Paramesotriton guangxiensis (Huang, Tang & Tang, 1983)
| Danh mục | Tình trạng của loài |
|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. |
| Danh lục Đỏ IUCN | VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. |
| CITES | Phụ lục II |
Cá cóc quảng tây có tên khoa học Paramesotriton guangxiensis (Huang, Tang & Tang, 1983), thuộc họ Salamandridae, bộ Caudata, lớp Amphibia, giới Animalia.
Loài này được ghi nhận trong 2 danh mục pháp lý về bảo tồn: Phụ lục II CITES; Nhóm IIB.
Về hạng bảo tồn, loài được xếp VU - Sẽ nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2024; VU - Sẽ nguy cấp theo Danh lục Đỏ IUCN.
Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 2 tỉnh, thành phố: Cao Bằng, Quảng Ninh.
Loài đã được kiểm kê tại 1 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Công ước CITES
Những loài động vật, thực vật hoang dã hiện chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng có thể sẽ bị tuyệt chủng nếu hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và giới thiệu từ biển mẫu vật của những loài này khai thác từ tự nhiên vì mục đích thương mại không được kiểm soát.
Căn cứ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP
Thông tư 85/2025/TT-BNNMT
Nhóm phân loại theo danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hiện hành do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.
Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.
| Nguồn đánh giá | Hạng | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | VU - Sẽ nguy cấp Vulnerable | Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. |
| Danh lục Đỏ IUCN | VU - Sẽ nguy cấp Vulnerable | Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. |
Cá cóc quảng tây: Kích thước trung bình trong nhóm Cá cóc Paramesotriton sp. nhỏ hơn Cá cóc tam đảo Paramesotriton deloustali. Chiều dài toàn thân từ 12,5 - 14,0cm ở cá thể đực và khoảng 13,4cm ở cá thể cái. Thân mập mạp và khá phẳng. Mõm bằng. Nếp gấp ở môi khá phát triển. Đầu phẳng, hình tam giác, chiều dài lớn hơn chiều rộng. Khi gập chi trước và chi sau vào nhau, các ngón chân vừa chạm sát nhau. Da có các nếp nhăn nhỏ. Sống lưng nhô cao, kéo dài đến đuôi. Chiều dài đuôi ngắn hơn chiều dài thân, mút đuôi mỏng. Lỗ huyệt nổi rõ, đặc biệt dễ dàng quan sát ở các cá thể đực trong mùa sinh. Mặt trên màu nâu sẫm, mặt dưới có màu đen với các đốm màu vàng hoặc cam không đều khác với Cá cóc tam đảo Paramesotriton deloustali. Đường vây dưới đuôi màu vàng và nhạt dần về phía mút đuôi. Cá thể cái có màu nhạt hơn.
Cá cóc quảng tây là loài chủ yếu hoạt động về đêm. Săn mồi, con mồi chủ yếu là các loài côn trùng nhỏ và giun đất. Trong điều kiện nuôi nhốt, loài này hoạt động mạnh từ tháng 2 đến tháng 9, ban ngày ít hoạt động, thường ẩn mình dưới khe đá trong nước. Chúng cũng ít hoạt động vào thời gian mùa đông. Đặc biệt, loài Cá cóc quảng tây còn được ghi nhận có tập tính tự vệ bằng cách cuộn tròn thân và đuôi, chân gập sát thân khi bị đe dọa. Trong điều kiện nuôi nhốt, mùa sinh sản của loài Cá cóc quảng tây vào từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Trứng đẻ trên cạn, trong các hốc đá ven mặt nước. Nòng nọc màu đen với mang màu vàng. Vây dưới đuôi màu trắng. Mút mõm và mống mắt có màu trắng vàng. Mặt dưới cơ thể nòng nọc có màu đen với các mảng trắng không đều. Loài Cá cóc quảng tây thường sinh sống ở các suối có độ dốc thấp dưới các tán rừng rậm hoặc cây bụi. Chúng ẩn mình dưới các tảng đá dưới lòng suối hoặc trong những bụi cỏ ven suối. Sau các cơn mưa lớn, có thể phát hiện chúng ở trên cạn cách suối từ 0.5 - 1m.
Loài này được ghi nhận dọc các suối đá, nước chảy, tập trung nhiều ở các vũng nước tĩnh trong rừng thường xanh ở độ cao từ 400-800 m; ban ngày chúng thường ẩn mình dưới các tảng đá hoặc lớp lá mục; sau khi trời mưa to có thể quan sát thấy chúng ở trên cạn cách bờ suối khoảng 1 m (Fei & Ye 2016).
Loài này hiện được ghi nhận ở các tỉnh Cao Bằng và Quảng Ninh. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 3.500 km2; số điểm ghi nhận phân bố là 2; loài này là đối tượng bị săn bắt của người dân địa phương để làm dược liệu; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác than, khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp.
| Mối đe dọa được ghi nhận | Buôn bán, tiêu thụ trái phép · Mất môi trường sống · Sự suy giảm quần thể |
| Giá trị của loài | Giá trị khoa học · Giá trị y tế · Giá trị môi trường sinh thái |
Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.
| Tỉnh, thành phố có ghi nhận phân bố |
|---|
| Cao Bằng |
| Quảng Ninh |
Theo kết quả kiểm kê loài tại các khu bảo tồn, di sản thiên nhiên trong Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.
| Khu bảo tồn / di sản thiên nhiên | Phân loại | Địa bàn |
|---|---|---|
| Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén | Di sản thiên nhiên cấp quốc gia | Cao Bằng |
| Tên gọi | Tên khoa học | Sách Đỏ VN | IUCN | NĐ 84/2021 |
|---|---|---|---|---|
| Cá cóc tam đảo | Paramesotriton deloustali | EN - Nguy cấp | LC - Ít quan tâm | Nhóm IIB |
| Cá cóc sparreboom | Tylototriton sparreboomi | — | DD - Thiếu dữ liệu | — |
| Cá cóc pasmans | Tylototriton pasmansi | — | DD - Thiếu dữ liệu | — |
| Cá cóc zig-lơ | Tylototriton ziegleri | EN - Nguy cấp | VU - Sẽ nguy cấp | Nhóm IIB |
| Cá cóc việt nam | Tylototriton vietnamensis | VU - Sẽ nguy cấp | EN - Nguy cấp | Nhóm IIB |
| Cá cóc gờ sọ mảnh | Tylototriton anguliceps | — | LC - Ít quan tâm | — |