Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây hoa lily

Nội dung cập nhật theo Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT, sửa đổi bởi Thông tư 03/2025/TT-BNNMT, áp dụng từ .

Nhóm: CÂY HOA CÂY CẢNH. Xem thêm thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký trên hoa.

Dịch hại thường gặp và thuốc đã đăng ký phòng trừ

Danh sách dựng từ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT) — không nằm trong tài liệu kỹ thuật gốc. Bấm vào từng dịch hại để xem thuốc, liều lượng và thời gian cách ly.

Dịch hạiSố thuốc đã đăng ký
Kích thích sinh trưởng1

Nội dung quy trình kỹ thuật

QUY TRÌNH

Kỹ thuật trồng, chăm sóccây hoa Lylitrên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

(Ban hành kèm theoQuyết định số /QĐ-UBNDngày //2025 của UBND tỉnh Lâm Đồng)

I. Yêu cầu sinh thái, điều kiện ngoại cảnh

1.Nhiệt độ, ẩm độ

- Nhiệt độ:Lily có nguồn gốc ôn đới nên ưa trồng ở những nơi có khí hậu mát mẻ, có biên độ nhiệt độ ngày và đêm cao, Lily cũng là cây tương đối chịu rét, nhưng chịu nóng kém, ưa khí hậu mát ẩm, nhiệt độ thích hợp ban ngày là 20-250C, ban đêm là 12-150C. Dưới 120C cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù. Từ khi xuất hiện nụ đến khi ra hoa nhiệt độ chênh lệch ngày và đêm ảnh hưởng lớn tới chiều cao cây, chênh lệch từ 00C đến 160C thì độ cao của cây dao động từ 14,2-27cm.

- Ẩm độ:Đất quá khô hoặc quá nhiều nước đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của Lily. Thời kỳ đầu cây cần nhiều nước, thời kỳ ra hoa nhu cầu nước giảm bớt vì nước nhiều hoa rễ bị rụng và tỷ lệ thối sẽ cao. Lily thích không khí ẩm ướt, độ ẩm thích hợp là 80-85%. Do bộ rễ Lily không đủ sâu, nên cây chỉ yêu cầu tối thiểu lớp bề mặt đất là 40 cm phải thoát nước tốt, do vậy đất cần được giữ ẩm một vài ngày trước khi trồng củ Lily, để cho rễ cây phát triển nhanh.

Lily rất sợ mưa to và gió mạnh, nên phải trồng trong nhà lưới hoặc nhà nilon để điều chỉnh nước tưới cho cây.

2. Ánh sáng: Lily là cây ưa cường độ ánh sáng ở mức trung bình, vì vậy nếu trồng vào vụ hè thu cần phải che bớt 40-60% ánh sáng nhất là thời kỳ cây cao 20-30 cm, tạo cho cây có cường độ ánh sáng thích hợp (20000-30000 lux). Lily yêu cầu ánh sáng ngày dài, hoa nở sẽ đến sớm trong điều kiện ngày ngắn có chiếu sáng nhân tạo. Khi có khoảng 50% nụ nhú ra, cây cần chiếu sáng 16 h/ngày và tiếp tục kéo thêm 6 tuần hoặc cho đến khi nụ đóng búp.

Thiếu ánh sáng, quá trình quang hợp bị giảm đi, cường độ hấp thụ dưỡng chất giảm đi đáng kể. Thiếu ánh sáng cũng làm ảnh hưởng thân cây phát triền, ảnh hưởng gián tiếp đến sự hấp thụ dưỡng chất của rễ.

3. Đất đai:Lily có thể trồng ở nhiều loại đất, nhưng đất nhiu mùn, đất thịt nhẹ là tốt nhất. Lily là loại cây có rễ ăn cạn vì vậy đất thoát nước rất quan trọng. Lily rất mẫn cảm với muối, đất nhiu muối cây không hút được nước, ảnh hưởng đến sinh trưởng, phân hoá hoa và ra hoa. Nói chung hàm lượng muối không được vượt quá 15ms/dm.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

1.Giống và tiêu chuẩn cây giống

- Củgiống: Chủ yếu nhập khẩu từ Hà Lan.Một số giống hoa Lily trồng phổ biến hiện nay:

STT

Giống

Vụ Đông Xuân (ngày)

Hè Thu (ngày)

1

Sorbone

90-95

80-85

2

Tiber

87-92

75-80

3

Manisa

85-90

70-75

4

Riato

90-95

80-85

5

Yellowen

70-75

65-70

6

Benlladona

Ít trồng

75-80

2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

2.1. Thời vụ trồng:Lyli trồng quanh năm.

2.2. Mật độ trồng:tùy thuộc vào giống khác nhau và kích thước củ giống khác nhau mà mật độ trồng cũng khác nhau.

- Trồng hàng x hàng 15-20cm; cây x cây 20-25cm, bình quân từ 25-40 củ/m2. Chọn củ giống không biểu hiện bị sâu bệnh, củ mập vảy củ không bị xây xát, củ có mầm dài khoảng 1cm để trồng.

- Mặt luống rộng 1m trồng 5 củ trên hàng, mặt luống rộng 1,2m trồng 6 củ trên hàng, tùy thuộc vào giống và kích thước củ giống khác nhau mà mật độ trồng cũng khác nhau.

- Sau khi lựa chọn, cho củ giống vào dung dịch xử lý ngâm khoảng 30-60 phút, vớt ra, để ráo nước là có thể trồng được.

