Trachypithecus delacouri (Osgood, 1932)
| Danh mục | Tình trạng của loài |
|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2007 | CR - Rất nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong tương lai rất gần. |
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | CR - Rất nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong tương lai rất gần. |
| Danh lục Đỏ IUCN (2022) | CR - Cực kỳ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong tương lai rất gần. |
| Nghị định 84/2021/NĐ-CP | Nhóm IB |
| CITES | Phụ lục I |
| Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ | Có tên trong danh mục |
Voọc mông trắng có tên khoa học Trachypithecus delacouri (Osgood, 1932), thuộc họ Cercopithecidae, bộ Primates, lớp Mammalia, giới Animalia.
Loài này được ghi nhận trong 5 danh mục pháp lý về bảo tồn: Nhóm IB; Phụ lục I CITES; Loài được ưu tiên bảo vệ — Động vật; Nhóm IB; Nhóm IB.
Về hạng bảo tồn, loài được xếp CR - Rất nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2007; CR - Rất nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2024; CR - Cực kỳ nguy cấp theo Danh lục Đỏ IUCN (2022).
Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 7 tỉnh, thành phố: Hà Tĩnh, Lào Cai, Nghệ An, Ninh Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa, Hà Nội.
Loài đã được kiểm kê tại 3 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Nghị định 84/2021/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 06/2019/NĐ-CP)
Loài động vật rừng đang bị đe dọa tuyệt chủng, nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại.
Nhóm I: Các loài thực vật rừng, động vật rừng đang bị đe dọa tuyệt chủng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục I CITES phân bố tự nhiên tại Việt Nam. Nhóm IA: các loài thực vật rừng. Nhóm IB: các loài động vật rừng.
Căn cứ: Nghị định 84/2021/NĐ-CP · Nghị định 06/2019/NĐ-CP
Công ước CITES
Những loài động vật, thực vật hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng, bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển mẫu vật khai thác từ tự nhiên vì mục đích thương mại.
Căn cứ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP
Nghị định 160/2013/NĐ-CP
Thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Đây là chế độ quản lý nghiêm ngặt nhất trong hệ thống pháp luật đa dạng sinh học Việt Nam.
Căn cứ: Nghị định 160/2013/NĐ-CP · Luật Đa dạng sinh học 2008
Thông tư 27/2025/TT-BNNMT
Nhóm phân loại theo danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hiện hành do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.
Thông tư 85/2025/TT-BNNMT
Nhóm phân loại theo danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hiện hành do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.
Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.
| Nguồn đánh giá | Hạng | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2007 | CR - Rất nguy cấp Critically Endangered | Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong tương lai rất gần. |
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | CR - Rất nguy cấp Critically Endangered | Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong tương lai rất gần. |
| Danh lục Đỏ IUCN (2022) | CR - Cực kỳ nguy cấp Critically Endangered | Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong tương lai rất gần. |
- Chiều dài đầu – thân khoảng 52-62 cm ở con đực và khoảng 57-60 cm ở con cái. Đuôi dài 81-90 cm ở con đực và 84-89 cm ở con cái. Con đực nặng khoảng 7.5-8.5 kg, con cái khoảng 7.3-7.7 kg. Bộ lông màu trắng và đen là đặc điểm đặc trưng của voọc mông trắng để phân biệt chúng với các loài voọc Đông Nam Á khác. Màu lông của con đực và cái giống nhau. Con cái có vùng lông mu màu trắng và hình dạng đặc trưng cho mỗi cá thể. Lông thân màu đen phân tách với một vùng lông màu trắng đặc trưng chạy từ giữa lưng kéo dài đến phần trên đầu gối, giống như voọc mặc một chiếc quần đùi trắng. Mặt màu đen, có túm lông má màu trắng xám mọc dài từ khóe miệng đến tai. Phần lông trắng này mọc dày rậm ở sau tai. Mào lông trên đầu hướng về phía trước. Đuôi dài nhiều lông mọc rậm, đường kính đuôi khoảng 10 cm. Đây là đặc điểm khác biệt của T. delacouri với các loài voọc châu Á khác. Hông voọc cái có thể đổi màu trắng ngả vàng hoặc nâu nhạt. Vùng lông mu trắng cũng có thể ngả màu do đổ mồ hôi. Voọc cái đang nuôi con rất dễ đổi màu lông vào mùa hè. Con non mới sinh có lông màu vàng cam, sáng hơn T. francoisi, T. poliocephalus và T. hatinhensis, da mặt cũng vàng hơn. Khoảng 5 tuần sau sinh, lông chân và tay con non đổi từ cam đậm sang đen. Sau 4-6 tháng, bộ lông đổi màu đen nâu và ‘quần’ màu xám trở nên rõ rệt hơn, đầu đổi màu nâu nhạt, 1/3 đuôi kết thành túm. Từ 9-18 tháng, bộ lông đổi màu đen và ‘quần đùi’ màu xám nhạt. Từ 18-36 tháng, đầu và thân màu đen và ‘quần đùi’ đổi màu trắng. Đuôi mất túm lông ở đỉnh và đổi thành hình ‘cà rốt’ với đường kính to dần về gốc đuôi.
