Cá tỳ bà bé (cá dọn bể bé) có tên khoa học Hypostomus plecostomus (Linnaeus, 1758), thuộc họ Loricariidae, bộ Siluriformes, giới Animalia.
Loài này được ghi nhận trong 1 danh mục pháp lý: Loài ngoại lai xâm hại.
Loài đã được kiểm kê tại 1 khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên trong nước.
Chế độ pháp lý với loài ngoại lai xâm hại
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Loài ngoại lai xâm hại
Thông tư 35/2018/TT-BTNMT và Luật Đa dạng sinh học 2008
Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm.
Danh mục loài ngoại lai xâm hại quy định tại Phụ lục 1, Danh mục loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại quy định tại Phụ lục 2, ban hành kèm theo Thông tư 35/2018/TT-BTNMT.
Căn cứ: Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại · Luật Đa dạng sinh học 2008
Nghĩa vụ kiểm soát loài ngoại lai xâm hại
Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Đặc điểm và sinh thái
Đặc điểm nhận dạng
Loại cá này có chiều dài lên đến 70 cm và trọng lượng có thể tới vài kilôgam. Chúng là loài cá có thân hình nâu sẫm, da cứng, sần sùi, thô ráp, miệng to giống như miệng bát, gồm nhiều dạng khác nhau. Thân dẹp phẳng như đàn tỳ bà, đầu dẹp phẳng, vây lưng cao, cứng và thẳng đứng, vây ngực rộng và xòe như cánh phi cơ, vây đuôi nhỏ, dày, cuốn đuôi không dẹt xuống. Thân cá đen thẫm, có khi nâu đen hoặc nâu nhạt, có hoa văn đen trắng, da sần sùi, thô ráp. Phần phía trên đầu và thân được bọc trong những dãy xương, phần dưới đầu và bụng thì trần.
Đặc tính sinh học
Nó có thể sống trong nhiều điều kiện môi trường sinh thái khác nhau nên khả năng phát triển đàn rất nhanh. Biên độ sinh thái rộng và khả năng sống mạnh mẽ giúp cá lau kính trở thành một loài ngoại lai xâm lấn lý tưởng. Nó được nuôi nhiều để làm nhiệm vụ dọn bể, ngày nay nó đã trở thành một loài xâm lấn ở Việt Nam.
Thức ăn chính của loài cá này là các loại rong, rêu, tảo bám trên bề mặt thực vật hoặc nền đáy. Cá lau kính sống ở dưới đáy hồ. Cá lau kính sinh sản trong ao đất, đào hang đẻ trứng (khoảng 300 trứng/lần đẻ). Cá được xem là chuyên gia ăn rêu và dọn chất nhớt ở thành bể và đáy bể, cá thích hợp thả nuôi chung với nhiều loài. Cá ăn tảo, thực vật, mùn bã, giáp xác và côn trùng nhỏ. Loài cá này môi bè ra, thường không ăn động vật mà chỉ hút những chất nhày, chất bẩn và rong rêu bám trên các thành kiếng.
Một con mỗi lần đẻ 5.000-6.000 trứng, gặp điều kiện thuận lợi một con có thể đạt đến chiều dài 50 cm. Cá có khả năng sinh sản quanh năm, tỷ lệ cá con sống khoảng 70% và có thể sống mà không cần đến thức ăn suốt 1 tháng. Chúng có khả năng cạnh tranh thức ăn với các loài khác và gây mất cân bằng hệ sinh thái. Cá mẹ hay cá con đều có thể tiếp cận loài cá khác để hút nhớt, khiến chúng giảm khả năng phát triển.
Khu bảo tồn ghi nhận loài
Theo kết quả kiểm kê loài tại các khu bảo tồn, di sản thiên nhiên trong Cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.
Cá tỳ bà bé (cá dọn bể bé) có tên khoa học Hypostomus plecostomus (Linnaeus, 1758), thuộc họ Loricariidae, bộ Siluriformes, giới Animalia. Loại cá này có chiều dài lên đến 70 cm và trọng lượng có thể tới vài kilôgam. Chúng là loài cá có thân hình nâu sẫm, da cứng, sần sùi, thô ráp, miệng to giống như miệng bát, gồm nhiều dạng khác nhau. Thân dẹp phẳng như đàn tỳ bà, đầu dẹp phẳng, vây lưng cao, cứng và thẳng đứng, vây ngực rộng và xòe như cánh phi cơ, vây đuôi nhỏ, dày, cuốn đuôi không dẹt xuống. Thân cá đen thẫm, có khi nâu đen hoặc...
Cá tỳ bà bé (cá dọn bể bé) có phải loài ngoại lai xâm hại không?
Có. Loài nằm trong Danh mục loài ngoại lai xâm hại ban hành kèm Thông tư 35/2018/TT-BTNMT. Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm. Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Cá tỳ bà bé (cá dọn bể bé) phân bố ở khu bảo tồn nào?
Dữ liệu kiểm kê ghi nhận loài tại 1 khu: Vườn quốc gia Tràm Chim.
Căn cứ pháp lý
Luật Đa dạng sinh học 2008
Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại
Cập nhật từ nguồn: 25/09/2024. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.