- Thành phần dung dịch xử lý:Tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất sau đây để xử lý: Metalaxyl 1,5 gr/lit pha trong bể xử lý thuốc khoảng 100-200 lít nước.

2.4. Chuẩn bị vật liệu, trang thiết bị

- Nhà kính: đảm bảo ánh sáng và hệ thống thông gió cho cây trồng, làm nhà kín để hạn chế côn trùng, nấm bệnh xâm nhập. Nền nhà và xung quanh luôn được vệ sinh sạch để tránh sâu, bệnh trú ngụ. Hệ thống tưới tự động được đầu tư trong nhà kính giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, đồng đều.

- Hệ thống lưới che sáng: Nhà kính cần sử dụng lưới che nắng 60% để che mát cho cây, kể cả 4 phía đều phải che mát, xung quanh phải thông thoáng, che sáng khu vực trồng trước khi trồng 5-7 ngày, để làm giảm nhiệt độ của đất.

- Hệ thống lưới đỡ cây: Có thể sử dụng lưới kẽm, lưới nhựa hoặc lưới dây dù để đỡ cây chống đổ ngã.

2.5. Chuẩn bị đất:

- Cày đất sâu khoảng 25 -30cm, bừa mịn, phơi ải trong 1-2 tuần, dùng thuốc xử lý đất trước khi trồng cây ít nhất 15 ngày để hạn chế sâu, bệnh hại,rải phân hữu cơ trộn đều với đất, sau đó cày bừa kĩ, san bằng, không để những hạt đất quá to.

Sau đó lên luống, mặt luống rộng 1.0-1.2 m, luống cao 20-30 cm, giữa các luống có rãnh rộng 50-60 cm, bề mặt luống bằng phẳng, tưới ẩm đều trước khi trồng cây.

- Rải phân bón lót trên mặt luống, phân hữu cơ, sau đó trộn đều đất ở độ sâu 20 cm, san bằng mặt luống, hai bên rìa luống cao hơn luống 2-3cm, để khi tưới nước không chảy ra ngoài.

- Dùng thuốc bảo vệ thực vật để xử lý đất trồng, nó có thể tiêu diệt đại bộ phận nấm bệnh và côn trùng trong đất.

Nếu đất bị nhiễm bệnh nặng hoặc là đất đã trồng Lily nhiều lần, có thể dùng phương pháp xử lý vi sinh như các loại Trichoderma, để xử lý cho đất, hiệu quả sẽ rất tốt. Luân canh cây trồng khác để hạn chế rủi ro do bệnh gây ra.

- Xử lý bạt che sáng: Nhà kính cần sử dụng lưới che nắng 60% để che mát cho cây, kể cả 4 phía đều phải che mát, xung quanh phải thông thoáng, che sáng khu vực trồng trước khi trồng củ 5-7 ngày, để làm giảm nhiệt độ của đất.

2.6. Kỹ thuật trồng:

Củ giống được trồng với độ sâu từ 6-8 cm (khoảng cách từ đỉnh củ giống tới mặt đất). Khi trồng nên đào rãnh sâu từ 10-12 cm, sắp xếp củ giống ngay ngắn đúng cự ly, chú ý mầm phải hướng lên trên, rải cát mỏng xung quanh củ giống để cố định củ giống, sau đó rải lên lớp đất dày 6-8cm.

San bằng mặt luống, 2 bên mặt luống cao hơn 2-3 cm, để khi tưới nước, nước không lan ra khỏi mặt luống.Sau khi trồng nên tưới nước liền, để duy trì ẩm độ cho đất trồng.Tiến hành phủ mặt luống bằng rơm rạ, xơ dừa, duy trì ẩm độ, phòng ngừa đất trên mặt luống láng mặt.

2.7. Phân bón và cách bón phân:

Khoảng 2 - 3 tuần đầu sau trồng không cần bón phân, nếu đất khô quá thì phun nước duy trì độ ẩm đất. Có thể kiểm tra bằng cách lấy tay bóp đất, nếu không ra nước sau đó gõ nhẹ mà đất vỡ ra là được.

Lượng phân bón tính cho 1ha:

- Phân chuồng hoai mục 60-80 m3;

- Vôi: 1000- 1500 kg

-Phân hữu cơ vi sinh: 1000 – 1500 kg

- Canxi: 100-150 kg/ha

- Lượng phân vô cơ nguyên chất:

+ N: 120-150 kgtương đương 260-326 kg Ure

+P2O5: 120-150 kg tương đương 727 – 909 kg Super lân

+ K2O: 150-180 kg tương đương 251 - 301kg KCl

Có thể sử dụng phân đơn chất quy đổi theo lượng nguyên chất như trên hoặc sử dụng các loại phân phức hợp để bón. Có thể bón phân theo 2 cách như sau:

* Cách 1 – bón theo cách thông thường, không dùng hệ thống châm phân tự động qua tưới nhỏ giọt

+ Bón lót: Toàn bộ vôi trước khi trồng 10-15 ngày, khi làm đất lần cuối bón phân chuồng + phân hữu cơ vi sinh + 25 kg DAP + 10 kg Canxi Nitrate.

+ Bón thúc lần 1: 20 ngày sau trồng: Bón 15 kg NPK 15-9-20.

+ Bón thúc lần 2: 35 ngày sau trồng: 15 kg Complex 12-11-17 + TE kết hợp tiến hành xới xáo, làm cỏ.

