Rùa tai đỏ (Trachemys scripta)

Trachemys scripta

Mã định danh quốc gia: 57P8N.HSL
Nhóm hồ sơ: Loài ngoại lai xâm hại
GiớiAnimalia
NgànhChordata
LớpTestudines
HọEmydidae
ChiTrachemys

Rùa tai đỏ có tên khoa học Trachemys scripta, thuộc họ Emydidae, lớp Testudines, giới Animalia.

Loài này được ghi nhận trong 1 danh mục pháp lý: Loài ngoại lai xâm hại.

Chế độ pháp lý với loài ngoại lai xâm hại

Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.

Nghĩa vụ kiểm soát loài ngoại lai xâm hại

  • Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008).
  • Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
  • Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008).
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).

Đặc điểm và sinh thái

Đặc điểm nhận dạng

Rùa tai đỏ là loài rùa nước ngọt có kích thước trung bình. Cá thể trưởng thành của loài rùa này có kích thước mai dài từ 125 - 289 mm hay 150 - 350 mm. Đặc điểm nổi bật của loài này là có vệt màu vàng hoặc đỏ ở hai bên của đầu. Mai và da có màu ôliu đến nâu với các sọc hoặc chấm màu vàng, có đuôi dài và dày, con đực thường có kích thước lớn hơn con cái. Loài này có trứng có hình êlíp, dài 31 - 43 mm, rộng 19 - 26 mm và nặng 6,1 - 15,4 gram.

Đặc tính sinh học

Rùa tai đỏ sống trong môi trường nước ngọt gồm sông, hồ, suối. Loài rùa này ưa thích các vùng nước tĩnh lặng và rộng lớn với đáy mềm, nhiều thực vật thủy sinh và địa điểm sưởi nắng phù hợp. Mặc dù loài này ưa thích những vùng nước tĩnh lặng song rùa tai đỏ có khả năng thích ứng cao và có thể tồn tại từ những nơi nước tù đọng đến các kênh rạch nhân tạo, các hồ trong công viên. Rùa nhỏ thường chỉ hoạt động ở những vùng thực vật nổi lớn. Loài này thường chỉ sống ở những nơi có nhiệt độ từ 10 - 37oC. Thời gian ấp trứng từ 59 - 112 ngày và thời gian trứng nở phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, nếu nhiệt độ từ 22 - 30oC thì trứng thường nở sau 55 - 80 ngày. Bên cạnh đó, giới tính của rùa cũng phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, trong điều kiện khí hậu mát trứng phát triển thành con đực và trong điều kiện nóng ấm sẽ phát triển thành con cái.

Câu hỏi thường gặp

Rùa tai đỏ là loài gì?

Rùa tai đỏ có tên khoa học Trachemys scripta, thuộc họ Emydidae, lớp Testudines, giới Animalia. Rùa tai đỏ là loài rùa nước ngọt có kích thước trung bình. Cá thể trưởng thành của loài rùa này có kích thước mai dài từ 125 - 289 mm hay 150 - 350 mm. Đặc điểm nổi bật của loài này là có vệt màu vàng hoặc đỏ ở hai bên của đầu. Mai và da có màu ôliu đến nâu với các sọc hoặc chấm màu vàng, có đuôi dài và dày, con đực thường có kích thước lớn hơn con cái. Loài này có trứng có hình êlíp, dài 31 - 43...

Rùa tai đỏ có phải loài ngoại lai xâm hại không?

Có. Loài nằm trong Danh mục loài ngoại lai xâm hại ban hành kèm Thông tư 35/2018/TT-BTNMT. Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. Chế độ pháp lý ở đây là kiểm soát và ngăn chặn, ngược với chế độ bảo vệ dành cho loài nguy cấp, quý, hiếm. Cơ quan hải quan chủ trì phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 51 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Việc nuôi trồng, phát triển loài ngoại lai trong khu bảo tồn chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học của khu bảo tồn và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép (Điều 52 Luật Đa dạng sinh học 2008). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 50 Luật Đa dạng sinh học 2008).

Căn cứ pháp lý

  • Luật Đa dạng sinh học 2008
  • Thông tư 35/2018/TT-BTNMT về Danh mục loài ngoại lai xâm hại
Cập nhật từ nguồn: 25/09/2024. Trang này tổng hợp lại dữ liệu công bố công khai và đối chiếu với văn bản pháp luật hiện hành; khi cần căn cứ chính thức, tra cứu trực tiếp văn bản gốc.

Danh mục công cụ 120

Thuế & kế toán14
Lao động & BHXH8
Doanh nghiệp16
Tài chính8
Dân sự10
Hành chính6
Giao thông16
Đất đai & xây dựng4
Nông nghiệp6
Giáo dục16
Y tế7
Lịch & văn hóa9
Xem tất cả 120 công cụ