- Voọc mông trắng có bộ lông dày rậm, thô và màu đen. Đầu có mào lông hình chóp đen. Đám lông trắng trên má rộng, vượt lên trên vành tai. Lông vùng mông và đùi trắng. ở con cái, lông từ hông đến đùi có sự thay đổi màu, bình thường màu trắng và chuyển sang màu nâu nhạt rồi nâu thẫm trong thời kỳ mang thai và nuôi con non. Đuôi dài, lông dày, bông, sợi lông mọc vuông góc với đuôi và màu đen. Mặt trụi lông. Mắt nâu đen. Voọc non mới sinh có bộ lông màu vàng tơ và bắt đầu chuyển dần sang màu đen sau 4 tháng tuổi. Sau 10 tháng tuổi, toàn bộ cơ thể chuyển sang màu đen rõ, phần hông, đùi màu trắng, chỏm lông đỉnh đầu màu vàng nhạt. Sau 3 năm tuổi màu lông giống con trưởng thành.
Voọc mông trắng sống đàn. Kết quà khảo sát thực địa cho thấy sò' lượng con trong đàn biến đổi từ 5 đến 10 con. Vùng hoạt dộng kiếm ăn của Voọc mông trắng tương dối rộng, cả trên núi đất lẫn núi đá nhưng chúng ngủ trên núi dá. Mùa nóng, Voọc mông trắng ngủ trẻn vách đá, mùa lạnh ngủ hang. Kiếm ăn ngày hai buổi sáng và chiều, trưa nghỉ. Nghiên cứu trong điểu kiện nuôi nhốt cho thấy Voọc thường có giấc ngủ trưa bắt đầu từ khoảng 12 giờ và tinh dậy vào khoảng 13 giờ. Thời gian ngủ trưa kéo dài từ 37 đến 60 phút. Voọc mông trắng ản lá, chổi non và quả cây rừng. Không ăn động vật. Nghiên cứu thức ăn tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trường Cúc Phương đã ghi nhận được Voọc mông trắng ăn 204 loài thực vật thuộc 57 họ. Trong 204 loài thực vật làm thức ăn, Voọc mông trắng ăn chồi lá 203 loài, ăn hoa của 16 loài, quà của 13 loài, củ 3 loài và ăn vỏ của 10 loài. Nhu cầu thức ăn trung bình ngày là 1184g (bằng 16.91% trọng lượng cơ thể) và phụ thuộc vào giới tính, tuổi và thời tiết (chủ yếu là nhiệt độ) trong ngày. Lượng nước uống trong ngày biến động từ 400 đến 500ml/con.
Dẫn liệu sinh sản Voọc mông trắng còn ít. Quan sát tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương cho thấy hoạt động giao phối của Voọc mông trắng thường diễn ra vào hai thời điểm sáng sớm và sau buổi ăn chiều. Thời gian giao phối kéo dài 15 đến 30 giây. Thời gian mang thai trung binh 196 ngày. Mùa sinh sản tập trung từ tháng 12 đến tháng 8. Mỗi lứa dẻ một con, con sơ sinh nặng 350 - 500g. Bộ lông con sơ sinh màu vàng. Voọc trưởng thành sinh dục sau 5 năm tuổi.
