Cá vược miệng bé có tên khoa học Micropterus dolomieu Lacepède, 1802, thuộc họ Centrarchidae, bộ Perciformes, giới Animalia.
Loài này được ghi nhận trong 1 danh mục pháp lý: Loài ngoại lai xâm hại.
Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 1 tỉnh, thành phố: Lâm Đồng.
Chế độ pháp lý với loài ngoại lai xâm hại
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Loài ngoại lai xâm hại
Thông tư 35/2018/TT-BTNMT và Luật Đa dạng sinh học 2008
Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm.
Danh mục loài ngoại lai xâm hại quy định tại Phụ lục 1, Danh mục loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại quy định tại Phụ lục 2, ban hành kèm theo Thông tư 35/2018/TT-BTNMT.
Căn cứ: Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại · Luật Đa dạng sinh học 2008
Nghĩa vụ kiểm soát loài ngoại lai xâm hại
Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Đặc điểm và sinh thái
Đặc điểm nhận dạng
Cá Vược miệng bé có kích thước trung bình, chiều dài cơ thể tối đa 69 cm, nặng 5,41 kg. Vây lưng có số gai là 4 - 6, tia vây mềm là 13 - 14. Thân cá thuôn dài, mồm rộng. Mắt to, toàn thân màu xám bạc hoặc vảy kim tuyến nhỏ vàng. Lưng cá có một dải sắc màu tương đối sâu, thường là màu xanh lục hoặc màu than đen. Đặc điểm phân biệt rõ nét là hàm trên kéo dài đến giữa, không vượt quá mắt. Phần nối giữa vây lưng cao, gai ngắn nhất trước vây lưng cao hơn ½ gai dài nhất trước vây lưng. Đường bên có 68 - 78 vẩy. Vây bụng nối nhau bởi màng, màng nối giữa các vây với cơ thể bị ẩn. Cá con có dải mầu vàng và đen ở vây đuôi.
Đặc tính sinh học
Cá Vược miệng bé sống ở nước ngọt, nhiệt độ khoảng từ 10 - 30°C và phân bố ở các hồ, sông có nước chảy chậm, nước trong, sống gần đáy; là loài cá ăn tạp, hung dữ. Cá con ăn sinh vật phù du và ấu trùng côn trùng thủy sinh; cá lớn ăn Tôm và cá nhỏ.
Phân bố tại Việt Nam
Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.
Cá vược miệng bé có tên khoa học Micropterus dolomieu Lacepède, 1802, thuộc họ Centrarchidae, bộ Perciformes, giới Animalia. Cá Vược miệng bé có kích thước trung bình, chiều dài cơ thể tối đa 69 cm, nặng 5,41 kg. Vây lưng có số gai là 4 - 6, tia vây mềm là 13 - 14. Thân cá thuôn dài, mồm rộng. Mắt to, toàn thân màu xám bạc hoặc vảy kim tuyến nhỏ vàng. Lưng cá có một dải sắc màu tương đối sâu, thường là màu xanh lục hoặc màu than đen. Đặc điểm phân biệt rõ nét là hàm trên kéo dài đến giữa, không vượt quá mắt. Phần nối gi... Loài được ghi nhận phân bố tại Lâm Đồng.
Cá vược miệng bé có phải loài ngoại lai xâm hại không?
Có. Loài nằm trong Danh mục loài ngoại lai xâm hại ban hành kèm Thông tư 35/2018/TT-BTNMT. Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm. Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).
Căn cứ pháp lý
Luật Đa dạng sinh học 2008
Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại
Cập nhật từ nguồn: 26/07/2024. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.