân | Kali clorua | |||
1 | Năm thứ 1 | 5.400 | 13 | 7 | 32 | 28 | 44 | 53 |
2 | Năm thứ 2 | 5.400 | 25 | 7 | 43 | 54 | 44 | 72 |
3 | Năm thứ 3 | 5.400 | 33 | 14 | 65 | 72 | 88 | 108 |
4 | Năm thứ 4 | 5.400 | 41 | 14 | 86 | 89 | 88 | 143 |
*. Trường hợp thay phân đơn Ure, supe lân và kaliclorua bằng phân bón hỗn hợp, sử NPK 15-15-15 với liều lượng từng năm như sau.
Năm thứ 1 bón 90kg/ha (mỗi gốc 0,5kg phân NPK: 15-15-15).
Năm thứ 2 bón 135kg/ha (mỗi gốc 0,75kg phân NPK: 15-15-15).
Năm thứ 3 bón 180kg/ha (mỗi gốc 1kg phân NPK: 15-15-15).
Năm thứ 4 bón 225kg/ha (mỗi gốc 1,25kg phân NPK: 15-15-15).
- Kỹ thuật bón: Bón 2 lần trong năm, vào thời điểm đầu và cuối mùa mưa.
Bảng 2: Kỹ thuật bón phân bón thời kỳ KTCB.
STT | Hạng mục | Phân chuồng (%) | Ure (%) | Supe lân (%) | Kaliclorua (%) | Thời gian bón (tháng) |
1 | Lần 1 | 100 | 50 | 50 | 50 | 5-6 |
2 | Lẩn 2 | - | 50 | 50 | 50 | 9-10 |
+ Lần 1 (tháng 5 - 6): 100% phân chuồng + 50% Ure + 50% Supe lân + 50% Kaliclorua (kali đỏ).
+ Lần 2 (tháng 9 - 10): bón lượng phân Ure, Supe lân, Kaliclorua (kali đỏ hay Kcl) còn lại.
Cách bón: Đào rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu của tán lá, sâu 10 - 15 cm, rộng 15 - 20 cm, bón phân và lấp kín lại, giai đoạn đầu bón quanh gốc, cách gốc 0,3 - 0,5 m. Sau đó tăng dần theo hình chiếu của tán lá. Khi cây trưởng thành, bón quanh gốc, cách gốc 1,8 - 2,0 m.
2.6.2. Lượng phân bón cho cây dừa thời kỳ kinh doanh.
- Phân chuồng ủ hoai 9.000 kg/ha,bón bình quân 50kg/cây. (trường hợp không có phân chuồng, có thể thay bằng 2.700 kg/ha phân hữu cơ vi sinh, bón bình quân 15kg/cây).
- Lượng vô cơ nguyên chất: 83 kg N + 128 kg P2O5 + 108 kg K2O/ha/năm.
Bảng 3: Lượng phân bón thời kỳ kinh doanh (180 cây)/năm.
ĐVT: kg/ha/năm.
Tuổi cây | Lượng phân bón nguyên chất | Lượng phân bón thương phẩm | ||||
N | P2O5 | K2O | Ure | Supe lân | Kaliclorua | |
Từ năm thứ 5 trở đi | 83 | 128 | 108 | 180 | 180 | 180 |
2.6.3. Kỹ thuật bón
Biểu 4: Kỹ thuật bón phân bón thời kỳ kinh doanh.
STT | Hạng mục | ĐVT | Lần 1 (tháng 5) | Lần 2 (tháng 8) | Lần 3 (tháng 11) | Lần 4 (tháng 2) |
1 | Phân hữu cơ | Kg | 9.000 | - | - | - |
2 | Phân ure | Kg | 36 | 36 | 54 | 54 |
3 | Phân supe lân | Kg | 180 | - | - | - |
4 | Phân Kcl | Kg | 54 | 36 | 36 | 54 |
- Kỹ thuật bón:
+ Đối với phân hữu cơ bón 1 đợt vào tháng 5 lượng bón 9.000kg phân chuồng hoai hoặc 2.700kg phân hữu cơ vi sinh.
+ Đối với phân bón vô cơ mỗi năm bón 4 đợt vào các tháng 5; 8; 11 và 2 với lượng phân bón theo bảng 2.