+ Bón thúc lần 3: Khoảng 50-55 ngày sau trồng: 10 kg Complex 12-11-17 + TE + 10 kg NitraBor + 10 kg MgSO4. Sau khi bón phân tiến hành vun đất vào gốc cao 3-5cm kết hợp tưới đẫm nước.

Sau đó 15 ngày bón 1 lần loại phân NPK Complex, NPK 7-7-14 số lượng từ 10-15 kg + 10 kg K2S04.

Cần bổ sung thêm các loại phân bón lá và vi lượng cho cây.

* Cách 2 – Bón phân thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt

*Bón lót:Chế độ bón lót thông thường như sau:

Phân chuồng đã ủ hoai

: 5

 

m3

Vôi

: 100

 

kg-150

 

kg

NPK 20-20-

15

: 20

 

kg

Phân hữu cơ

vi sinh

: 100

 

kg

Bón thúc

:

+ Bón thúc lần đầu: Khoảng 20 ngày sau trồng

Hàm lượng phân bón qua hệ thống tưới nhỏ giọt như sau:

- CaNO3: 45 kg

- KNO3: 35 kg

- (NH4HPO4) : 10 kg

- MgSO4.7H2O : 10 kg

-

Urea

: 10 kg

- Borax : 100 gr

Chia 02 bồn chứa riêng biệt, không trộn chung phân bón có gốc Canxi với gốc lân, cây sẽ bị kết tủa.

+ Bón thúc giai đoạn hình thành nụ hoa:10 ngày bón phân 1 lần với lượng phân bón như sau:

NPK 20-10-10

: 15kg

MgSO

4

: 5 kg

,

Lượng nước tưới gốc khoảng 200 lít/1000 m2

+Bón thúc giai đoạn ra hoa và trước thu hoạch:10 ngày bón phân 1 lần với lượng phân bón như sau:

NPK 20-10-10

: 20kg

Ca

 

(NO

3

)

2

 

: 10 kg

Lượng nước tưới gốc khoảng 200 lít/1000 m2

Trước khi thu hoạch một tuần ngưng bón phân

2.8. Chăm sóc

a.Tưới nước:Trong thời kỳ sinh trưởng của lily cần duy trì độ ẩm cho đất. Đất quá khô cây sinh trưởng chậm. Ngược lại nước quá nhiều, ánh sáng không đủ thì thân lá mềm, yếu, cây vươn dài, tỷ lệ hoa mù cao.

Sau trồng thường tưới đẫm cho nước thấm sâu khoảng 20cm, sau đó, tùy độ ẩm của đất khoảng 3-5 ngày tưới 1 lần.

Giai đoạn cây ra hoa thường 5-7 ngày tưới 1 lần

Có thể tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt. Lượng nước tưới nhiều hay ít phụ thuộc vào đất, nhiệt độ không khí, giống, tình hình sinh trưởng của cây và hàm lượng muối trong đất. Nên tưới trước 10 giờ sáng, phun lên cây để tránh đất quá ẩm, đồng thời tăng được độ ẩm trong nhà kính. Khi cây ra hoa thì ít tưới và tránh phun lên cây dễ làm thối nụ, hoa.

b. Làm giàn:

- Nhà kính đảm bảo ánh sáng và hệ thống thông gió cho cây trồng, làm nhà kín để hạn chế côn trùng, nấm bệnh xâm nhập. Nền nhà và xung quanh luôn được vệ sinh sạch để tránh sâu, bệnh trú ngụ. Hệ thống tưới tự động được đầu tư trong nhà kính giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, đồng đều.

- Hệ thống lưới che sáng: Nhà kính cần sử dụng lưới che nắng 60% để che mát cho cây, kể cả 4 phía đều phải che mát, xung quanh phải thông thoáng, che sáng khu vực trồng trước khi trồng 5-7 ngày, để làm giảm nhiệt độ của đất.

- Hệ thống lưới đỡ cây: Có thể sử dụng lưới kẽm, lưới nhựa hoặc lưới dây dù để đỡ cây chống đổ ngã.

c. Tủ gốc giữ ẩm hoặc phủ nilon:Trồng xong phủ lớp rơm, cỏ khô để làm mát đất, giúp củ mọc tốt, tránh trường hợp đất trên mặt luống láng mặt.

3.Phòng trừ sâu bệnh

3.1. Biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp

- Vệ sinh vườn: Luôn vệ sinh vườn dọn sạch cỏ rác và tàn dư thực vật khác, cắt tỉa lá già và xử lý cách xa vườn trồng.

- Cây giống: Chọn cây giống sạch bệnh, sử dụng cây giống đạt tiêu chuẩn tốt, độ đồng đều cao, phát huy ưu điểm của giống, sức sống khỏe, năng suất cao, sạch sâu bệnh.

-. Mật độ trồng và kỹ thuật trồng: Trồng với mật độ thích hợp đúng theo quy định tại quy trình này, tránh trồng dầy sẽ tạo ẩm độ cao tạo điều kiện nấm bệnh phát triển. Sử dụng phân bón hợp lý, tránh bón thừa phân đạm để tăng khả năng chống chịu bệnh.

- Đặt bẫy dính: Bọ trĩ giai đoạn trưởng thành bị hấp dẫn bởi màu vàng. Các bẫy dính này treo ngay phía trên của vòm lá hoặc treo xung quanh nhà kính, với mật độ 1 bẫy/2m2.

