Laonastes aenigmamus Jenkins, Kilpatrick, Robinson & Timmins, 2005
| Danh mục | Tình trạng của loài |
|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. |
| Nghị định 84/2021/NĐ-CP | Nhóm IIB |
Chuột đá lào có tên khoa học Laonastes aenigmamus Jenkins, Kilpatrick, Robinson & Timmins, 2005, thuộc họ Diatomyidae, bộ Rodentia, lớp Mammalia, giới Animalia.
Loài này được ghi nhận trong 3 danh mục pháp lý về bảo tồn: Nhóm IIB; Nhóm IIB; Nhóm IIB.
Về hạng bảo tồn, loài được xếp VU - Sẽ nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2024.
Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 1 tỉnh, thành phố: Quảng Trị.
Loài đã được kiểm kê tại 2 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Nghị định 84/2021/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 06/2019/NĐ-CP)
Loài động vật rừng chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng có nguy cơ bị đe dọa nếu không được quản lý chặt chẽ; hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.
Nhóm II: Các loài thực vật rừng, động vật rừng chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng có nguy cơ bị đe dọa nếu không được quản lý chặt chẽ, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục II CITES có phân bố tự nhiên tại Việt Nam. Nhóm IIA: Các loài thực vật rừng. Nhóm IIB: Các loài động vật rừng.
Căn cứ: Nghị định 84/2021/NĐ-CP · Nghị định 06/2019/NĐ-CP
Thông tư 27/2025/TT-BNNMT
Nhóm phân loại theo danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hiện hành do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.
Thông tư 85/2025/TT-BNNMT
Nhóm phân loại theo danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hiện hành do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.
Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.
| Nguồn đánh giá | Hạng | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | VU - Sẽ nguy cấp Vulnerable | Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. |
Chuột đá trường sơn có hình dáng giống chuột với đầu thon dài, mõm có nhiều lông dài và cứng, nhưng đuôi có nhiều lông và dài khoảng nửa cơ thể. Phần lưng thường có màu hơi đen sậm cho đến đen xám tùy cá thể. Màu lông chuyển dần từ tối thành xám bạc từ mặt lưng dọc theo sườn xuống bụng. Phần lông sáng màu tập trung chủ yếu ở đường dọc giữa bụng, hàm dưới và mõm. Đuôi hơi hoa râm, hơi xám đen ở mặt trên. Mặt dưới hơi nhạt và nhiều hoa râm hơn. Cả chân trước và sau đều có lông dài, cứng, chồng lên cả móng vuốt. Chân trước với 4 ngón phát triển và ngón cái phát triển vừa phải nhưng thiếu móng, chân sau có cả 5 ngón phát triển đều, ngắn và mập mạp. Tai tròn, kích thước trung bình, được phủ bằng lông rất ngắn. Tuy nhiên, phần lưng tai không có lông, mép tai có lông dài
Thức ăn: Hiện không có nhiều dữ liệu về thức ăn của loài này. Theo các nghiên cứu của Đặng và cộng sự 2012, 2014 Chuột đá trường sơn ăn chủ yếu là thực vật (lá, rễ và quả) và rất đa dạng trong chủng loại. Ngoài ra, khi nghiên cứu thành phần trong dạ dày, có tìm thấy mốt số côn trùng.
Sinh sản: Sinh sản của loài ngày chưa được biết nhiều. Theo các thông tin hiện có, con cái của loài này chỉ mang thai một con non duy nhất (Jenkins, 2005).
Hoạt động: Chuột đá trường sơn hoạt động về đêm, và chưa bao giờ được quan sát thấy hoạt động ban ngày (Dang và cs., 2012). Nghiên cứu của Khotpathoom và cs., 2020 chỉ ra rằng khoảng di chuyển hàng ngày trung bình là 1602 m trong mùa khô và 1578 m trong mùa mưa
Tổ chức xã hội và vùng hoạt động: Hiện chưa có thông tin về tổ chức xã hội hay hoạt động, tập tính sống theo đôi hay bầy đàn đối với loài này.