Trồng trên chân đất chua phèn, có thể bón thêm vôi bột với liều lượng từ 150-300 kg cho 1 ha. Bón vôi trước rồi tưới đẫm, sau đó bón phân vô cơ.
+ Cách bón: Xới nhẹ đất trong vùng tập trung nhiều rễ, cách gốc 1,5 - 2,5m sâu 0,1- 0,2 m tùy theo tuổi của cây dừa, rải đều phân, khỏa đất lấp kín phân hoặc phủ mùn dừa hay lá dừa lên trên, bón phân thời điểm nắng kéo dài cần tưới đủ nước cho cây.
2.7. Chăm sóc.
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản:
Cây con sau khi trồng rất cần nước, vì vậy, để giữ ẩm cho đất, dùng rơm, rạ, cỏ khô tủ gốc cây trong mùa nắng và khoảng 2 - 3 ngày tưới 1 lần tùy vào ẩm độ ở gốc. Qua năm thứ 2, tiến hành đắp thêm đất gốc để tạo điều kiện cho rễ phát triển. Năm thứ 3 cũng chăm sóc như năm thứ 2, giai đoạn này nếu được chăm sóc tốt, đúng quy trình kỹ thuật thì sau 26 - 28 tháng cây sẽ cho hoa đầu tiên.
- Thời kỳ kinh doanh:
Giai đoạn này cây đã cho trái vì thế quá trình chăm sóc cây cần phải tuân thủ đúng quy trình hướng dẫn để cho năng suất cao và ổn định.
Chăm sóc vườn trồng giữ cỏ dại hợp lý, tạo thông thoáng cho cây có đầy đủ ánh sáng để quang hợp. Giai đoạn cây dừa 4 - 6 tuổi, hàng năm nên tổng vệ sinh cây từ 1 - 2 lần như dọn gom tất cả các nhen, bông mo khô, tàu dừa khô dính trên cây, rọc các nhen còn dính quá chặt trên đọt để giúp lá bung nhanh, cây phát triển tốt hơn, ngoài ra việc vệ sinh cũng là một phương pháp phòng ngừa kiến vương gây hại rất hiệu quả, song song đó ngừa luôn cả đuông dừa.
2.8. Sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ.
2.8.1.Quản lý dịch hại tổng hợp.
Phòng trừ sâu, bệnh hại cây dừa bằng các biện pháp phòng trừ tổng hợp như sau:
- Biện pháp canh tác:
+ Trồng cây giống sạch bệnh được cung cấp từ các cơ sở ươm cây giống đã công bố tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.
+ Cây giống xuất vườn phải đạt các tiêu chí như ươm từ 7 - 9 tháng đối với giống dừa cao và 4 - 5 tháng đối với giống dừa lùn. Cây cao 70 - 100 cm; có 5 - 6 lá thật; chu vi gốc: 10 - 12 cm, sinh trưởng khỏe, thân thẳng, chỉ 1 mầm, có màu sắc, hình dạng đặc trưng của giống, gốc thân to, mọc nhiều rễ, lá màu xanh đậm, láng, đã tách lá chét, không biểu hiện nhiễm bị sâu bệnh.
+ Làm đất kỹ, thu gom tiêu hủy tàn dư thực vật vụ trước, bón vôi bổ sung để nâng pH lên 5,0 - 7,5 và cày trộn đều trong đất, phơi ải đất từ 1 - 2 tuần để tiêu diệt một số sâu bệnh hại, làm luống xác định mật độ trồng thích hợp, trồng đúng thời vụ, quản lý cỏ dại, tưới tiêu nước hợp lý.
- Biện pháp cơ giới, vật lý:
+ Sử dụng bẫy, bả dẫn dụ, bắt sâu trưởng thành; nhổ bỏ những cây bị nhiễm bệnh nặng để tránh lây nhiễm.
+ Thường xuyên kiểm tra vườn trồng, đốt tiêu hủy lá nhiễm bệnh xa vườn trồng. Tuyệt đối không vứt bỏ lá, cây bị nhiễm bệnh lên bờ, xuống mương suối hoặc nguồn nước.