- Sử dụng chế phẩm Trichodema để rải vào đất hoặc phun lên cây. Không sử dụng thuốc hóa học tùy tiện, chỉ nên sử dụng các loại thuốc có phổ tác động hẹp, thuốc thế hệ mới phân giải nhanh, thuốc ít độc đối với thiên địch nhưng hiệu quả đối với các loài sâu bệnh hại. Ưu tiên sử dụng các loại thuốc thảo mộc và thuốc có nguồn gốc sinh học. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phải theo nguyên tắc “4 đúng”.

- Luân canh cây trồng khác họ.

3.1. Sâu hạivà biện pháp phòng trừ

3.1.1.Rệp muội: (Aphis gossypii)

-Đặc điểm gây hại: Rệp tập trung ở đỉnh mầm non, tâm lá, nụ hoa để hút dịch, làm cho tâm lá biến dạng. Rệp muội chủ yếu gây hại lá non, đặc biệt là mặt sau của lá. Đồng thời chúng cũng gây hại cho nụ hoa nhỏ, sản sinh đốm xanh, có bộ phận hoa bị dị dạng. Rệp muội có thể truyền nhiễm bệnh gây hại.

- Biện pháp phòng trừ:

- Làm sạch cỏ, giảm bớt thực vật ký chủ cho rệp.

- Treo bẫy trừ rệp màu vàng, bắt rệp và giám sát số lượng.

- Hạn chế canh tác với hoa họ thập tự.

-Hiện nay chưa có thuốc trong Danh mục phòng trừ rệp muội/lily. Tham khảo sử dụng thuốc có chứa hoạt chất: Abamectin, Emamectin benzoate để phòng trừ.

3.1.2. Bọ trĩ: Frankliniella intonsa (Trybom)

- Đặc điểm gây hại: Là loại sâu nhỏ bò hoặc nhảy, tập trung ở hoa hoặc lá. Sâu non thích núp ở trong nụ hoa. Sâu trưởng thành thích hút dịch ở bề mặt hoa tạo thành vân khác màu hoặc giảm màu sắc hoa.

- Biện pháp phòng trừ

+ Làm sạch cỏ, diệt nguồn gốc sâu.

+ Treo bảng bẫy màu xanh trên đất trồng để bắt bọ trĩ.

+ Hiện nay chưa có thuốc trong Danh mục phòng trừ bọ trĩ/lily. Tham khảo sử dụng thuốc có chứa hoạt chất:Imdacloprid, Abamectin, Cypermethrin, Dinotefuran, Emamectin benzoate…Định kì phun thuốc trừ sâu 5-7 ngày /lần.

3.1.3. Nhện đất hại củ: (Rhizoglyphus robini Claparede;Rhizoglyphus setosus Manson).

- Đặc điểm gây hại: Gây hại cho vẩy và rễ, vẩy sau khi bị xâm hại bắt đầu biến đổi, nghiêm trọng hơn sẽ tiến hành vào trong, làm cho thối rữa, thường kết hợp với các loại bệnh khác, làm cho củ giống bị thối rữa; gây hại cho bộ rễ chủ yếu là rễ lớn trước (rễ chính), ăn mòn những bộ phận mềm yếu của rễ, làm mất khả năng hấp thụ nước và dưỡng chất, dẫn đến vàng lá hoặc thân cây khô chết.

- Biện pháp phòng trừ:

+ Luân canh với cây trồng khác, giảm độ ẩm đất, tăng nhiệt độ đất có thể làm giảm nguy cơ gây bệnh của chúng.

+ Làm sạch cỏ, cắt bỏ lá, thân bị hại đem tiêu hủy.

+ Xử lý củ giống: Ngâm trong dung dịch thuốc 30 phút.

+ Xử lý đất trước khi trồng: Rải phân trên đất.

+ Hiện nay chưa có thuốc trong Danh mục phòng trừ nhện/lily.Có thể tham khảo sử dụng các thuốc có hoạt chất sau để phòng trừ: Emamectin benzoate, Abamectin,Cypermethrin, Dinotefuran

3.1.4. Rệp bông (Aphis gossypii Glover)

- Đặc điểm gây hại: Chủ yếu gây hại thân, cành, lá. Rệp hút dịch lá làm cho cây khô héo, hoa biến dạng, đồng thời rệp bông là môi giới truyền bệnh virus hoa lá dưa (CMV) gây hại cho lily.

- Biện pháp phòng trừ: Làm sạch cỏ, vì cỏ là ký chủ chủ yếu của rệp, cắt bỏ lá, thân bị hại đem tiêu hủy. Hiện nay chưa có thuốc trong Danh mục phòng trừ nhện/lily. Có thể tham khảo sử dụng các thuốc có hoạt chất sau để phòng trừ: Emamectin benzoate, Abamectin,Cypermethrin,Dinotefuran

3.2. Bệnh hại và biện pháp phòng trừ

3.2.1. Bệnh thối thân: Nấm thối thân gây bệnh (3 loại):

- Phytophthora parasitica Dastur

-P. cactorum (L.&L.) Schroeter

- P. cinnamomi Rand

Trong 3 loại nấm gây bệnh này, chủ yếu là 2 loại trên có nguy hại cho hoa Lily. Các bộ phận của cây đều có khả năng bị nhiễm bệnh, nhưng phần non dễ bị nhiễm bệnh hơn. Thường sau khi mưa liện tục từ 2-3 ngày hay xuất hiện bệnh hại, trong vòng 3-5 ngày là bệnh phát triển mạnh, nhiệt độ thích hợp cho bệnh phát triển khoảng 20-250C, có một loại nấm thích hợp nhiệt độ 30-320C, độ ẩm thích hợp là 90-95%. Nấm có thể sống ở dưới đất từ 1-2 năm. Nấm thâm nhập vào rễ hoặc đất trồng, khi gặp nhiệt độ thích hợp, trong vòng 1h đồng hồ sẽ xâm nhập vào cây thông qua nước tưới.

