Mola mola (Linnaeus, 1758)
| Danh mục | Tình trạng của loài |
|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | VU - Sẽ nguy cấp — Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. |
Cá mặt trăng có tên khoa học Mola mola (Linnaeus, 1758), thuộc họ Molidae, bộ Tetraodontiformes, lớp Actinopterygii, giới Animalia.
Loài này được ghi nhận trong 2 danh mục pháp lý về bảo tồn: Nhóm I - Danh mục loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm đối với lớp động vật có vú, lớp cá xương, lớp cá sụn, lớp hai mảnh vỏ, lớp chân bụng, lớp san hô, ngành da gai và giới thực vật; Nhóm IIA.
Về hạng bảo tồn, loài được xếp VU - Sẽ nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam 2024.
Dữ liệu phân bố ghi nhận loài tại 1 tỉnh, thành phố: Khánh Hòa.
Mỗi nhãn dưới đây tương ứng với một danh mục do văn bản quy phạm pháp luật ban hành. Bấm vào tên văn bản để đọc toàn văn trong kho.
Nghị định 26/2019/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thủy sản
Loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm; việc khai thác, nuôi trồng và mua bán chịu điều kiện riêng theo pháp luật thủy sản.
Căn cứ: Nghị định 26/2019/NĐ-CP
Thông tư 85/2025/TT-BNNMT
Nhóm phân loại theo danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm hiện hành do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.
Hạng bảo tồn là kết quả đánh giá khoa học về nguy cơ tuyệt chủng, khác với việc loài có nằm trong danh mục pháp lý hay không. Một loài có thể được xếp hạng mà chưa thuộc danh mục nào, và ngược lại.
| Nguồn đánh giá | Hạng | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Sách Đỏ Việt Nam 2024 | VU - Sẽ nguy cấp Vulnerable | Đối mặt nguy cơ tuyệt chủng lớn ngoài thiên nhiên trong tương lai tương đối gần. |
Là loài cá xương lớn nhất thế giới, chiều dài cơ thể thường 1,8–3,3 m, khối lượng phổ biến 250–1.000 kg, cá thể lớn có thể vượt 2 tấn.
Thân rất cao, dẹp mạnh theo chiều ngang, gần hình tròn hoặc hình bầu dục.
Không có cuống đuôi thực sự; phần cuối thân tạo thành một cấu trúc gọi là clavus.
Vây lưng và vây hậu môn rất cao, đối xứng nhau và là cơ quan tạo lực bơi chính.
Da dày, thô ráp, không có vảy thật.
Miệng nhỏ, răng hợp nhất thành dạng mỏ.
Màu sắc thường xám bạc đến nâu xám, bụng nhạt màu hơn.
Là loài sống đơn độc, đôi khi xuất hiện theo cặp.
Hoạt động cả ban ngày và ban đêm.
Có tập tính lặn sâu hàng trăm mét để kiếm ăn rồi nổi lên gần mặt nước nhằm điều hòa thân nhiệt và làm sạch ký sinh trùng.
Thức ăn chủ yếu:
Sứa biển, Động vật phù du,Salp,Mực nhỏ,Giáp xác, Cá nhỏ và ấu trùng cá.
Cá cái có khả năng sinh sản rất cao, mỗi lần có thể mang tới hàng trăm triệu trứng, thuộc nhóm động vật có xương sống có sức sinh sản lớn nhất đã biết.
Phân bố ở các vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới trên toàn thế giới.
Ở Việt Nam ghi nhận tại vùng biển ngoài khơi và ven bờ, đặc biệt khu vực miền Trung và Nam Trung Bộ.
Sinh sống chủ yếu ở vùng biển khơi (epipelagic và mesopelagic), thường gặp từ mặt nước đến khoảng 600 m, phổ biến trong khoảng 0–200 m.
Thường xuất hiện tại nơi có dòng hải lưu mạnh, vùng giàu sinh vật phù du và sứa.
Phân bố ở các vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới trên toàn thế giới.
Ở Việt Nam ghi nhận tại vùng biển ngoài khơi và ven bờ, đặc biệt khu vực miền Trung và Nam Trung Bộ.
Sinh sống chủ yếu ở vùng biển khơi (epipelagic và mesopelagic), thường gặp từ mặt nước đến khoảng 600 m, phổ biến trong khoảng 0–200 m.
Thường xuất hiện tại nơi có dòng hải lưu mạnh, vùng giàu sinh vật phù du và sứa.
| Mối đe dọa được ghi nhận | Săn bắt, khai thác quá mức |
Địa danh đã được quy về đơn vị hành chính hiện hành sau sắp xếp năm 2025.
| Tỉnh, thành phố có ghi nhận phân bố |
|---|
| Khánh Hòa |