- Biện pháp sinh học:
Bảo vệ thiên địch và sinh vật có ích trên vườn để khống chế sinh vật gây hại; sử dụng các chế phẩm sinh học, thảo mộc để phòng trừ sâu, bệnh hại.
- Biện pháp hóa học:
Khi sâu bệnh phát sinh, gây hại đến ngưỡng thì tiến hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ. Dùng các thuốc có trong danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam hoặc tham khảo sử dụng các thuốc phòng, trừ sâu bệnh hại trên cây trồng khác; ưu tiên sử dụng các thuốc an toàn, thuốc có nguồn gốc sinh học; áp dụng theo nguyên tắc 4 đúng và đảm bảo thời gian cách ly.
2.8.2. Đối với sâu hại:
a. Bọ dừa(BrontispalongissimaGestro)
- Đặc điểm gây hại:
Thành trùng và ấu trùng đều gây hại. Bọ dừa không thích ánh sáng, chúng chỉ xâm nhập vào các kẻ lá dừa non còn xếp, chưa bung ra và gây hại bằng cách ăn biểu bì trên mặt lá non theo từng hàng song song với gân chính.
Những vệt cắn phá tạo thành những vết có màu nâu, làm cho lá bị cong vẹo và khô giống như bị cháy, bị rách và cây trở nên xơ xác. Trên cây có từ 8 lá bị hại thì năng suất giảm, nặng hơn cây có thể bị chết.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: Chăm sóc tốt cây dừa để rút ngắn thời gian nở bung bó lá ngọn, hạn chế môi trường sinh sản của bọ bọ dừa và tăng sức đề kháng cho cây bằng cách cắt bỏ, tiêu hủy lá bị gây hại.
+Biện pháp sinh học: Dùng ong ký sinh (Asecodes hispinarum), loài ong này có kích thước rất nhỏ, màu đen, hút mật hoa và khi đẻ trứng vào bên trong cơ thể nhộng và cuối cùng tiêu diệt nhộng.
+ Biện pháp hóa học: Thuốc bảo vệ thực vật chứa hoạt chất Cartap, Thiamethoxam, Metarhizium anisopliae … trộn với mùn cưa cho vào bao vải mỏng treo ở ngọn cây, khả năng phòng trừ tốt đạt hiệu quả cao và thời gian sử dụng có thể kéo dài đến 90 ngày.
Dùng thuốc chứa hoạt chất Thiamethoxam bơm vào thân cây dừa, cách gốc 1-1,5m, đục lổ nghiêng 45 độ, sâu từ 3-4cm, bơm xong dùng đất sét bít lỗ lại.
b. Kiến vương(Oryctes rhinoceros L.)
- Đặc điểm gây hại:
Chúng là một loại côn trùng phổ biến và gây thiệt hại nhiều nhất cho cây dừa. Thành trùng tấn công cây dừa ở đủ mọi lứa tuổi, ăn các lá non đang phát triển, đục vào chồi và đỉnh tăng trưởng của dừa, trường hợp nặng có thể gây chết cây dừa. Chúng trải qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng và thành trùng.
Đối với cây dưới 1 năm tuổi kiến vương luôn tấn công vào gốc của cây nơi thân còn đủ mềm, một vài trường hợp chúng chui qua đất để khoét vào thân cây. Trường hợp này có thể rải thuốc trừ sâu trộn vào lớp đất mặt để diệt trừ.
Đối với cây trưởng thành kiến vương tấn công vào bó lá ngọn và đỉnh tăng trưởng của cây. Vì vậy khi lá mọc ra có hình tam giác và lá chét bị cắt có hình răng lược. Nếu liên tục bị tấn công cây sẽ mất sức phát triển do bộ lá bị hư hại, nhưng nguy hiểm nhất chính là đuông, nấm sẽ xâm nhập vào thân dừa qua chổ vết thương do kiến vương gây ra.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: Vệ sinh cây không để kiến vương gây hại. Kiểm tra định kỳ, bắt bằng tay. Thu gom và đốt những đống rác, thân, lá dừa hoai mục, ... không tạo môi trường cho kiến vương đẻ trứng.
Dùng 1 đoạn lưới cỡ mắt lưới 2 cm, dài 3 m x rộng 0,6m, quấn kín khoảng 5-6 kẻ bẹ lá ngọn, khi kiến vương bay vào sẽ bị vướng lưới chết.
