Ốc bươu vàng có tên khoa học Pomacea canaliculata (Lamarck, 1822), thuộc họ Ampullariidae, bộ Architaenioglossa, lớp Gastropoda, giới Animalia.
Loài này được ghi nhận trong 1 danh mục pháp lý: Loài ngoại lai xâm hại.
Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 34 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La và 26 địa phương khác.
Loài đã được kiểm kê tại 3 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.
Chế độ pháp lý với loài ngoại lai xâm hại
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Loài ngoại lai xâm hại
Thông tư 35/2018/TT-BTNMT và Luật Đa dạng sinh học 2008
Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm.
Danh mục loài ngoại lai xâm hại quy định tại Phụ lục 1, Danh mục loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại quy định tại Phụ lục 2, ban hành kèm theo Thông tư 35/2018/TT-BTNMT.
Căn cứ: Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại · Luật Đa dạng sinh học 2008
Nghĩa vụ kiểm soát loài ngoại lai xâm hại
Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Đặc điểm và sinh thái
Đặc điểm nhận dạng
Ốc Bươu vàng là loài ốc nước ngọt có kích thước lớn (có thể lên đến 10cm), có hình dạng tương đối tròn, những cá thể được nuôi trang trí trong bể cá thường nhỏ hơn một chút. Vỏ thông thường có màu nâu hoặc xanh, có dạng xoắn ốc. Một số giống nuôi tại hồ có thể có màu vàng. Màu sắc cơ thể ốc Bươu vàng thay đổi từ màu tối, gần như đen tới kem nhạt. Ốc Bươu vàng đẻ trứng thành từng ổ bám vào các giá thể cách mặt nước khoảng 50 cm. Ổ trứng ốc Bươu vàng mới đẻ có màu đỏ hoặc hồng đậm, khi sắp nở chuyển sang màu hồng nhạt. Ốc con nở ra rơi xuống nước, sau 2 ngày vỏ ốc cứng lại, ốc mới nở bò trong nước. Ốc non: ăn tảo, các mầm lúa, lá cây mềm. Ốc cái có mai lõm vào trong, miệng hơi loe hơn con đực.
Đặc tính sinh học
Vòng đời ốc Bươu vàng: Thời gian từ khi đẻ trứng đến khi nở ra ốc non kéo dài từ 5 - 7 ngày, ốc non là 2 ngày, ốc trưởng thành là 60 ngày. Ốc Bươu vàng sống trong môi trường nước ngọt hoặc đất sình lầy. Loài này thích bóng râm, di chuyển theo nguồn nước và thời gian ngủ nghỉ qua đông kéo dài đến 6 tháng.
Ốc non ăn tảo, các mầm lúa, lá cây thủy sinh mềm, phàm ăn, lớn rất nhanh, khoảng 60 ngày từ ốc non thành ốc trưởng thành, 2 - 3 ngày sau có thể cặp đôi, sinh sản. Con cái đẻ trứng thành từng ổ bám vào giá thể ở cao hơn mặt nước khoảng 50cm (cây lúa, cỏ dại, cây thủy sinh) vào chiều mát hoặc sáng sớm. Mỗi ổ trứng có khoảng từ 25 trứng đến 500 trứng, tỉ lệ trứng nở 80%, đẻ trứng trên thân cây lúa, cây cỏ (phần ở trên mặt nước), trên gốc cây ven bờ ao, sông rạch.
Phân bố tại Việt Nam
Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.
Ốc bươu vàng có tên khoa học Pomacea canaliculata (Lamarck, 1822), thuộc họ Ampullariidae, bộ Architaenioglossa, lớp Gastropoda, giới Animalia. Ốc Bươu vàng là loài ốc nước ngọt có kích thước lớn (có thể lên đến 10cm), có hình dạng tương đối tròn, những cá thể được nuôi trang trí trong bể cá thường nhỏ hơn một chút. Vỏ thông thường có màu nâu hoặc xanh, có dạng xoắn ốc. Một số giống nuôi tại hồ có thể có màu vàng. Màu sắc cơ thể ốc Bươu vàng thay đổi từ màu tối, gần như đen tới kem nhạt. Ốc Bươu vàng đẻ trứng thành từng ổ bám vào các giá... Loài được ghi nhận phân bố tại Hà Nội, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lào Cai, Điện Biên.
Ốc bươu vàng có phải loài ngoại lai xâm hại không?
Có. Loài nằm trong Danh mục loài ngoại lai xâm hại ban hành kèm Thông tư 35/2018/TT-BTNMT. Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm. Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Ốc bươu vàng phân bố ở khu bảo tồn nào?
Dữ liệu kiểm kê ghi nhận loài tại 3 khu: Vườn quốc gia Cát Tiên, Vườn quốc gia Xuân Thủy, Vườn quốc gia Tràm Chim.
Căn cứ pháp lý
Luật Đa dạng sinh học 2008
Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại
Cập nhật từ nguồn: 25/09/2024. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.