Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .
Nhóm: CÂY RAU, CÂY ĐẶC SẢN. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên dưa chuột.
Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.
| Dịch hại | Số thuốc đã đăng ký |
|---|---|
| Giả sương mai | 41 |
| Phấn trắng | 16 |
| Bọ trĩ | 16 |
| Sương mai | 13 |
| Kích thích sinh trưởng | 10 |
| Dòi đục lá | 10 |
| Chết ẻo cây con | 5 |
| Lở cổ rễ | 5 |
| Nhện đỏ | 3 |
| Đốm lá | 3 |
| Mốc sương | 2 |
| Nứt dây chảy nhựa | 2 |
| Héo xanh | 2 |
| Mốc xám | 2 |
| Thán thư | 2 |
| Héo rũ | 1 |
| Rệp muội | 1 |
| Sâu khoang | 1 |
| Sâu xanh | 1 |
| Bọ phấn | 1 |
(Ban hành kèm theoQuyết định số /QĐ-UBNDngày //2025 của UBND tỉnh Lâm Đồng)
I. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh
1. Nhiệt độ, ánh sáng
- Nhiệt độ: Dưa chuột có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, ưa khí hậu ấm áp nhưng có thể nảy mầm ở nhiệt độ tối thiểu 10-150C, tối đa 35-400C, tối thích 25-300C. Nhiệt độ thích hợp cho quá trình ra lá 200C, nhiệt độ dưới 150C kéo dài cây sinh trưởng khó khăn, đốt ngắn, hoa nhỏ, hoa đực màu nhạt.
- Ánh sáng: Cây sinh trưởng và phát dục thích hợp ở độ dài chiếu sáng 10-12 giờ/ngày. Cường độ ánh sáng thích hợp nằm trong khoảng 15000-17000 lux giúp cây tăng hiệu quả quang hợp, tăng năng suất, chất lượng và rút ngắn thời gian lớn của quả.
2. Ẩm độ và nước
- Dưa chuột yêu cầu độ ẩm cao đứng đầu trong họ bầu bí. Độ ẩm đất thích hợp là 85-95%, độ ẩm không khí 90-95%.
- Dưa chuột là cây chịu hạn rất yếu: Thiếu nước cây không những sinh trưởng kém mà còn tích lũy hàm lượng Cucurbitaxina là chất gây đắng trong quả. Thời kỳ cây ra hoa, tạo quả yêu cầu nước cao nhất.
3. Đất đai
Cây dưa chuột thích hợp với đất tơi xốp, giàu mùn, thoát nước tốt có thành phần cơ giới nhẹ như cát pha, đất thịt nhẹ thoát nước tốt, có nhiều chất hữu cơ, pH từ 6,5-7,5. Tránh trồng dưa chuột ở những vùng đất chua, nhiễm mặn hoặc bị ngập úng.
II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Giống và tiêu chuẩn cây giống
1.1. Giống: hiện nay, nông dân trồng nhiều loại giống khác nhau, nhóm giống địa phương, kháng bệnh khá, chất lượng tốt, chiều cao cây 1,5-2m, nhiều hoa đực ít hoa cái, giống để được cho vụ sau.
- Giống quả nhỏ: thân gầy, lá mỏng thời gian sinh trưởng 50-65 ngày, trái màu xanh vàng, gai trắng xám, năng suất 18-20 tấn/ha.
- Giống quả trung bình - to: thân lá trung bình, thời gian sinh trưởng 65-75 ngày, trái màu xanh nâu gai trắng, năng suất 20-25 tấn/ha.
1.2. Tiêu chuẩn cây giống: Cây khỏe mạnh, không dị hình, ngọn phát triển tốt, không có biểu hiện nhiễm sâu bệnh, rễ đều trắng bầu. Cây giống xuất vườn có chiều cao 8-10cm, có từ 3-4 lá; thời gian gieo ươm từ 7-10 ngày.