- Triệu chứng gây hại: Khi hoa, mầm mới bị nhiễm bệnh, rễ và rễ cọc xuất hiện những đốm màu, trong môi trường ẩm thấp đốm sẽ lan to và biến thành màu đen xám, thông thường từ phần nhiễm bệnh trở lên có biểu hiện triệu chứng bệnh trước và khô héo, Lily bị nhiễm bệnh sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây hoặc cây bị héo. Bộ rễ bị nhiễm bệnh xuất hiện vùng có đốm màu xanh đậm hoặc màu đen, và phát triển lên phía trên. Lá bị vàng, bộ rễ bắt đầu bị mất màu. Phần rễ ở trên mặt đất cũng có hiện tượng tương tự, làm cho thân cây đổ ngã hoặc bị cong. Đốm bệnh sau khi chuyển màu đen xám, gặp độ ẩm cao, sẽ chuyển thành màu xám trắng

- Biện pháp phòng trừ:

Phòng ngừa là chính, hạn chế lượng nước trong đất quá cao không để cây bị úng nước, độ ẩm không khí quá cao, độ ẩm không khí từ 90% trở lên bệnh lây lan nhanh.Trước khi trồng phải tiến hành xử lý cho đất và củ giống.

Hiện nay chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh thối thân/lily, có thể tham khảo các loại thuốc BVTV có hoạt chất sau để phun định kỳ như Mancozeb, Chlorothalonil.

3.2.2. Bệnh thối rễ:(Pythium.spp,Fusarium oxysporum f. Sp. Lili, Rhizoctonia solani kuhn)

Thường phát sinh ở những vùng đất khó thoát nước và không thoáng khí. Sau khi rễ bị tổn thương, làm cho cây bị thấp, lá phần dưới bị chuyển vàng, hoa nhỏ hoặc thậm chí không thể nở hoa. Nguyên nhân gây bệnh thối rễ là do sự lây nhiễm của nhiều loại nấm, khuẩn gây bệnh. Đất kết cấu kém, đất quá mặn hoặc ẩm ướt cũng là môi trường tốt cho nấm phát triển. Bệnh thối rễ chủ yếu do tính chất đất, nhiệt độ, độ pH và ánh sáng, và độ ẩm ảnh hưởng lớn nhất đến bệnh. Nhiệt độ cao, độ ẩm cao, thiếu ánh sáng cũng có thể phát bệnh, thừa phân N, nồng độ bón phân cao cũng làm bệnh phát sinh.

a.Triệu chứng: Khi cây bị nhiễm bệnh phát triển chậm, thấp, lá vùng dưới cây bị vàng, lá phần trên cây nhỏ, chuyển màu trắng và dễ bị héo. Bộ rễ bị úng nước, có đốm màu vàng nhạt, nghiêm trọng hơn làm rễ bị thối rữa, vảy củ giống bị thối rữa, bề ngoài chuyển thành màu vàng sẫm.

b.Biện pháp phòng trừ: Bệnh thối rễ là bệnh hại trong đất, chủ yếu là phòng ngừa, phòng trừ tổng hợp.

- Chú ý vệ sinh xung quanh, hạn chế sử dụng phân chuồng chưa ủ kỹ, chọn lựa giống tốt.Cải thiện chất lượng đất tăng cường tính thoát nước và thông thoáng, chọn lựa nguồn nước sạch tưới cây.

- Tiến hành xử lý củ giống, đất trồng, canh tác hợp lý.Sau khi trồng phun thuốc phòng trừ 2-3 lần vào rễ thời gian cách nhau 5-7 ngày.

3.2.3. Bệnh nấm mốc: (Botrytis elliptica (Berk) Cook và Botrytis cinerea Pers).

Khi môi trường thích hợp, đặc biệt là sau khi mưa liên tục mấy ngày cây rất dễ bị bệnh, vùng nhiễm bệnh chủ yếu là vùng lá già. Khi bệnh gặp môi trường khô và nhiệt độ cao bệnh sẽ bị ức chế. Bệnh chủ yếu dựa vào nước mưa và gió truyền bào tử gây bệnh, khi gặp điều kiện thích hợp truyền bệnh rất nhanh. Nhiệt độ phát bệnh thích hợp là 15-250C, thích hợp hình thành bào tử là 160C.

a.Triệu chứng: Bộ phận nhiễm bệnh gồm lá, thân, và hoa. Triệu chứng ban đầu ở lá là có hình giọt nước trong, sau đó phát triển nhanh chóng thành đốm hình dáng lớn nhỏ màu đỏ đậm khác nhau.

b. Phương pháp phòng trừ: Hạn chế môi trường có độ ẩm lớn. Tưới nước vào buổi sáng sớm, thông gió và gia nhiệt, duy trì cây khô ráo. Khi trồng vào mùa mưa, khoảng cách trồng cây phải thích hợp, nhà kính phải thông thoáng. Kịp thời nhổ cỏ dại và ngắt bỏ lá bị bệnh. Trước khi trồng tiến hành xử lý đất. Thời kì sinh trưởng phun thuốc BVTV định kỳ 4-5 ngày /lần . Có thể tham khảo các loại thuốc BVTV có hoạt chất chlorothalonil để phòng trừ.