+ Biện pháp sinh học:Sử dụng nấm Metarhizium anisopliae để phòng trừ
+ Biện pháp hóa học:
Nếu phát hiện có kiến vương tấn công dừa, dùng thuốc chứa hoạt chất Cypermethrin bơm vào các lỗ đục.
c. Đuông(Rhynchophorus ferruginenus O.)
- Đặc điểm gây hại:
Đuông là côn trùng gây hại nguy hiểm nhất bởi vì rất khó phát hiện khi chúng bắt đầu tấn công đọt non, đến khi phát hiện ra thì đỉnh sinh trưởng đã bị phá hủy, cây dừa chết mà không thể cứu được. Ngoài ra, đối với cây nhỏ hay cây sắp vươn lóng, đuông cũng có thễ tấn công ở gốc thân.
Nhìn chung, cây dừa từ 2 - 15 năm tuổi đều có thể bị đuông tấn công nhưng cây dừa từ 3 - 6 năm tuổi là giai đoạn bắt đầu hình thành gốc và thân thì dễ bị tấn công hơn. Vòng đời của đuông dừa trải qua 4 giai đoạn là trứng, ấu trùng, nhộng và thành trùng. Trong đó, chỉ có ấu trùng gây hại cây dừa.
- Biện pháp phòng trừ:
Nhằm ngăn cản sự tấn công của đuông cần tránh những tổn thương trên thân dừa, là nơi tạo chổ đẻ trứng của chúng. Dùng bột than để sơn lên các vết thương của cây con. Kiểm soát kiến vương vì các điểm gây hại của kiến vương có thể trở thành nơi đẻ trứng cho đuông. Chặt và đốt những cây dừa đã bị ảnh hưởng nặng của đuông và giết những côn trùng ở tất cả những giai đoạn khác nhau. Thu gom xác cây dừa non, gốc dừa đã chết, nơi có thể trở thành chổ đẻ trứng của đuông. Kiểm tra thường xuyên để phát hiện kịp thời sự xuất hiện của đuông. Bắt đuông và các côn trùng gây hại khác ở giai đoạn phá hoại chủ yếu của chúng và sơn phủ các vết sơn bằng một lớp bột than.
d. Sâu nái(Parasa lepida)
- Đặc điểm gây hại:
Giai đoạn ấu trùng gây hại chủ yếu của loài này. Giai đoạn đầu ấu trùng ăn lớp biểu bì bên dưới của lá. Đến khi già chúng ăn toàn bộ phiến lá chỉ để lại gân lá, gây hại nặng có thể làm rụng lá. Ban ngày nằm bất động ở mặt dưới lá. Sâu rất ngứa khi chạm phải vì các lông nhọn và dễ gãy trong da, chổ gãy của lông sẽ tiết ra chất độc gây ngứa hoặc cảm giác nóng bỏng, rát khi tiếp xúc với da người.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Biện pháp canh tác: Cày xới đất tiêu diệt các kén của loài sâu này.
+ Biện pháp sinh học: Sử dụng côn trùng ký sinh như là ruồi và ong bắp cày giảm tối thiểu sự gây hại của sâu nái. Chúng đẻ trứng trên ấu trùng và nhộng của sâu nái. Khi những con sâu non nhô ra khỏi trứng, sẽ làm mồi cho những con côn trùng ký sinh này.
+ Biện pháp vật lý: Đối với dừa nhỏ, bắt và giết các con sâu không gây ngứa và kén của nó để giảm mật độ sâu nái đến mức an toàn không gây hại cho dừa. Khi bắt sâu nái nên đeo bao tay vì gây ngứa khi tiếp xúc. Những con bướm trưởng thành là những côn trùng bay đêm, chúng bị thu hút bởi ánh sáng. Vì vậy, dùng bẫy ánh sáng là một giải pháp có hiệu quả. Các bẫy này có thể được cài đặt ở ngoài vườn khi các con bướm trưởng thành bắt đầu chui ra khỏi kén. Đặt khoảng 10 bẫy đèn cho 1ha là hợp lý.
+ Biện pháp hóa học: Khi sâu nái xuất hiện mật độ cao, có thể phun các loại thuốc chứa hoạt chất Cypermethrin để phòng trừ.
e. Bọ vòi voi(Diocalandra frumenti)
- Đặc điểm gây hại:
+Trứng: Được đẻ trong khe nứt, rãnh ở phần cuối của rễ phụ, ở gốc thân cây, hoặc trên hoa, trên cuống hoa, cuống trái. Trứng màu trắng trong, dài 1 - 1,1 mm. Giai đoạn trứng 6 - 10 ngày.
+ Ấu trùng: Màu vàng lợt, có 5 tuổi.
Tuổi 1: 1 - 2 mm; tuổi 2: 2.1 - 2.6 mm; tuổi 3: 3.3 - 4.0 mm; tuổi 4: 4.2 - 5.5 mm; tuổi 5: 5.8 - 7.2 mm. Ấu trùng sống bằng cách đục thành đường hầm trong vỏ trái.
+ Nhộng: Trần, không tạo kén, màu trắng đục. Chiều dài cơ thể 6.7 - 7.2 mm. Hóa nhộng trong các đường đục của mô cây. Giai đoạn nhộng 10 - 16 ngày.
+ Trưởng thành: Là côn trùng bộ cánh cứng màu nâu đen. Cánh trước có 2 đốm vàng ở đầu cánh và cuối cánh. Trưởng thành sợ ánh sáng, hoạt động mạnh lúc chiều tối, chúng sống ở nơi tiếp xúc giữa hai trái hoặc gần cuống trái. Chiều dài con trưởng thành khoảng 7 - 8 mm, chiều ngang khoảng 1.5 mm.
Trái dừa bị hại thường có 3 - 5 con bọ vòi voi trưởng thành. Trái bị hại có nhiều vết nhựa chảy ra từ vết đục, tập trung quanh cuống trái. Nhựa màu trong suốt sau đó chuyển sang màu vàng, vàng nâu và khô cứng.
Tại nơi vết nhựa chảy ra thường có phân đi kèm (có thể do phân ấu trùng thải ra). Ấu trùng gây hại bằng cách đục vào vỏ trái, chúng có thể đục vào tới gáo dừa (giai đoạn trái non). Nếu trái dừa bị nhiều vết gây hại làm cho trái bị rụng sớm (tấn công trái <3 tháng) và làm trái méo mó, kích thước nhỏ (tấn công trái >3 tháng). Ngoài trái, chúng còn tấn công trên thân, gốc và rễ dừa.
- Biện pháp phòng trừ:
Chăm sóc vườn dừa, cắt bỏ những tàu lá bên dưới, tiêu hủy những trái bị nhiễm để hạn chế phát tán lây lan.
Phun nấm đối kháng Metarhizium anisopliae hoặc sử dụng các loại thuốc chứa hoạt chất Abamectin,Emamectin Benzoateđể phòng trị bằng cách phun xịt lên khắp các buồng trái non của cây dừa.
g. Bọ xít trái(Amblypelta sp.)
- Đặc điểm gây hại:
Bọ xít chích hút vào trái non từ 3-5 tháng tuổi và tiết độc tố vào vết chích, làm cho vùng mô chung quanh bị chết, tạo các vết màu đen dạng hình thoi xếp khít nhau, làm trái non bị chảy mủ và rụng sớm, hoặc phát triển nhỏ hơn bình thường, bị nhăn nheo, méo mó, giảm năng suất và giá trị thương phẩm. Là một trong những nguyên nhân phổ biến gây rụng trái non và dừa mủ.
- Biện pháp phòng trừ:
Vệ sinh vườn tạo thông thoáng, không trồng quá dày.
Nuôi kiến vàng trong vườn dừa, nóng là thiên địch trị bọ xít rất hữu hiệu.
Khi bị bọ xít phá hại nhiều, có thể sử dụng thuốc chứa các hoạt chất sau Alpha-Cypermethrin, Cypermethrin, Lambda-cyhalothrin để phòng trừ.
h. Rệp dính(Aspidiotus destructor)
- Đặc điểm gây hại:
Khi phát hiện trên lá có một lớp muội đen (nấm bồ hóng) hoặc kiến hôi làm tổ ở những bẹ lá là có dấu hiệu của rệp dính.