2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.1. Thời vụ trồng:Dưa chuột có thể trồng quanh năm tại Đà Lạt và các vùng phụ cận, các khu vực khác thời vụ chính từ tháng 11 đến tháng 01; vụ phụ từ tháng 5-6.
2.2. Mật độ trồng:các giống lai F1 trồng hàng x hàng 60cm; cây x cây 40-45cm. Mật độ trồng từ 35.000-40.000 cây/ha.
2.3. Chuẩn bị đất
Chọn đất canh tác: cách xa các khu công nghiệp, bệnh viện, nhà máy… (không gần nguồn nước ô nhiễm và nước thải của các nhà máy, bệnh viện). Đất trồng không quá phèn, mặn (kiềm), nếu độ pH dưới 5 thì phải bón thêm vôi.
Chọn đất vụ trước không trồng họ bầu bí (dưa chuột, dưa hấu, bí rợ…) là tốt nhất. Đất trồng dưa chuột phải cày bừa kỹ cho tơi xốp, làm sạch cỏ, trồng vào mùa mưa phải lên luống cao 20-25cm và đào rãnh thoát nước tốt. Luống trồng có thể phủ bạt nylon để giữ ẩm và hạn chế cỏ dại. Làm luống rộng 1,3m.
2.4. Kỹ thuật trồng
a) Trồng cây từ hạt giống:
- Xử lý hạt giống: ngâm hạt trong nước ấm (2 sôi - 3 lạnh) 4-6 giờ trong cách trồng dưa chuột. Vớt ra, ủ trong khăn ẩm 2-3 ngày đến khi nứt nanh. Xử lý hạt giúp tăng tỷ lệ nảy mầm hiệu quả.
- Gieo hạt dưa chuột sâu khoảng 2-2,5cm và khoảng cách là 60-90cm mỗi cây tùy thuộc vào từng loại giống (xem hướng dẫn trên gói hạt giống). Nếu trồng dưa chuột theo trên lưới mắt cáo, có thể cây cách cây 30cm.
- Dưa chuột cũng có thể được trồng trong các khay/chậu hoặc thùng xốp, mỗi thùng cách nhau từ 30-60cm, trong mỗi chậu gieo 2-3 hạt dưa chuột. Khi cây đạt chiều cao 10cm thì tỉa cây và chỉ để lại 1 cây trong thùng.
- Sau khi trồng dưa chuột, nên phủ xung quanh gốc dưa chuột bằng rơm, lá cắt nhỏ hoặc các loại màng phủ hữu cơ khác.
Chọn cây con cao 10-15 cm, có 2-3 lá thật. Đào hố vừa đủ, đặt cây vào, lấp đất và nén nhẹ. Tưới nước ngay để cây thích nghi với đất mới nhanh chóng.
2.5. Phân bón và cách bón phân:
a) Lượng phân bón(tính cho 01 ha):
- Phân chuồng hoai: 20 m3; phân hữu cơ vi sinh: 1.000 kg, vôi bột: 800 – 1.000 kg.
- Phân hóa học (lượng nguyên chất): 150 kg N – 95kg P2O5 - 155 kg K2Otương đương:325kg Ure +595kg Super lân +258kg KCl.
Hoặc:594kg NPK 16-16-8 + 120kg Ure + 179kg KCL.
b) Cách bón:
Hạng mục | Tổng số | Bón lót | Bón thúc | ||
Lần 1 10 NST | Lần 2 20 NST | Lần 3 50 NST | |||
Phân chuồng hoai | 20 m3 | 100% | - | - | - |
Vôi | 800-1.000 kg | 100% | - | - | - |
Hữu cơ vi sinh | 1.000 kg | 100% | - | - | - |
Ure | 325 kg | 20% | 15% | 30% | 35% |
Lân super | 595 kg | 100% | - | - | - |
KCl | 258 kg | 40% | - | 25% | 35% |
Ghi chú:Phân bón lá sử dụng theo khuyến cáo in trên bao bì.
Cách bón:
- Bón lót:Bón toàn bộ số lượng phân chuồng hoai 20 m3; phân hữu cơ vi sinh: 1.000 kg, vôi bột: 800 – 1.000 kg.