3.2.4. Bệnh héo vàng: (Fusarium oxysporum Schlecht.f.sp.lilii Imle, F. solani (Mart.) Sacc)

Phát bệnh ở nhiệt độ khá cao, thường vào lúc thời tiết nắng nóng. Thông thường ở rễ và phần thân, củ giống, vẩy. Sau khi bị nhiễm bệnh làm cho thân cây thấp bé, phát triển không bình thường, vùng lá bên dưới bị vàng sớm, rụng lá, nghiêm trọng hơn sẽ làm cây bị chết. Nấm hại này thông qua vết thương hoặc ký sinh trùng thâm nhập vào bộ phận dưới đất của cây, thường nhiễm bệnh ở bộ rễ trước, khoảng 2-3 tháng sau mới xuất hiện triệu chứng trên mặt đất. Bệnh lây truyền rất nhanh. Khi trồng nhiệt độ càng cao cây càng dễ bị nhiễm bệnh.

a.Triệu chứng gây hại: Cây thấp bé, màu sắc lá nhợt nhạt, vảy củ giống xuất hiện đốm màu, sau đó từ từ làm cho củ giống thối rữa. Xuất hiện những đốm màu cam trên vùng nhiễm bệnh, sau đó lan to, nếu xâm nhập vào bên trong, sẽ làm cho thối rữa, trên mặt đất xuất hiện hiện tượng lá thân dưới chuyển vàng sau đó chuyển màu nhạt và bị chết.

b.Biện pháp phòng trừ:

- Khi trồng vào mùa hè phải giảm nhiệt độ đất và nhà kính.

- Luân canh chung với ruộng nước hoặc sử dụng nước xử lý đất 1-2 tháng.

- Trước khi trồng xử lý củ giống bằng thuốc BVTV: Hiện nay chưa có thuốc BVTV đăng ký phòng trừ, có thể tham khảo các loại thuốc BVTV có hoạt chất sau để phun định kỳ như Hymexazol, Fosetyl Aluminum.

5. Bệnh lở cổ rễ: (Rhizoctonia solani Kuhn)

a. Đặc điểm gây hại:Nấm bệnh chủ yếu từ đất truyền bệnh cho mầm non của cây, thích hợp ở nhiệt độ cao 150C, môi trường ẩm ướt. Vi nấm này gây hại cho nhiều loại thực vật khác, như hoa cúc và cà chua.Vì vậy, rất nhiều vùng đất bị nhiễm loại nấm này. Nếu bị nhẹ, nó chỉ gây hại cho lá ở dưới mầm non. Bệnh nhẹ cây sẽ ảnh hưởng đến chất lượng hoa, nhưng vẫn tiếp tục sinh trưởng. Khi cây bị nhiễm bệnh nặng, lá trên mặt đất sẽ bị héo rụng, trên thân xuất hiện những đốm màu vàng đậm, khi nghiêm trọng mầm non sẽ chết.Trên thân, lá xuất hiện đốm vàng, nụ hoa chưa kịp nở đã khô héo.

b. Biện pháp phòng trừ:

-Nếu như trước khi trồng đã nhiễm bệnh nên tiến hành xử lý đất.

-Đảm bảo mầm phát triển nhanh, có thể giảm khả năng truyền nhiễm bệnh, cung cấp độ ẩm thích hợp cho đất trồng, trước khi trồng phải phát rễ cho cây, trồng cây có bộ rễ tốt.

-Hiện nay chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh lở cổ rễ/lily.Có thể tham khảo các loại thuốc BVTV có hoạt chất Iprodioneđể phòng trừ .

6. Bệnh Nấm bông gòn:(Sclerotium rolfsii Sace)

- Triệu chứng gây bệnh: Bệnh do nấm hại trong đất gây ra. Là bệnh truyền nhiễm dưới đất rất nguy hiểm. Sinh sống trong cơ thể và chất hữu cơ của thực vật dưới dạng vi nấm. Nấm này sống tốt ở nhiệt độ từ 15-200C, Ký sinh trên nhiều loại cây trồng, đặc biệt nguy hiểm đối với rau cần, hành tây, họ cà và cà rốt.

Cây nhiễm bệnh lúc đầu có hiện tượng mất nước nhẹ ở phần lá dưới cây, sau đó bị vàng hóa, vào lúc này phần dưới đất của cây đã bị thối dần và bị bao quanh bởi sợi nấm màu trắng.Ở bề mặt đất của cây bị nhiễm bệnh xuất hiện sợi nấm màu trắng và bắt đầu lan tỏa.

- Biện pháp phòng trừ: Khi phát hiện bệnh nhổ ngay cây bị nhiễm bệnh, tưới thuốc trừ bệnh, phòng trừ bệnh khuếch tán sang những vùng khác.

Hiện nay chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh nấm bông gòn/lily.Có thể tham khảo các loại thuốc BVTV sau đây để phòng trừ như Fosetyl Aluminum, Mancozeb.