Thức ăn: Loài này là loài động vật ăn lá. Lá chiếm 80% nguồn thức ăn (60% lá non, 20% lá già). Ngoài ra chúng cũng ăn quả non (10%), chồi, hoa. Lá có tỷ lệ proten/fiber cao là nguồn thức ăn ưa thích. T. delacouri không ăn côn trùng hay các động vật nhỏ khác và dành khoảng 30% thời gian hoạt động của voọc cho việc kiếm ăn. Chúng ăn nhiều loài thực vật khác nhau với hơn 60 loài ở môi trường hoang dã và 137 loài ở môi trường nuôi nhốt. Một cá thể voọc tiêu thụ khoảng 1100 g/ ngày. Tiêu hóa phụ thuộc vào nước. Lượng nước tiêu thụ hằng ngày phụ thuộc vào nhiệt độ không khí, khoảng 0.02 ml/g khối lượng cơ thể ở 25 oC, 0.07 ml/g khối lượng cơ thể ở 32 oC.
Sinh sản: Voọc đực bắt đầu sinh sản lúc 5 tuổi, voọc cái lúc 4 tuổi. Thời gian mang thai từ 180-196 ngày. Mỗi lứa đẻ 1 con. Thời gian giữa 2 lần sinh đẻ là 19-25 tháng. Con non trong môi trường nuôi nhốt cai sữa ở 19-24 tháng tuổi.
Hoạt động: Loài này hoạt động ban ngày và chạng vạng tối. Chúng sống trên cây và dưới đất. Chúng dời chỗ ngủ trước bình minh và trở về lúc hoàng hôn hoặc khi trời tối hẳn. Thời gian hoạt động trong ngày: 60% nghỉ, 30% kiếm ăn, 6% tương tác xã hội và 4% di chuyển.
Tổ chức xã hội và vùng hoạt động: Voọc dành gần 80% thời gian sinh hoạt trên bề mặt đá. Di chuyển bằng 4 chân là chủ yếu. Thời gian leo trèo trên đá gấp đôi ở trên cây. Hoạt động nhảy chỉ chiếm 6% thời gian hoạt động, ít hơn nhiều so với các loài khỉ châu Á và châu Phi thuộc phân họ Colobinae. Tần suất nhảy ở trên cây nhiều hơn 3 lần trên đá. Khi di chuyển, đuôi võng xuống thành hình vòng cung, đây là đặc điểm chung của các loài voọc núi đá vôi phân bố ở miền Bắc. Diện tích vùng hoạt động khoảng 20-50 ha và phụ thuộc vào diện tích của thảm thực vật và đá. Đơn vị xã hội cơ bản gồm 1 con đực, một vài con cái và các con non. Nếu trong đàn có 2 con đực trưởng thành, chúng thường có quan hệ anh em hoặc bố con. Một đàn có trung bình 10 cá thể, gồm 1 con đực và 4 con cái trưởng thành, 2-3 con chưa trưởng thành, 2-3 con non mới sinh. Đàn lớn nhất quan sát được lên đến 17 cá thể gồm 1 con đực, 9 con cái và các con non. Con đực mới lớn rời đàn để di chuyển một mình hoặc hợp thành nhóm với các con đực khác. Đôi khi lên tới 4 cá thể đực. Khi chúng trưởng thành, chúng sẽ tách các con cái từ đàn khác hoặc chiếm lấy cả một đàn. Vùng hoạt động của các đàn thường gối lên nhau, vì vậy có xảy ra tranh chấp giữa các con đực.
Loài này sống trong rừng lá rộng thường xanh ở vùng núi đá vôi điển hình, trên các bề mặt đá. Voọc sống ở địa hình khắc nghiệt này là do vào mùa đông, khi nhiệt độ giảm xuống 5oC, nhiệt độ trong các hang động thường cao hơn, thích hợp cho làm chỗ trú cho voọc. Vào mùa nóng khô, bề mặt hình cái bát của đá vôi giúp dự trữ nước trong các thung lũng nhỏ, tối và sâu trong một gian dài, cung cấp nguồn nước cần thiết cho voọc. Voọc mông trắng không sống ở khu vực núi đá vôi dốc dù không bị tác động bởi con người, có thể do thiếu bề mặt ngủ và dự trữ nước. Chúng chủ yếu sống ở độ cao thấp, dưới 500 m, và có thể sống ở độ cao lên đến 1000 m ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông.
Voọc mông trắng sống chủ yếu ở rừng cây gỗ trên núi đá vôi. Tuy nhiên do sự chia cắt, nên Voọc mông trắng sống cả trong những sinh cảnh rừng nghèo, thậm chí chỉ có dây leo bụi rậm (Vân Long, Ninh Bình).
Kích thước quần thể ít hơn 250 cá thể trưởng thành và chia thành 2 quần thể có khả năng phát triển. Quần thể tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Vân Long, Ninh Bình, có khoảng 176-184 cá thể và quần thể tại rừng phòng hộ Kim Bảng có khoảng trên 70 cá thể. Quần thể tại Vân Long có xu hướng tăng dần. Săn trộm là mối đe dọa lớn nhất tới loài, mặc dù mối đe dọa này đã được kiểm soát khá tốt tại Vân Long. Bên cạnh đó, khai thác đá làm vật liệu xây dựng là tác nhân gây nhiễu loạn và làm suy giảm nghiêm trọng môi trường sống của voọc.
| Mối đe dọa được ghi nhận | Mất môi trường sống · Săn bắt, khai thác quá mức · Sự suy giảm quần thể |
| Giá trị của loài | Giá trị khoa học · Giá trị môi trường sinh thái |
Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.
Theo kết quả kiểm kê loài tại các khu bảo tồn, di sản thiên nhiên trong Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.
| Khu bảo tồn / di sản thiên nhiên | Phân loại | Địa bàn |
|---|---|---|
| Vườn quốc gia Cúc Phương | Di sản thiên nhiên cấp quốc gia | Ninh Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa |
| Vườn quốc gia Ba Vì | Di sản thiên nhiên cấp quốc gia đặc biệt | Hà Nội, Phú Thọ |
| Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long | Di sản thiên nhiên cấp quốc gia đặc biệt | Ninh Bình |
| Tên gọi | Tên khoa học | Sách Đỏ VN | IUCN | NĐ 84/2021 |
|---|---|---|---|---|
| Chà vá chân xám | Pygathrix cinerea | CR - Rất nguy cấp | CR - Cực kỳ nguy cấp | Nhóm IB |
| Voọc Cát Bà | Trachypithecus poliocephalus | CR - Rất nguy cấp | CR - Cực kỳ nguy cấp | Nhóm IB |
| Chà vá chân đen | Pygathrix nigripes | EN - Nguy cấp | EN - Nguy cấp | Nhóm IB |
| Chà vá chân nâu | Pygathrix nemaeus | EN - Nguy cấp | EN - Nguy cấp | Nhóm IB |
| Voọc đen Hà Tĩnh | Trachypithecus hatinhensis | EN - Nguy cấp | EN - Nguy cấp | Nhóm IB |
| Voọc mũi hếch | Rhinopithecus avunculus | CR - Rất nguy cấp | CR - Cực kỳ nguy cấp | Nhóm IB |
| Voọc đen má trắng | Trachypithecus francoisi | EN - Nguy cấp | EN - Nguy cấp | Nhóm IB |
| Khỉ vàng | Macaca mulatta | LR - Ít nguy cấp | LC - Ít quan tâm | Nhóm IIB |
| Khỉ đuôi lợn phương Bắc | Macaca leonina | VU - Sẽ nguy cấp | VU - Sẽ nguy cấp | Nhóm IIB |
| Khỉ mốc | Macaca assamensis | VU - Sẽ nguy cấp | VU - Sẽ nguy cấp | Nhóm IIB |
| Khỉ đuôi dài | Macaca fascicularis | LR - Ít nguy cấp | VU - Sẽ nguy cấp | Nhóm IIB |
| Khỉ mặt đỏ | Macaca arctoides | VU - Sẽ nguy cấp | VU - Sẽ nguy cấp | Nhóm IIB |