- Bón thúc:Bón phân giữa 2 hàng cây và lấp đất, kết hợp làm cỏ, tỉa lá già ở gốc.
2.6. Chăm sóc
a) Làm cỏ, vun xới:
Sau khi bón lót, tiến hành trải màng phủ nilon để hạn chế sâu bệnh hại và cỏ dại trong quá trình cây dưa sinh trưởng. Màng phủ đã khoét sẵn các lỗ đường kính từ 10 – 12 cm tương đương với khoảng cách trồng dưa. Khi cây bắt đầu có quả, tiến hành bón phân kết hợp xới đất, làm cỏ và vun gốc. Khi cây đã có trên 18-20 lá thì tiến hành tỉa 2-3 lá ở phía dưới để cây tập trung dinh dưỡng nuôi hoa, nuôi trái.
b) Tưới nước:
Tưới nước là biện pháp cần thiết để tăng năng suất. Nếu độ ẩm thấp hơn 70% cần tiến hành tưới cho dưa chuột để đảm bảo đất có độ ẩm 85-90%. Lượng nước tưới, số lần tưới cần căn cứ vào độ ẩm đất trước lúc tưới. Không nên tưới nước đẫm vào chiều mát.Khi cây trưởng thành, cần giữ ẩm cho cây thường xuyên.
c)Tỉa chồi, tỉa lá, tỉa trái:
Khi cây con đạt chiều cao 10cm, tỉa cây để mỗi cây cách nhau ít nhất 45cm.
Tỉa chồi nách định kỳ: ở thời điểm cây dưa chuột phát triển và vươn lên nhanh chủ ý tiến hành tỉa chồi định kỳ cho cây. Quá trình này giúp cây tập trung dinh dưỡng để nuôi hoa, nuôi quả.
d) Làm giàn:
Sau khi bón thúc lần 2 có thể tiến hành làm giàn, dùng cây chói dài khoảng 2,5m, cắm hình chữ A sau đó phủ lưới nylon có mắt lưới rộng 20cm lên dàn để cho dưa leo.Thường xuyên buộc thân dưa vào dàn để dây và trái sau này không bị tuột xuống. Dùng dây nylon căng ngang và dọc theo dàn, nhiều tầng để tua cuốn dây dưa có nơi bám chắc chắn.
đ) Tủ gốc giữ ẩm hoặc phủ nilon:
Hiện nay, việc sử dụng lưới nylon để làm giàn cho dưa chuột cũng được phổ biến trong sản xuất vì giảm bớt được số lượng cây giàn, giảm chi phí, thao tác nhanh gọn và dùng được nhiều mùa.
3.Phòng trừ sâu, bệnh
3.1. Quản lý dịch hại tổng hợp: áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM.
a) Biện pháp canh tác: vệ sinh vườn, chọn giống khỏe, kháng sâu bệnh, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, cắt tỉa các lá già vàng úa tiêu hủy, luân canh cây trồng khác họ;bón phân cân đối và hợp lý, tăng cường sử dụng phân hữu cơ ; kiểm tra đồng ruộng phát hiện và kịp thời có biện pháp quản lý thích hợp đối với sâu, bệnh.
b) Biện pháp sinh học:sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh. Hạn chế sử dụng các loại thuốc hóa học có độ độc cao để bảo vệ các loài ong ký sinh của ruồi đục lá, các loài thiên địch bắt mồi như nhện, bọ đuôi kìm,…
c) Biện pháp vật lý:
- Sử dụng bẫy màu vàng, bẫy Pheromone dẫn dụ côn trùng.
- Có thể sử dụng lưới ngăn côn trùng từ 1,5 -1,8 m che chắn xung quanh vườn hạn chế ruồi đục lá, sâu, côn trùng gây hại bay từ vườn khác sang.
d) Biện pháp hóa học:
Sử dụng thuốc phải cân nhắc kỹ theo nguyên tắc 4 đúng. Phun khi bệnh chớm xuất hiện. Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi thật cần thiết, theo các yêu cầu sau:
+ Không sử dụng loại thuốc cấm sử dụng cho rau.
