Cá trê phi (Clarias gariepinus)
Clarias gariepinus (Burchell, 1822)
Cá trê phi có tên khoa học Clarias gariepinus (Burchell, 1822), thuộc họ Clariidae, bộ Siluriformes, giới Animalia.
Loài này được ghi nhận trong 1 danh mục pháp lý: Loài ngoại lai xâm hại.
Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 9 tỉnh, thành phố: Đắk Lắk, Nghệ An, Phú Thọ, Tây Ninh, An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long và 1 địa phương khác.
Loài đã được kiểm kê tại 3 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.
Chế độ pháp lý với loài ngoại lai xâm hại
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Loài ngoại lai xâm hại
Thông tư 35/2018/TT-BTNMT và Luật Đa dạng sinh học 2008
Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm.
Danh mục loài ngoại lai xâm hại quy định tại Phụ lục 1, Danh mục loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại quy định tại Phụ lục 2, ban hành kèm theo Thông tư 35/2018/TT-BTNMT.
Căn cứ: Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại · Luật Đa dạng sinh học 2008
Nghĩa vụ kiểm soát loài ngoại lai xâm hại
- Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008).
- Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
- Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Đặc điểm và sinh thái
Đặc điểm nhận dạng
Cá Trê phi có hình dạng giống cá trê đen ở Việt Nam nhưng kích cỡ lớn hơn nhiều. Cá lớn tối đa dài 170 cm, nặng 60 kg. Số tia vây mềm lưng là 61 - 80. Số tia vây mềm hậu môn là 45 - 65. Vây lưng và vây hậu môn dài. Vây lưng không có gai cứng. Phần trước của gai vây ngực có khía răng cưa. Đầu dẹp, mấu xương chẩm nông và có dạng hình tam giác.
Đặc tính sinh học
Cá Trê phi sống ở tầng đáy, chịu được nồng độ ôxi hoà tan trong nước thấp và điều kiện khô hạn. Cá ăn tạp, thức ăn là cá con, động vật không xương sống ở nước, thực vật thuỷ sinh.
Hiện nay, nước ta đã cho sinh sản nhân tạo thành công cá Trê phi. Loài cá này có thể lai tạp với các cá loài cá trê bản địa như cá trê vàng, trê đen và gây ảnh hưởng đến nghề nuôi cá truyền thống, xói mòn nguồn gen cá trê bản địa.
Phân bố tại Việt Nam
Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.
| Tỉnh, thành phố có ghi nhận phân bố |
|---|
| Đắk Lắk |
| Nghệ An |
| Phú Thọ |
| Tây Ninh |
| An Giang |
| Cần Thơ |
| Đồng Tháp |
| Vĩnh Long |
| Cà Mau |
Khu bảo tồn ghi nhận loài
Theo kết quả kiểm kê loài tại các khu bảo tồn, di sản thiên nhiên trong Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.
| Khu bảo tồn / di sản thiên nhiên | Phân loại | Địa bàn |
|---|---|---|
| Vườn quốc gia Chư Mom Ray | Di sản thiên nhiên cấp quốc gia đặc biệt | Quảng Ngãi |
| Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén | Di sản thiên nhiên cấp quốc gia | Cao Bằng |
| Vườn quốc gia U Minh Hạ | Di sản thiên nhiên cấp quốc gia | Cà Mau |
Câu hỏi thường gặp
Cá trê phi là loài gì?
Cá trê phi có phải loài ngoại lai xâm hại không?
Cá trê phi phân bố ở khu bảo tồn nào?
Căn cứ pháp lý
- Luật Đa dạng sinh học 2008
- Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại
