Nomascus nasutus (Kunkel d'Herculais, 1884)
| Danh mục | Tình trạng của loài |
|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2007 | EN - Nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng rất lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai gần. |
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | CR - Rất nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong tương lai rất gần. |
| Danh lục Đỏ IUCN | CR - Cực kỳ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong tương lai rất gần. |
| Nghị định 84/2021/NĐ-CP | Nhóm IB |
| CITES | Phụ lục I |
| Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ | Có tên trong danh mục |
Vượn đen Đông Bắc có tên khoa học Nomascus nasutus (Kunkel d'Herculais, 1884), thuộc họ Hylobatidae, bộ Primates, lớp Mammalia, giới Animalia.
Loài này được ghi nhận trong 5 danh mục pháp lý về bảo tồn: Nhóm IB; Phụ lục I CITES; Loài được ưu tiên bảo vệ — Động vật; Nhóm IB; Nhóm IB.
Về hạng bảo tồn, loài được xếp EN - Nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2007; CR - Rất nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2024; CR - Cực kỳ nguy cấp theo Danh lục Đỏ IUCN.
Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 1 tỉnh, thành phố: Cao Bằng.
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Nghị định 84/2021/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 06/2019/NĐ-CP)
Loài động vật rừng đang bị đe dọa tuyệt chủng, nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại.
Nhóm I: Các loài thực vật rừng, động vật rừng đang bị đe dọa tuyệt chủng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục I CITES phân bố tự nhiên tại Việt Nam. Nhóm IA: các loài thực vật rừng. Nhóm IB: các loài động vật rừng.
Căn cứ: Nghị định 84/2021/NĐ-CP · Nghị định 06/2019/NĐ-CP
Công ước CITES
Những loài động vật, thực vật hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng, bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển mẫu vật khai thác từ tự nhiên vì mục đích thương mại.
Căn cứ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP
Nghị định 160/2013/NĐ-CP
Thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Đây là chế độ quản lý nghiêm ngặt nhất trong hệ thống pháp luật đa dạng sinh học Việt Nam.
Căn cứ: Nghị định 160/2013/NĐ-CP · Luật Đa dạng sinh học 2008
Thông tư 27/2025/TT-BNNMT
Nhóm phân loại theo danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hiện hành do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.
Thông tư 85/2025/TT-BNNMT
Nhóm phân loại theo danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hiện hành do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.
Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.
| Nguồn đánh giá | Hạng | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2007 | EN - Nguy cấp Endangered | Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng rất lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai gần. |
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | CR - Rất nguy cấp Critically Endangered | Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong tương lai rất gần. |
| Danh lục Đỏ IUCN | CR - Cực kỳ nguy cấp Critically Endangered | Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong tương lai rất gần. |
- Loài này có kích thước tương đương các loài khác trong giống Nomascus, dài thân khoảng 43-50 cm, nặng 7-8 kg. Vượn đen có màu sắc khác biệt giữa con đực và con cái như các loài vượn khác. Con đực thân màu đen với một đốm nâu trên ngực, trong khi vượn cái có màu vàng hoặc nâu nhạt. Vượn cái có viền lông mặt lớn màu trắng và một vệt lông đen dài chạy từ sau gáy qua vai, trước ngực và có thể có một mảng lông màu xám, nâu hoặc đen. Con non mới sinh thân màu đen, trong khi các loài vượn Nomascus khác con non có màu nâu. Khi dần trưởng thành bộ lông con cái chuyển dần thành màu vàng nâu.
- Toàn thân Vượn đen đông bắc phủ bộ lông màu đen , ngoại trừ có một số sợi lông màu trắng ở khóe miệng. Trên đỉnh đầu có mào hình thành từ túm lông dựng đứng. Con cái màu vàng hung. Trọng lượng 7- 10 kg.
Thức ăn: Vượn Cao vít được coi là loài ăn quả (chiếm chủ yếu 86% lượng thức ăn), bên cạnh đó chúng còn ăn lá, chồi cây, hoa, côn trùng, thằn lằn.
Sinh sản: Trong tự nhiên, vượn Cao vít được ghi nhận có 4 lần sinh nở từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Tuy vậy chưa có thông tin về thời điểm giao phối.