+ Chọn các thuốc có hàm lượng hoạt chất thấp, ít độc hại với thiên địch, các động vật khác và con người.
+ Các đối tượng dịch hại chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục nên thử nghiệm sử dụng trên diện hẹp để đảm bảo an toàn cho cây trồng trước khi sử dụng đại trà.
3.2. Sâu hạivà biện pháp phòng trừ
a) Bọ trĩ (Thrips palmai)
- Đặc điểm gây hại:
+ Thành trùng và ấu trùng rất nhỏ có màu trắng hơi vàng, sống tập trung trong đọt non hay mặt dưới lá non, chích hút nhựa cây làm cho đọt non bị xoăn lại. Thiệt hại này kết hợp với triệu chứng do rệp dưa làm cho đọt non bị sượng, chùn lại, nông dân thường gọi là ngù đọt. Khi nắng lên, bọ trĩ ẩn nấp trong rơm rạ hoặc nằm sát gân lá, cuống lá. Thiệt hại do bọ trĩ có liên quan đến bệnh khảm.
+ Bọ trĩ phát triển mạnh vào mùa khô hạn. Thiệt hại do bọ trĩ trong những vùng chuyên canh rất trầm trọng. Nên trồng đồng loạt và tránh gối vụ, kiểm tra ruộng dưa thật kỹ để phát hiện sớm ấu trùng.
+ Bọ trĩ còn là môi giới truyền bệnh virus gây hại dưa leo.
- Biện pháp phòng trừ:
Chăm sóc cho cây phát triển tốt để hạn chế tác hại của bọ trĩ; bón phân cân đối, hạn chế bón quá nhiều đạm, giai đoạn cây mang trái cần tăng cường bón kali giúp cây sinh trưởng tốt và hạn chế sâu bệnh.
Bọ trĩ có tính kháng thuốc rất cao, nên phun luân phiên thay đổi các loại thuốc có các hoạt chất như:Abamectin (Plutel 5 EC); Emamectinbenzoat (Tasieu 1.9EC ); Karanjin (Takare 2EC).
b) Bọ rầy (Aulacophora simlis)
- Đặc điểm gây hại:
+ Trưởng thành là loại bọ cánh cứng màu vàng cam hình bầu dục; trứng rất nhỏ, màu vàng cam hoặc vàng nâu, trứng đẻ rải rác trong đất; ấu trùng màu trắng ngà; nhộng màu nâu nhạt nằm trong đất, bên ngoài bao phủ một lớp kén dầy bằng đất.
+ Bọ có kích thước khá to, bằng đầu đũa. Trưởng thành hoạt động vào sáng sớm hoặc chiều tối; trời nắng ẩn nấp dưới tán lá hoặc trong đất, một con cái đẻ trung bình khoảng 200 trứng. Bọ trưởng thành ăn lớp biểu bì trên lá làm thành một đường vòng làm lá bị thủng thành những lỗ tròn. Bọ thường hại mạnh khi cây còn nhỏ, mật độ bọ cao có thể làm cây trụi hết lá và đọt non. Bọ dưa non sống trong đất cắn phá rễ cây kể cả khi cây đã lớn làm cây sinh trưởng kém và có thể chết. Bọ dưa phát triển mạnh vào các tháng mùa khô, ít phát triển và gây hại vào các tháng mùa mưa.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Thu gom tiêu hủy cây dưa sau mùa thu hoạch, chất thành đống tạo bẫy để rầy dưa tập trung.
+ Luân canh cây trồng: bắt trưởng thành bằng tay hoặc bằng vợt.