7. Bệnh bạc lá hoa (bệnh do virus)

Bệnh viurus gây hại hoa Lily có hơn 10 loại, chủ yếu thông qua rệp muội, tiếp xúc vết thương, và lúc thu hoạch.

a. Triệu chứng: Các bộ phân trên cây đều bị nhiễm bệnh, xuất hiện lá màu sắc nhợt nhạt không đều, đốm vàng.... nhiều triệu chứng. Xuất hiện vết đốm khác màu trên hoa đã lên màu, khi lá hoa bị nhiễm bệnh nặng xuất hiện hiện tượng cuốn lá, rụng hoa...

Bệnh bạc lá hoa ở Lily do virus gây nên, được biết có 5 loại virus gây bệnh là virus lá hoa Uất kim hương (TBV), virus lá hoa dưa chuột (CMV), virus Lily (LSV), virus lá hoa quýt (CTLV), virus đốm nhỏ Lily (LMMV). Virus đốm Lily (Lily symptomless virus, LSV).

b. Biện pháp phòng trừ:

-Làm sạch cỏ, thường xuyên phun thuốc trừ sâu, ngăn ngừa rệp muội và sâu dưới đất, ngăn ngừa truyền bệnh.

-Sớm nhổ bỏ những cây bị nhiễm bệnh và tiêu hủy.

-Hạn chế trồng củ giống đời thứ nhất và đời thứ hai chung với nhau hoặc trồng sát nhau.

8. Bệnh rối loạn sinh lý: Cây Lily bị cháy lá có 2 dạng: bị cháy nắng, và cháy sinh lý.

a.Bị cháy nắng

Nguyên nhân chủ yếu do lá không chịu được sự chiếu sáng quá mạnh của ánh nắng mặt trời, một số tế bào chết do mất nước, làm cho lá bị cháy nắng. Thông thường do sau thời gian dài che sáng, đột ngột mở lưới che nắng ra hoặc do mưa liên tục nắng đột ngột dẫn đến cháy nắng. Đề nghị khi mở lưới che nắng nên mở từng bước một.

Trên lá bị đọng nước, sau khi bị ánh nắng chiếu vào cũng dễ bị cháy nắng, vì vậy không nên tưới nước hoặc phun thuốc dưới điều kiện nắng nóng.

Nồng độ thuốc hoặc phân bón lá quá cao, cũng dẫn đến cháy lá.

b.Cháy sinh lý:

Chủ yếu phát sinh trên một số giống như: Sorbonne, Bernini, Tiber, …

- Nguyên nhân do thiếu canxi. Thông thường khi che râm quá nhiều, không thông thoáng, không khí ẩm thấp, liên tục âm u, pH đất quá thấp, hệ rễ kém gây nên hiện tượng cháy lá sinh lý. Những tác động này ảnh hưởng đến sự hòa tan của canxi kém trong đất và quá trình chuyển canxi, dẫn đến tế bào lá non thiếu canxi, tế bào chết, từ đó bị cháy lá.

- Biện pháp phòng trừ: Cải thiện điều kiện thông thoáng, điều tiết ánh sáng thích hợp bằng cách đóng mở màn che sáng hợp lý, điều chỉnh pH đất, sử dụng phương pháp phát rễ, phun phân bón lá có chứa canxi như Calibor đều có thể giảm thiểu hiện tượng cháy lá, khi phát hiên hiện tượng cháy lá tiến hành tách những lá dính chùm ra cũng giảm nhẹ hiện tượng trên.

c. Vàng lá sinh lý do thiếu dinh dưỡng

Nguyên nhân dẫn đến lá bị vàng có rất nhiều, nếu như phần trên bị vàng lá sinh lý thường là do thiếu vi lượng.

- Thiếu sắt: Nếu lá non trên ngọn cây bị vàng, giữa các thịt lá mất màu xanh, thông thường do thiếu sắt, thường xuất hiện ở giống Siberia, Tiber. Khi thiếu sắt ở mức độ nhẹ, sau khi cây lớn sẽ tự chuyển qua màu xanh; khi bị thiếu sắt trầm trọng, lá bị vàng nghiêm trọng, phải kịp thời bón phân có chứa sắt, mới có thể làm cho lá xanh lại. Đất có tính kiềm hoặc nguồn nước có pH cao làm cây không hấp thụ được chất sắt tốt, dễ xuất hiện hiện tượng trên.

- Thiếu Nitơ: nếu lá trên toàn thân cây bị vàng, thường do thiếu nitơ hoặc lưu huỳnh, có thể bổ sung bón thúc có các thành phần trên để lá chuyển xanh lại.

d. Bệnh rụng lá sinh lý

Trong quá trình sinh trưởng của cây Lily, thường hay phát hiện trường hợp lá ở thân dưới bị vàng rụng, nguyên nhân chủ yếu do:

Bộ rễ phát triển kém dẫn đến rụng lá: Bộ rễ phát triển kém hoặc bị tổn thương đều ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ nước và dưỡng chất. Khi hấp thụ không đủ nước và dưỡng chất, lá sẽ bị vàng từ dưới lên trên và rụng. Nguyên nhân gây nên bộ rễ kém phát triển như đất trồng tích tụ nước, không khí không lưu thông được; độ EC của đất quá cao hoặc bón phân bón quá nhiều gây tổn thương đến bộ rễ; nhiệt độ đất quá cao....

