Epinephelus fuscoguttatus (Forsskål, 1775)
| Danh mục | Tình trạng của loài |
|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. |
Cá mú hoa nâu có tên khoa học Epinephelus fuscoguttatus (Forsskål, 1775), thuộc họ Serranidae, bộ Perciformes, lớp Actinopterygii, giới Animalia.
Loài này được ghi nhận trong 1 danh mục pháp lý về bảo tồn: Nhóm II - Danh mục loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm đối với lớp cá, giáp xác.
Về hạng bảo tồn, loài được xếp VU - Sẽ nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2024.
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Nghị định 26/2019/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thủy sản
Loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm; việc khai thác, nuôi trồng và mua bán chịu điều kiện riêng theo pháp luật thủy sản.
Căn cứ: Nghị định 26/2019/NĐ-CP
Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.
| Nguồn đánh giá | Hạng | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | VU - Sẽ nguy cấp Vulnerable | Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. |
Đặc điểm sinh cảnh sống: Con trưởng thành sống ở các đầm phá, trong và ngoài rạn san hô. Cá con sống trong các thảm cỏ biển và các khu vực ven biển có độ mặn thấp hoặc cửa sông. Cá hoạt động, kiếm ăn chủ yếu vào lúc chạng vạng.
Dạng sinh cảnh phân bố: Biển.
Đặc điểm sinh sản: Cá mú hoa nâu di cư đến các địa điểm mà ở đó chúng tập hợp thành đàn để sinh sản, khoảng cách di chuyển lên đến 25 km, con đực thường đến địa điểm tập trung trước con cái. Nơi tập hợp sinh sản thường được hình thành trong các rãnh, rạn san hô và các đỉnh đá ngầm bên ngoài biển ở độ sâu 3-70 m tại các khu vực có diện tích 16-175 km².
Thức ăn: Ăn cá, cua và mực.
Cá mú hoa nâu sống ở các rạn san hô, là đối tượng bị khai thác để làm thực phẩm, có giá trị cao. Do có tập tính sinh sản tập trung thành đàn nên loài này bị khai thác với số lượng lớn trong mùa sinh sản. Trên thế giới, quần thể của loài ước tính đã suy giảm > 30% kể từ năm 1970.
Ở Việt Nam, việc khai thác thủy sản quá mức cũng đã tác động lên quần thể các loài cá rạn, trong đó có loài Cá mú hoa nâu, ước tính quần thể bị suy giảm > 30% trong 50 năm qua.
| Mối đe dọa được ghi nhận | Săn bắt, khai thác quá mức · Mất môi trường sống · Buôn bán, tiêu thụ trái phép |
| Giá trị của loài | Giá trị khoa học · Giá trị kinh tế · Giá trị môi trường sinh thái |
| Tên gọi | Tên khoa học | Sách Đỏ VN | IUCN | NĐ 84/2021 |
|---|---|---|---|---|
| Cá song nâu | Epinephelus bruneus | — | — | — |