+ Hiện nay, chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục để phòng trừ đối tượng này, có thể tham khảo một số hoạt chất như:Abamectin; Diafenthiuron.
c) Dòi đục lá (Liriomyza spp)
- Đặc điểm gây hại:
+ Thành trùng là một loài ruồi rất nhỏ, màu đen bóng, có vệt vàng trên ngực, khi đậu cặp cánh màng xếp lại trên lưng bụng. Trứng dạng tròn, máu trắng hồng, được đẻ trong mô mặt trên lá. Ấu trùng là dòi màu vàng nhạt, nhộng màu nâu vàng, dính trên lá hay rơi xuống đất. Vòng đời trung bình 25-30 ngày.
+ Gây hại: đục thành đường hầm ngoằn ngèo dưới lớp biểu bì lá của nhiều loại cây trồng như bầu bí, dưa, cà, ớt, đậu… Dưới ảnh hưởng của ánh nắng mặt trời, những đường này làm cho lá bị cháy khô, cây rất mau tàn lụi. Ruồi tấn công rất sớm khi cây bắt đầu có lá thật, thiệt hại trong mùa nắng cao hơn mùa mưa.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt ngay từ giai đoạn đầu, tỉa bỏ, thu gom lá bị hại mang tiêu hủy, trải màng phủ nylon trên mặt luống sẽ giảm được mật số ruồi đáng kể và cho hiệu quả kinh tế cao.
+ Ruồi rất nhanh quen thuốc, nên cần thay đổi chủng loại thuốc thường xuyên. Phun khi 2-3 lá, khi cần thiết có thể phun lặp lại sau 7-10 ngày. Sử dụng một số loại thuốc có hoạt chất Cyromazine (Trigard 100 SL); Dinotefuran (Chat 20WP, Oshin 20WP).
d) Sâu ăn lá (Diaphania indica)
- Đặc điểm gây hại:
+ Bướm nhỏ, màu nâu, khi đậu có hình tam giác màu trắng ở giữa cánh, rìa màu nâu đen, hoạt động vào ban đêm và đẻ trứng rời rạc trên các đọt non. Trứng rất nhỏ, màu trắng nở trong vòng 4-5 ngày. Sâu nhỏ, dài 8-10 mm, màu xanh lục có sọc trắng ở giữa lưng, thường nhả tơ cuốn lá non lại và ở bên trong, ăn lá hoặc cạp vỏ trái non, nhộng màu nâu đen, sâu đủ lớn, độ hai tuần làm nhộng trong lá khô.
+ Đặc điểm gây hại: bướm hoạt động và đẻ trứng ban đêm. Sâu non thường sống và gây hại ở đọt và lá non, nhả tơ và cuốn lá non lại gây hại. Khi có quả non sâu găm quả làm vỏ sần sùi. Khi đẫy sức sâu hóa nhộng trong lá.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Thu dọn và tiêu hủy tàn dư sau khi thu hoạch.
+ Sử dụng một số loại thuốc có hoạt chất:Abamectin (5.4 EC); Diafenthiuron (Pegasus 500 SC).
3.3. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ
a) Bệnh héo rũ, chạy dây (Fusarium sp)
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Khi cây còn nhỏ bị héo như mất nước, chết khô từ đọt, nhổ lên thấy gốc bị thối đen. Cây lớn bị hại sinh trưởng kém, lá biến vàng từ lá gốc trở lên. Cây dưa bị héo từng nhánh, sau đó cả cây bị héo và chết. Vi sinh vật gây hại lưu tồn trong đất nhiều năm, bệnh này có liên quan ít nhiều đến tuyến trùng, ẩm độ đất.
+ Nấm phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ từ 25-270C, pH thấp. Nấm tồn tại trong đất, trong tàn dư cây bệnh và trong hạt giống. Nấm gây hại trên nhiều loại cây trồng như: dưa, và các cây thuộc họ cà, họ đậu.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Lên luống cao, làm đất mịm, bón thêm phân chuồng, tro trấu, nhổ cây bệnh tiêu hủy. Tránh trồng dưa chuột và các cây cùng nhóm như bí đỏ, bí đao, dưa hấu liên tục nhiều năm trên cùng một thửa ruộng.
