Chữ Nôm của người Dao
Chữ Nôm của người Dao là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình biểu đạt và truyền thống truyền khẩu, phân bố tại Thái Nguyên, được ghi danh vào Danh mục quốc gia năm 2012.
Thông tin ghi danh
| Tiêu chí | Nội dung |
|---|---|
| Tên di sản | Chữ Nôm của người Dao |
| Loại hình (Luật 2024) | Biểu đạt và truyền thống truyền khẩu — khoản 1 Điều 10 |
| Loại hình ghi trong quyết định | Tiếng nói, chữ viết (theo bảy loại hình Luật 2001) |
| Tỉnh, thành phố hiện hành | Thái Nguyên |
| Tên tỉnh trong quyết định | Bắc Kạn (trước sắp xếp 2025) |
| Địa bàn cụ thể | Bắc Kạn, Lào Cai |
| Dân tộc chủ thể | Người Dao |
| Quyết định công bố | 5079/QĐ-BVHTTDL ngày 27/12/2012 |
| Năm ghi danh | 2012 |
| Số thứ tự trong Danh mục | 31 |
Giới thiệu về Chữ Nôm của người Dao
Trong văn hóa của người Dao có sự tiếp thu, giao thoa văn hóa với các cộng đồng tộc người lân cận địa bàn cư trú, mà một trong những biểu hiện nổi bật là chữ viết của người Dao - một số nhà nghiên cứu gọi là chữ “Nôm Dao”. Về tổng quan, chữ “Nôm Dao” là một hệ thống ký tự chữ Hán được phiên âm ra tiếng Dao. Cộng đồng người Dao, cho đến nay, vẫn còn lưu giữ một quyển sách dùng để dạy những người bắt đầu học chữ người Dao, bằng tiếng Dao - Cuốn “Tam tự kinh” - sách học vỡ lòng của hệ thống giáo dục Nho giáo thời xưa ở Việt Nam. Đây là những chữ Hán dạng phồn thể, được giữ nguyên tự dạng. Tầng lớp trí thức người Dao, qua các thế hệ, đã Dao hóa cách phát âm các chữ Hán, cho gần gũi với tiếng Dao và vẫn giữ nguyên gốc nghĩa của các từ trong sách này. Hệ thống chữ viết này được các bậc trí thức người Dao trước đây sử dụng trong mọi văn tự của người Dao, từ sách vở học tập đến việc ghi chép ngày, tháng, thơ, văn ... Hầu hết, gia đình người Dao có người cao tuổi khoảng 60 - 70 tuổi trở lên đều còn giữ những cuốn sách cổ do ông cha để lại. Chữ Nôm Dao là một di sản văn hóa quý báu, gắn liền với các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người Dao.
Đoạn giới thiệu trích từ bộ dữ liệu mở Open Development Vietnam — Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của các dân tộc thiểu số, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn gốc: http://dsvh.gov.vn/chu-viet-cua-nguoi-dao-3147.
Đối chiếu loại hình: Luật 2001 và Luật 2024
- Quyết định ghi danh xếp di sản vào loại hình Tiếng nói, chữ viết — một trong bảy loại hình tại Điều 20 Luật Di sản văn hóa 2001 (số 28/2001/QH10).
- Từ ngày 01/7/2025, Điều 10 Luật Di sản văn hóa 2024 (số 45/2024/QH15) còn sáu loại hình. Loại hình tương ứng là Biểu đạt và truyền thống truyền khẩu: Các hình thức thể hiện thông tin bằng ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, ký tự và ngữ văn dân gian.
- Việc đổi cách phân loại không làm mất hiệu lực quyết định ghi danh đã ban hành; di sản vẫn nằm trong Danh mục quốc gia.
Vị trí trong Danh mục quốc gia
Di sản liên quan
Cùng chủ thể là người Dao, cùng địa bàn hoặc cùng loại hình với Chữ Nôm của người Dao.
Lễ hội Quỹa Hiéng (Lễ hội qua năm) của người Dao đỏ
Nghi lễ Tết nhảy (Nhảng chầm đao) của người Dao
Nghệ thuật trang trí trên trang phục truyền thống của người Dao Đỏ
Nghi lễ truyền thống trong đám cưới của người Dao Tiền
Kỹ thuật làm giấy bản của người Dao đỏ
Lễ Nhảy lửa của người Dao Đỏ
Lễ Tết nhảy của người Dao Quần Chẹt
Câu hỏi thường gặp về Chữ Nôm của người Dao
Chữ Nôm của người Dao là di sản gì?
Chữ Nôm của người Dao được công nhận theo quyết định nào?
Chữ Nôm của người Dao thuộc loại hình nào theo Luật Di sản văn hóa 2024?
Chữ Nôm của người Dao ở tỉnh nào?
Tỉnh Thái Nguyên có bao nhiêu di sản văn hóa phi vật thể quốc gia?
Căn cứ pháp lý: Luật Di sản văn hóa 2024 (số 45/2024/QH15) và Nghị định 215/2025/NĐ-CP. Các cột loại hình theo luật hiện hành, tỉnh/thành sau sắp xếp 2025 và dân tộc chủ thể là phần đối chiếu do công cụ bổ sung.