Chúng gây hại vào mùa khô trên những cây dừa đang lớn, hay chích hút bông, mo, cuống trái dừa non. Bên cạnh đó chúng cũng gây hại trên nhiều cây trồng như: cam, quýt, mãng cầu … vì vậy khi chúng xuất hiện trên những cây này, thì cũng có thể có trên dừa.
- Biên pháp phòng trừ:
Vệ sinh vườn tạo thông thoáng, tiêu hủy những tàu lá bị rệp gây hại.
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật chứa hoạt chất Imidacloprid, phun trên lá bị.
i. Chuột.
- Đặc điểm gây hại:
Chúng cắn phá rễ cây mới trồng và khoét trái trên quày, thường gây hại nặng ở những vườn nhiều cỏ. Gây hại nhiều nhất ở trái dừa từ 2 - 6 tháng tuổi, chúng đục khóet ở phần mềm gần cuống để ăn cơm dừa và uống nước.
- Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh vườn và tán dừa để phá nơi trú ẩn của chuột. Sử dụng các loại bẫy chuột để bẫy.
2.8.3. Đối với bệnh hại.
a. Bệnh đốm lá(Pestalozzia palmarum và Helminthosorium sp.)
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Đầu tiên là lá xuất hiện những đốm vàng, sau lớn dần thành vết cháy hình bầu dục, ở giữa có màu xám nhạt, bên ngoài có viền nâu đậm và một quần màu xanh. Khi các đốm cháy nối liền nhau tạo thành vết cháy lớn hơn.
+ Triệu chứng gây hại do nấm Helminthosporium sp.: Đầu tiên là những đốm nhỏ màu nâu. Các đốm lớn dần, liên kết lại với nhau làm cho lá bị khô, cháy.
+ Bệnh thường xuất hiện ở những vùng bị thiếu kali, gây thiệt hại nhiều ở cây con. Bệnh làm giảm khả năng quang hợp nên cây con chậm phát triển. Ở cây lớn, bệnh làm cây chậm cho trái hay giảm năng suất. Nên bón phân Kali cho dừa đặc biệt là ở vườn ươm cây con để giúp cây ít nhiễm bệnh và mau cho trái.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Vệ sinh vườn dừa, bón phân cân đối, tăng cường bón phân Kali giúp cây tăng khả năng chống chịu.
+ Ở giai đoạn cây nhỏ, cắt bỏ lá bệnh đem tiêu hủy và phun Bordeaux 1% để phòng bệnh.
b. Bệnh thối đọt(Phytophthora palmivora Butler)
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Do bọ cánh cứng ăn hết phần diệp lục của lá, đặc biệt là lá non làm cho phiến lá bị tổn thương. Sau đó nấm ký sinh vào gây ra bệnh thối đọt. Nấm gây hại cây dừa bằng cách tấn công vào đỉnh sinh trưởng làm cho củ hủ bị thối, cây không sinh trưởng được nữa và sẽ chết sau khi các lá già khô và rụng.
+ Cây chết sau 3 - 5 tháng bị nhiễm bệnh. Cây dừa bị bệnh thối đọt mới nhìn rất giống như cây bị đuông tấn công, tuy nhiên quan sát kỹ sẽ không thấy ấu trùng của đuông dừa nhưng có mùi thối rất khó chịu.
- Bệnh thường xuất hiện vào đầu mùa mưa khi có ẩm độ cao. Bệnh rất khó trị vì thường phát hiện chậm, khi đỉnh sinh trưởng đã bị tấn công. Nên đốn và tiêu hủy cây bị bệnh để tránh sự lây lan, đặc biệt là các cây trồng xen như ca cao, tiêu.
- Biện pháp phòng trừ:
Kiểm tra vườn để phát hiện bệnh để có biện pháp xử lý. Khi có nấm ký sinh, ngoài việc phun thuốc trừ sâu cần kết hợp thêm các loại thuốc chứa hoạt chất Chlorothalonil, Metalaxyl+Mancozeb để phòng trừ.
c. Nứt, rụng trái.
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Đất bị nhiễm phèn, mặn làm ảnh hưởng đến bộ rễ của cây liên quan đến quá trình nuôi trái, như vậy trái sẽ rụng trong suốt mùa khô hay sau những cơn mưa đầu mùa.
+ Trái rụng trong mùa mưa dầm và thương bị nứt trái có thể là do đặc tính di truyền của cây.
+ Rụng trái do nấm: khi trái rụng ta thấy lá đài và nơi tiếp giáp giữa cuống trái với lá đài (mầu dừa) có màu nâu đen, thối mềm.
+ Rụng do vi khuẩn: khi trái rụng quan sát thấy trên mầu trái dừa có mủ và có một số lá đài vẫn còn xanh.
+ Rụng do di truyền: do chọn giống trên cây dừa có bệnh nứt rụng trái non để trồng.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Tưới cho dừa trong mùa nắng, tránh bị ngập úng trong mùa mưa. Vào mùa mưa dầm, cắt bớt rễ cây để hạn chế cây hút nhiều nước.
+ Sử dụng 3 - 5kg vôi bột rãi vào đất xung quanh rễ cây. Bón phân hữu cơ hàng năm tạo đất tơi xốp, bón phân cân đối đặc biệt là phân Kali, giảm phân Ure.
+ Rãi muối hột hoặc muối ăn vào các bẹ lá 1 - 2 lần/năm để bổ sung thêm Clo cho cây.
Lưu ý: Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây dừa hiện chỉ có 01 loại Metarhizium anisopliae. Vì vậy các hoạt chất khuyến cáo sử dụng cần thử nghiệm trước khi phun diện rộng để không ảnh hưởng đến cây trồng.
IV. Thu hoạch chế biến bảo quản.
1. Thu hoạch.
- Đối với dừa lấy nước: Thời gian thu hoạch dừa từ tháng 4 đến tháng 8. Quả cho thu hoạch phải được 9 - 10 tháng tuổi, khi vỏ quả chuyển từ màu xanh nhạt sang màu xanh đậm. Nếu thu hoạch quả sớm dưới 9 tháng tuổi hoặc quá 10 tháng tuổi sẽ giảm lượng nước hoặc độ ngọt của nước dừa. Việc thu hoạch quả để uống nước thường trèo hái.
-Đối với dừa lấy dầu: Thời gian thu hoạch dừa tập trung từ tháng 4 - 8 trong năm. Quả thu hoạch phải được trên 11 tháng tuổi, khi vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu nâu nhạt. Việc thu hoạch quả để chế biến thường trèo hái hoặc chờ khi quả khô và rụng xuống.
2. Chế biến.
Các bộ phậntrong cây dừa qua quá trình chế biến cho ra rất nhiều sản phẩm cho người tiêu dùng.
- Đối với cơm dừa chế biến ra bột dừa, bột nước cốt dừa, cơm dừa sấy, cơm dừa đông lạnh, dầu dừa, kẹo dừa, mứt dừa, nước cốt dừa, phô mai dừa, yoghurt dừa.
- Nước dừa chế biến ra giấm, nước giải khát, rượu, thạch dừa.
- Sọ dừa chế biến ra than hoạt tính, cúc khảm, thìa, thủ công mỹ nghệ.
-Xơ dừa là lớp xơ bên ngoài của vỏ dừa. Xơ dừa được ứng dụng trong đa dạng các ngành bao gồm nông nghiệp, làm vườn và nội thất gia đình, làm dây thừng, thảm.
- Dừa là cây trồng lâu năm, dễ thích nghi, có giá trị cao nhờ đa dạng sản phẩm: nước dừa, cơm dừa, dầu dừa, xơ dừa, chậu dừa, thủ công mỹ nghệ, có thể phát triển vùng nguyên liệu dừa sạch, kết hợp trồng xen ca cao, cỏ voi, gừng hoặc cây dược liệu tán thấp, nâng cao hiệu quả kinh tế.
3. Bảo quản:
- Để bảo quản dừa tươi ngon, có thể để quả dừa trong một nơi thoáng mát và khô ráo. Nếu muốn dùng lâu hơn, đặt quả dừa vào tủ lạnh hoặc bọc kín và để ở nhiệt độ mát. Tuy nhiên, không nên để dừa trong tủ lạnh quá lâu vì sẽ làm giảm chất lượng và vị ngọt của quả.