Chuột đá trường sơn là loài có môi trường sống hẹp, chỉ giới hạn trong hệ thống núi đá vôi được bao phủ bởi rừng thường xanh, hoặc bán thường xanh, và rừng hỗn hợp rụng lá (Đặng và cs., 2014). Ở Lào, Chuột đá trường sơn chỉ sống tại khu vực hang động núi đá vôi và vùng lân cận với độ cao khoảng 263-734 m và các sườn dốc xung quanh hệ thống núi đá vôi được bao phủ bởi cả cây thường xanh và cây rụng lá (Jenkins và cs., 2005; Vongsa, 2010; và Khotpathoom, 2011). Ở khu vực vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, chuột đá chỉ phân bố tại rừng thường xanh trên núi đá vôi với độ cao dưới 700m(Nguyen và cs. 2014). Loài này cũng không sống tại khu vực rất thấp (dưới 100m) ở chân dốc núi đá vôi và xa khỏi các dòng suối
Chuột đá trường sơn được xếp vào hạng mục LC của danh lục sách đỏ thế giới bởi vì loài này hiện chưa tiến gần đến tiêu chuẩn để xếp vào hạng mục cho các loài nguy cấp. Chỉ có một yếu tố ngoại lệ là khi xét về quy mô xuất hiện của loài này chỉ vào khoảng 10,942 km2, tức đã chạm ngưỡng của hạng mục sắp nguy cấp (Vulnarable –VU). Môi trường sống của loài này cũng đang bị suy giảm do việc khai thác núi đá vôi phục vụ công nghiệp chế tạo vật liệu thô trong sản xuất xi măng. Tuy nhiên không có bằng chứng rõ ràng sự biến động bất thường ở quần thể loài này. Các nghiên cứu gần đây cho thấy nhóm này có thể có sự phân tách dưới loài cần được làm rõ. Tùy thuộc vào những nghiên cứu về phân loại, việc đánh giá về mức độ nguy cấp của loài này nên được thực hiện khi có những số liệu mới về phân loại.
Các mối đe dọa và hoạt động bảo tồn:
Môi trường sống thuộc các khu vực núi đá vôi bị khai thác để phục vụ công nghiệp sản xuất xi măng, cùng với việc săn bắt là hai nhân tố chính ảnh hưởng tới sự suy giảm của loài này. Tuy nhiên, hiện mức độ tác động cũng như sự suy giảm còn rất nhỏ so với toàn bộ quần thể và vùng phân bố và không có ảnh hưởng quá lớn đến toàn bộ quần thể loài này (Steinmetz và cs., 2011; Nicolas và cs., 2012).
Chuột đá trường sơn có phân bố tại khu Bảo tồn Đa dạng Sinh học Quốc gia Phou Hin Poun và Hin Nậm Nô của Lào, và vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng tại Việt Nam (Jenkins và cs., 2005; Dang và cs., 2012; Nicolas và cs., 2012). Các mối đe dọa đến loài này tại các khu bảo tồn cũng được hạn chế. Ngoài ra, vì Chuột đá trường sơn là loài duy nhất trong họ và có thể có sự phân tách về phân loại nhưng chưa được làm rõ, nên việc xác đinh chính xác tình trạng phân loại của loài này là rất cần thiết vì có khả năng các quần thể được phân tách đang hoặc sẽ bị đe dọa ở mức độ cao hơn so với đánh giá hiện nay.
| Mối đe dọa được ghi nhận | Sự suy giảm quần thể · Mất môi trường sống |
| Giá trị của loài | Giá trị khoa học · Giá trị môi trường sinh thái |
Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.
| Tỉnh, thành phố có ghi nhận phân bố |
|---|
| Quảng Trị |
Theo kết quả kiểm kê loài tại các khu bảo tồn, di sản thiên nhiên trong Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.
| Khu bảo tồn / di sản thiên nhiên | Phân loại | Địa bàn |
|---|---|---|
| Vườn quốc gia Pù Mát | Di sản thiên nhiên cấp quốc gia đặc biệt | Nghệ An |
| Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng | Di sản thiên nhiên cấp quốc gia đặc biệt | Quảng Trị |