Do bệnh dẫn đến rụng lá:Bệnh hại cũng là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng lá rụng, như bệnh về rễ, bệnh phấn trắng.

Phương pháp phòng trị: Chế độ chăm sóc hợp lý, phân bón cân đối, tưới nước phù hợp, sau đó định kì phun thuốc BVTV. Có thể tham khảo các laoị thuốc BVTV có hoạt chất sau để phun phòng như Metalaxyl, Fosetyl Aluminum.

Do môi trường không thích hợp dẫn đến lá rụng: Môi trường không thích hợp cũng dẫn đến hiện tượng rụng lá, ví dụ như: Mật độ trồng quá dày, không đủ ánh sáng, không thông gió, nhiệt độ mùa đông quá thấp; trong nhà kính chứa các loại khí gây hại, như SO2 cũng làm cho lá rụng.

III. Thu hoạch,sơ chế, bảo quản

1.Thu hoạch hoa Lily

a.Thời gian thu hoạch: Khi nụ hoa bắt đầu lên màu là có thể thu hoạch. Chỉ thu hoạch hoa vào sáng sớm hoặc lúc chiều mát. Không thu hoạch vào buổi trưa khi nắng nóng và nhiệt độ cao, khi thu xong phải để ngay trong bóng râm và vận chuyển về phòng đóng gói trong thời gian tối đa là một giờ.

b.Độ nở của hoa: Tùy theo loại giống, thời gian thu hoạch mà độ nở hoa có khác nhau. Các giống như Sorborne, Tiber chỉ cần lên màu là được. Nếu thu hoạch quá sớm sẽ ảnh hưởng tuổi thọ của hoa, nếu thu hoạch quá trễ hoa dễ bị nở trong quá trình vận chuyển và dễ bị dập nát trong quá trình đóng. Thời điểm thu hoạch tốt nhất khi hoa thứ nhất và hoa thứ hai bắt đầu lên màu. Sau khi thu hoạch xong, hoa phải được ngâm trong xô nước sạch để cành hoa không bị mất nước. Hoa phải được giữ trong phòng đóng gói để phân loại đóng gói.

2. Phân loại hoa Lily

-Phân loại theo tiêu chuẩn chất lượng của thị trường yêu cầu.

-Các giống hoa phải được để riêng để tiện việc kiểm soát số lượng và đóng gói.

a. Tiêu chuẩn phân loại: Dựa vào các tiêu chí như độ dài cành, độ cứng của cành, kích thước của thân, số lá trên cành, số nụ trên hoa, độ to của nụ và cây hoa phải sạch côn trùng sâu bệnh.

b. Tiêu chuẩn chất lượng của hoa Lily

Độ dài cành: 75-90 cm, tùy theo giống, giống Lily thơm cần chiều dài 85-95 cm

Số nụ trên cành: Loại A từ 4-5 nụ trở lên, giảm một nụ trên cây hoa thì loại sẽ bị hạ. các giống lai OT chỉ cần ba nụ trên cây đã đạt tiêu chuẩn do kích cỡ của nụ to.

Nụ hoa, lá, thân hoa không bị dập nát, không bị côn trùng sâu bệnh, không bị nhiễm nấm bệnh.

Số cành trên bó: 5 cành/bó cho Lily thơm (Oriental/OT) và 10 cành/bó cho Lily thường (Asiatic).

3. Bảo quản hoa Lily

Hoa Lily sau khi thu hoạch xong phải ngâm vào xô nước để ở nhiệt độ 25-200C sau khoảng một giờ có thể trữ trong kho lạnh.

Nhiệt độ trữ lạnh từ 2-30 C.Thời gian bảo quản lạnh tối đa là 3-4 ngày, thời gian bảo quản càng lâu lá sẽ chuyển màu vàng, hoa mất màu, tuổi thọ hoa sẽ bị giảm.

a. Xử lý bằng hóa chất

Xử lý bằng dung dịch Chrysal hoặc Floralife theo nồng độ khuyên cáo của nhà cung cấp.

Thời gian xử lý cho phép tối đa là 4 giờ sau đó ngâm vào nước sạch để bảo quản lạnh.

Nếu không có dung dịch thuốc bảo quản có thể ngâm hoa trong nước sạch rồi trữ lạnh. Chú ý cắt gốc 1-3 cm để cây hút nước tốt hơn.

4. Đóng gói và vận chuyển

Tùy theo khách hàng và nhu cầu thị trường mà việc đóng gói theo qui cách khác nhau. Thông thường thị trường nội địa dùng thùng carton để đóng gói hoa, kích thước thùng số lượng khoảng 50 bó-70 bó/thùng tùy theo loại giống. Để đảm bảo chất lượng hoa, trong quá trình vận chuyển không được đóng quá nhiều hoa trên thùng, thùng phải đục lỗ hai bên để nhiệt độ trong thùng được thoát ra trong quá trình hoa hô hấp. Nhiệt độ vận chuyển khoảng 5-100 C là thích hợp để hoa không bị sốc nhiệt khi tiêu thụ hoa ở khí hậu nắng nóng.

Quy trình khác cùng nhóm

Căn cứ pháp lý

  • Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 — quy định nguyên tắc phòng, chống sinh vật gây hại thực vật.
  • Thông tư 25/2024/TT-BNNPTNT — ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng — nguồn của danh sách thuốc gợi ý theo dịch hại.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