Cá tỳ bà lớn (cá dọn bể lớn) có tên khoa học Pterygoplichthys pardalis (Castelnau, 1855), thuộc họ Loricariidae, bộ Siluriformes, giới Animalia.
Loài này được ghi nhận trong 1 danh mục pháp lý: Loài ngoại lai xâm hại.
Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 3 tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Cần Thơ.
Loài đã được kiểm kê tại 1 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.
Chế độ pháp lý với loài ngoại lai xâm hại
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Loài ngoại lai xâm hại
Thông tư 35/2018/TT-BTNMT và Luật Đa dạng sinh học 2008
Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm.
Danh mục loài ngoại lai xâm hại quy định tại Phụ lục 1, Danh mục loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại quy định tại Phụ lục 2, ban hành kèm theo Thông tư 35/2018/TT-BTNMT.
Căn cứ: Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại · Luật Đa dạng sinh học 2008
Nghĩa vụ kiểm soát loài ngoại lai xâm hại
Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Đặc điểm và sinh thái
Đặc điểm nhận dạng
Cá Tỳ bà có thân và đầu cá dẹp phẳng; vây lưng cao, cứng và thẳng đứng; vây ngực rộng và xoè; vây đuôi nhỏ, dày, cuống đuôi không dẹp xuống. Thân có hoa văn màu trắng, thân cá sần, thô ráp.
Đặc tính sinh học
Cá Tỳ bà lớn có thể sống trong nhiều môi trường khác nhau, trải rộng từ môi trường nước mát, dòng chảy xiết và giàu ôxy tại các vùng cao tới dòng chảy chậm tới các dòng sông ở khu vực đồng bằng và các hồ nghèo ôxy. Loài cá này là loài cá nhiệt đới nhưng cũng có thể chịu được nhiệt độ thấp từ 8,8 - 11°C và phát triển mạnh khi pH từ 5,5 - 8, có khả năng chịu được nguồn nước nghèo chất dinh dưỡng hoặc những vùng nước bị ô nhiễm và có thể dễ dàng thích ứng với sự thay đổi chất lượng nước. Thức ăn chủ yếu của loài là tảo, ấu trùng của côn trùng, trứng cá và một số sinh vật đáy khác. Tác hại chủ yếu do cá Tỳ bà lớn gây ra là làm thay đổi chuỗi thức ăn của nhiều loài thủy sinh vật, cạnh tranh thức ăn, nơi sinh sống của các loài bản địa, làm thay đổi các khu hệ động, thực vật thủy sinh và gây thiệt hại cho các ngành ngư nghiệp và công nghiệp.
Phân bố tại Việt Nam
Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.
Cá tỳ bà lớn (cá dọn bể lớn) có tên khoa học Pterygoplichthys pardalis (Castelnau, 1855), thuộc họ Loricariidae, bộ Siluriformes, giới Animalia. Cá Tỳ bà có thân và đầu cá dẹp phẳng; vây lưng cao, cứng và thẳng đứng; vây ngực rộng và xoè; vây đuôi nhỏ, dày, cuống đuôi không dẹp xuống. Thân có hoa văn màu trắng, thân cá sần, thô ráp. Loài được ghi nhận phân bố tại Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Cần Thơ.
Cá tỳ bà lớn (cá dọn bể lớn) có phải loài ngoại lai xâm hại không?
Có. Loài nằm trong Danh mục loài ngoại lai xâm hại ban hành kèm Thông tư 35/2018/TT-BTNMT. Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm. Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Cá tỳ bà lớn (cá dọn bể lớn) phân bố ở khu bảo tồn nào?
Dữ liệu kiểm kê ghi nhận loài tại 1 khu: Vườn quốc gia Tràm Chim.
Căn cứ pháp lý
Luật Đa dạng sinh học 2008
Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại
Cập nhật từ nguồn: 25/09/2024. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.