+ Có thể sử dụng nấm đối kháng Tricoderma để bón trước khi trồng cây;Streptomyces lydicus WYEC + Humic acid ; Validamycin.
b) Bệnh chết héo cây con, héo tóp thân (Rhizoctonia solani)
- Triệu chứng gây bệnh:
Cổ rễ thường bị thối nhũn, cây dễ ngã, lá non vẫn xanh. Nấm chỉ gây hại ở giai đoạn cây con, bệnh còn làm thối đít trái. Bệnh phát triển mạnh khi ẩm độ cao; nấm lưu tồn trong phân hữu cơ (thân lúa, rơm rạ, cỏ dại, lục bình); hạch nấm tồn tại trong đất sau mùa lúa. Chính vì vậy cần xử lí kĩ các nguồn phân hữu cơ, rơm cỏ dùng để phủ luống và đất trồng sau vụ lúa ngay khi gieo trồng.
- Biện pháp phòng trừ:Sử dụng thuốc hoá học có hoạt chất Abamactin; Kamsugamycin; Metiram Complex.
c) Bệnh thán thư (Colletotrichum lagenarium)
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Bệnh hại chủ yếu trên lá, ngoài ra có trên thân và quả, vết bệnh trên lá có màu nâu tạo thành những vòng tròn đồng tâm. Khi thời tiết thuận hợp như nắng mưa xen kẽ, vết bệnh sẽ nặng hơn, các ổ nấm màu đen nằm trên vòng tròn rất rõ. Vết bệnh trên thân có dạng dài, tạo thành vệt màu nâu hơi lõm. Vết bệnh trên trái có màu nâu tròn lõm vào da còn gọi là ghẻ dưa, bệnh nặng các vết này liên kết thành mảng to gây thối, nhũn trái.
+ Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ 30-35oC. Bệnh phát triển nặng trong điều kiện thời tiết nóng, mưa nhiều. Nguồn bệnh tồn tại trong tàn dư cây trồng, trong hạt giống.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Thu gom tàn dư cây trồng, luân canh cây trồng.
+ Hiện nay, chưa có thuốc bảo vệ thực vật đăng ký trong danh mục để phòng trừ đối tượng này. Có thể tham khảo sử dụng một số loại hoạt chất phòng trừ bệnh trên dưa leo như: Abamactin; Kamsugamycin; Metiram Complex.
d) Bệnh sương mai (Pseudoperonospora cubenrnsis)
- Triệu chứng gây bệnh:
+ Bệnh gây hại chủ yếu trên lá, vết bệnh lúc đầu là những đốm nhỏ màu vàng, sau lớn dần có màu nâu hình đa giác có góc cạnh rất rõ, sáng sớm quan sát kỹ mặt dưới lá có tơ nấm màu trắng hoặc vàng nhạt. Vết bệnh lúc già rất giòn, dễ vỡ. Bệnh thường xuất hiện từ lá già ở gốc lan lên lá non, phát triển mạnh vào thời điểm ẩm độ cao, mưa nhiều.
+ Bệnh tồn tại trong đất ở dạng bào tử trong tàn dư cây trồng nhiễm bệnh và lây lan theo nước mưa, xâm nhập vào lá xâm nhiễm và gây bệnh. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện ẩm độ cao mưa nhiều, đêm có nhiều sương ở giai đoạn cây dưa đã lớn đến khi thu hoạch.
- Biện pháp phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc có hoạt chất sau: Amisulbrom (Gekko 20SC); Chlorothalonil (Daconil 500SC; Kasugamycin (Kasugacin 3 SL);Propineb (Antracol 70 WP).
đ) Bệnh khảm do virus
- Triệu chứng gây bệnh:
Bệnh này được truyền từ cây bệnh sang cây khỏe bởi nhóm côn trùng chích hút như bù lạch và rệp dưa. Triệu chứng bệnh là đọt non bị xoăn lại, lá bị mất màu, lốm đốm màu, thiệt hại nặng sẽ làm cho đọt bị sượng, cây bị chùn lại, phát triển rất chậm, cho trái rất ít, trái thường bị dị dạng và có vị đắng.
