Nhập từ khóa, hoặc mở bộ lọc nâng cao để lọc theo cơ sở dữ liệu, thời gian và tình trạng hiệu lực
Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch ở chuột và động vật (Yersinia pestis)
Yersinia pestis
Mã định danh quốc gia: 7FZKR.HSL
Nhóm hồ sơ: Loài ngoại lai xâm hại
GiớiBacteria
›
NgànhProteobacteria
›
LớpGammaproteobacteria
›
BộEnterobacteriales
›
HọEnterobacteriaceae
›
ChiYersinia
Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch ở chuột và động vật có tên khoa học Yersinia pestis, thuộc họ Enterobacteriaceae, bộ Enterobacteriales, lớp Gammaproteobacteria, giới Bacteria.
Loài này được ghi nhận trong 1 danh mục pháp lý: Loài ngoại lai xâm hại.
Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 8 tỉnh, thành phố: Đồng Nai, Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Cà Mau, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, Quảng Ngãi.
Chế độ pháp lý với loài ngoại lai xâm hại
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Loài ngoại lai xâm hại
Thông tư 35/2018/TT-BTNMT và Luật Đa dạng sinh học 2008
Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm.
Danh mục loài ngoại lai xâm hại quy định tại Phụ lục 1, Danh mục loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại quy định tại Phụ lục 2, ban hành kèm theo Thông tư 35/2018/TT-BTNMT.
Căn cứ: Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại · Luật Đa dạng sinh học 2008
Nghĩa vụ kiểm soát loài ngoại lai xâm hại
Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Đặc điểm và sinh thái
Đặc điểm nhận dạng
Vi khuẩn Yersinia pestis (trước đây gọi là Pasteurella pestis, Bacterium pestis), có dạng hình ôvan, kích thước 1,5 - 2 x 0,5 - 0,7 micromet, nhuộm gram âm, không sinh nha bào, không di động, sinh trưởng chậm ở các môi trường nuôi cấy (ưa khí và kỵ khí) nhiệt độ thích hợp 28 - 37°C, pH 7,2 - 7,4, không lên men đường lactoza, sacaroza, urê (-), indole (-), sức đề kháng kém: dễ bị ánh sáng mặt trời giết chết trong vài giờ, ở nhiệt độ 55°C thời gian vi khuẩn chết là 30 phút, ở 100°C vi khuẩn chết sau 1 phút. Các thuốc khử trùng thông thường như hợp chất phenol 1%, cloranin 3%, lyzyl 1% có khả năng tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh dịch hạch trong vài phút
Đặc tính sinh học
Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch là loài vi khuẩn có khả năng lây theo máu, hệ bạch huyết, hệ thống lưới nội mô và qua vật truyền là bọ chét. Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch có hai môi trường sống chính là trong dạ dày của một số loài bọ chét và trong máu hoặc mô của các loài động vật gặm nhấm. Vi khuẩn này được ghi nhận có khả năng lây nhiễm trong tự nhiên đối với trên 203 loài động vật gặm nhấm và 14 loài thỏ.
Bệnh dịch hạch thường biểu hiện ở 4 thể:
-Thể hạch: Thời kỳ ủ bệnh: trung bình là 2 - 5 ngày, ngắn nhất vài giờ, dài nhất là 8 - 10 ngày, không có biểu hiện lâm sàng.
-Thể nhiễm khuẩn khuyết (còn gọi là “dịch hạch đen”): Bệnh phát đột ngột, cấp tính mặc dù hạch ngoại vi chưa bị sưng, tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc rất nặng gây sốt cao 40 - 41°C, kèm theo những cơn rét run, bệnh nhân kích động, cuồng sảng hoặc li bì, nôn nhiều, ỉa lỏng, bụng chướng, có rối loạn về tim mạch và hô hấp, xuất huyết da, niêm mạc, phủ tạng.
-Thể phổi tiên phát: thời gian ủ bệnh ngắn, chỉ vài giờ sau phát bệnh, rất đột ngột, sốt cao 40 - 41°C kèm rét run, mạch nhanh, huyết áp giảm, bệnh nhân thấy mệt mỏi, nhức đầu, khó chịu ngày càng tăng, chưa có triệu chứng về hô hấp.
-Thể phổi thứ phát: thường gặp hơn thể phổi tiên phát, xuất hiện sau các thể khác (thể hạch, thể nhiễm khuẩn huyết) không được phát hiện và điều trị kịp thời, tiên lượng thường nặng.
Phân bố tại Việt Nam
Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.
Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch ở chuột và động vật là loài gì?
Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch ở chuột và động vật có tên khoa học Yersinia pestis, thuộc họ Enterobacteriaceae, bộ Enterobacteriales, lớp Gammaproteobacteria, giới Bacteria. Vi khuẩn Yersinia pestis (trước đây gọi là Pasteurella pestis, Bacterium pestis), có dạng hình ôvan, kích thước 1,5 - 2 x 0,5 - 0,7 micromet, nhuộm gram âm, không sinh nha bào, không di động, sinh trưởng chậm ở các môi trường nuôi cấy (ưa khí và kỵ khí) nhiệt độ thích hợp 28 - 37°C, pH 7,2 - 7,4, không lên men đường lactoza, sacaroza, urê (-), indole (-), sức đề kháng kém: dễ bị ánh sáng mặt trời... Loài được ghi nhận phân bố tại Đồng Nai, Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Cà Mau, Lâm Đồng, Đắk Lắk.
Vi khuẩn gây bệnh dịch hạch ở chuột và động vật có phải loài ngoại lai xâm hại không?
Có. Loài nằm trong Danh mục loài ngoại lai xâm hại ban hành kèm Thông tư 35/2018/TT-BTNMT. Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm. Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Căn cứ pháp lý
Luật Đa dạng sinh học 2008
Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại
Cập nhật từ nguồn: 25/09/2024. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.