Tập tính: Vượn Cao vít hoạt động ban ngày và trên cây. Hoạt động của chúng bắt đầu ngay trước bình minh với những tiếng kêu to. Mặc dù sống ở các khu vực có độ che phủ rừng thấp hơn, nhưng vượn Cao Vit cũng có những hành vi vận động tương tự các loài vượn khác tức là phụ thuộc vào cấu trúc cơ thể. Vượn Cao vít dành phần lớn thời gian di chuyển trên các cành nghiêng (2–10 cm) ở tầng giữa xuyên qua tán rừng. Những con cái trưởng thành thường có cách thức vận động an toàn hơn (trèo bằng hai tay nhiều hơn hơn và ít đu cành), trong khi con đực trưởng thành có phương thức di chuyển mạo hiểm hơn đu nhiều hơn và leo ít hơn). Khi trọng lượng cơ thể tăng lên theo các giai đoạn phát triển, chúng có xu hướng sử dụng các cành lớn hơn để bám trong lúc di chuyển.
Tổ chức xã hội: Các đàn vượn bảo vệ lãnh thổ riêng của mình, tuy nhiên giới hạn không gian sống của các đàn vẫn có chút ít sự trùng lặp. Diện tích lãnh thổ được ghi nhận trong 3 trường hợp đàn điển hình là 128, 130 và 133 ha. Đây được coi là diện tích khá lớn cho vượn. Nghiên cứu ban đầu cho thấy vượn Cao vít có cấu trúc xã hội gồm 1 con đực với 1-2 con cái, giống với vượn đen Tây Bắc và vượn Hainan nhưng khác với các loài vượn còn lại có cấu trúc đàn 1 con đực – 1 con cái. Kích thước đàn trung bình là 6 cá thể.
Trước đây vượn Cao vít phân bố rộng ở vùng rừng núi và đá vôi dọc miền Bắc Việt Nam và Đông Nam Trung Quốc ở độ cao 50-930 m, nhưng hiện nay chỉ còn sót lại lẻ tẻ ở khu vực rừng núi đá vôi nhiệt đới gió mùa ở độ cao 500-930 m thuộc khu bảo tồn vượn Cao vít, Việt Nam và khu Bảo tồn Thiên nhiên Bangliang, Trung Quốc. Tổng diện tích của khu vực này chỉ khoảng 2000 ha.
Nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm quần thể là do săn bắt và mất môi trường sống. Loài này bị suy giảm ít nhất 80% số lượng cá thể vượn trong vòng 45 năm (khoảng 3 thế hệ). Đánh giá về số lượng cá thể vượn Cao vít dựa trên các nghiên cứu về tiếng kêu cho thấy loài này chỉ có tổng 110 cá thể thuộc 18 đàn ở vùng biên giới, trong đó 4 đàn hoàn toàn thuộc Trung Quốc và số còn lại ở Việt Nam. Điều tra thực địa năm 2018 cho thấy tại Việt Nam có từ 121-134 cá thể chia thành 20-22 đàn (Trịnh Đình Hoàng, 2021). So với gian đoạn trước, số lượng cá thể ghi nhận của loài tăng nhẹ.
| Mối đe dọa được ghi nhận | Sự suy giảm quần thể · Mất môi trường sống · Săn bắt, khai thác quá mức |
| Giá trị của loài | Giá trị khoa học · Giá trị môi trường sinh thái |
Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.
| Tỉnh, thành phố có ghi nhận phân bố |
|---|
| Cao Bằng |
| Tên gọi | Tên khoa học | Sách Đỏ VN | IUCN | NĐ 84/2021 |
|---|---|---|---|---|
| Vượn má vàng | Nomascus gabriellae | EN - Nguy cấp | EN - Nguy cấp | Nhóm IB |
| Vượn đen siki | Nomascus siki | EN - Nguy cấp | EN - Nguy cấp | Nhóm IB |
| Vượn má vàng Trung bộ | Nomascus annamensis | DD - Thiếu dữ liệu | EN - Nguy cấp | Nhóm IB |
| Vượn đen tuyền | Nomascus concolor | EN - Nguy cấp | EN - Nguy cấp | Nhóm IB |
| Vượn đen má trắng | Nomascus leucogenys | EN - Nguy cấp | EN - Nguy cấp | Nhóm IB |