Virus tồn tại trong một số cây hoang dại. Sự phát triển của bệnh có liên quan chặt chẽ với mật độ bọ trĩ và rệp trên đồng ruộng. Mức độ nhiễm bệnh của các giống dưa cũng khác nhau.
- Biện pháp phòng trừ: Sử dụng các giống dưa kháng bệnh. Phòng trừ tốt các loài chích hút ngay từ khi cây còn nhỏ, cần nhổ bỏ và tiêu hủy các cây bệnh để tránh lây lan.
e) Bệnh lở cổ rễ, cháy khô lá (Phytophthora sp)
- Triệu chứng gây bệnh:
Bệnh gây hại trên lá, trái và gốc thân. Bệnh gây hại ở bất kỳ vị trí nào trên lá, nhưng thường từ rìa lá vào, vùng bệnh như bị úng nước, chuyển sang màu đen và thối nhũn. Trên trái, bệnh chỉ gây hại trên trái non làm trái bị thối đen và nhũn ra. Ở thân, bệnh thường gây hại ở phần cổ rễ làm nơi đây bị úng nước mất màu, sau đó chuyển sang màu nâu đen, nhũn ra và gây thối cả rễ, làm cây chết.
- Biện pháp phòng trừ: Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ. Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có gốc đồng hoặc Mancozeb, Propineb, Azoxystrobin, Dimethomorph...
2. Phấn trắng (Erysiphe sp.)
2.1. Triệu chứng gây hại
- Bệnh gây hại trên lá, thân, cành và gây hại ngay từ thời kỳ cây con.
- Ban đầu bệnh xuất hiện những đốm nhỏ xanh vàng, bao phủ một lớp nấm xám dày đặc như bột phấn sau đó bao phủ hết cả phiến lá. Lá bị bệnh chuyển từ màu xanh sang vàng, lá bị khô cháy và dễ rụng. Lớp phấn trắng xuất hiện trên cả thân, cành, hoa làm hoa khô rụng và chết.
- Là nấm chuyên tính ngoại kí sinh (sợi nấm bám dày đặc trên lá và tạo vòi hút đâm sâu vào tế bào để hút dinh dưỡng. Bệnh lây lan nhờ không khí và gió, bào tử phân sinh nảy mầm thích hợp ở nhiệt độ 20 – 240C và ẩm độ không khí cao.
2.2. Biện pháp phòng trừ
- Thu dọn tàn dư bị bệnh đem đốt hoặc vùi dưới hố ủ phân.
- Phòng trừ kịp thời ngay khi phát hiện bệnh bằng các loại thuốc có hoạt chất Bacillus subtilis (Bionite WP), Chlorothalonil (Daconil 500SC), Imibenconazole (Manage 5WP), Kasugamycin (Fortamin 6WP), Mancozeb (Manozeb 80WP).
III. Thu hoạch,sơ chế, bảo quản
1. Thu hoạch
Dưa chuột trồng được 45-48 ngày sau khi gieo có thể bắt đầu thu hoạch, khi trái lớn, da trái láng… thu trái 2 ngày/lần, không nên để trái quá lớn lúc cây còn nhỏ sẽ làm mất sức các đợt cho trái sau. Thời gian thu kéo dài từ 25 đến 30 ngày.
Đóng gói vào bao bì để vận chuyển đến nơi tiêu thụ.
2. Sơ chế, bảo quản
- Dưa chuột có hơn 90% là nước vì vậy cần bảo quản trong bọc nhựa (nilon có đục lỗ) để giữ độ ẩm; có thể dùng hộp nhựa kín, tránh nơi quá lạnh hoặc ẩm. Xịt nhẹ nước lên trái để giữ độ tươi lâu hơn.
- Có thể giữ dưa chuột vẫn tươi ngon trong vòng 10 ngày khi được bảo quản đúng cách trong tủ bảo ôn (hoặc ngăn mát tủ lạnh).