Hơmon (Sử thi) của người Ba Na là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình biểu đạt và truyền thống truyền khẩu, phân bố tại Gia Lai, được ghi danh vào Danh mục quốc gia năm 2014.
| Tiêu chí | Nội dung |
|---|---|
| Tên di sản | Hơmon (Sử thi) của người Ba Na |
| Loại hình (Luật 2024) | Biểu đạt và truyền thống truyền khẩu — khoản 1 Điều 10 |
| Loại hình ghi trong quyết định | Ngữ văn dân gian (theo bảy loại hình Luật 2001) |
| Tỉnh, thành phố hiện hành | Gia Lai |
| Địa bàn cụ thể | Huyện Đăk Đoa, huyện Đăk Pơ, huyện Kbang, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai |
| Dân tộc chủ thể | Người Ba Na — nhóm Ba-na |
| Quyết định công bố | 4205/QĐ-BVHTTDL ngày 19/12/2014 |
| Năm ghi danh | 2014 |
| Số thứ tự trong Danh mục | 71 |
Sử thi Ba Na (người bản tộc gọi là hơmon) ra đời và tồn tại như một mắt xích quan trọng trong cuộc sống. Hơmon mang dấu vết của xã hội nguyên thủy, nặng màu sắc tín ngưỡng vạn vật hữu linh, là sợi dây kết nối giữa thế giới con người và tổ tiên, quá khứ với hiện tại, giữa thế giới hữu hình và vô hình với quan niệm: đó là hai nửa của một cộng đồng làng. Hơmon gắn liền với tên tuổi những anh hùng thần thoại của buôn làng Tây Nguyên nói chung, người Ba Na nói riêng như Diông, Dư, Dăm Noi…Nội dung cơ bản xuyên suốt trong mỗi tác phẩm hơmon bao gồm ba sự kiện của người anh hùng: lấy vợ, lao động và đánh giặc (nhiệm vụ trung tâm). Hơmon của người Ba Na thường được hát kể vào ban đêm, nghệ nhân có thể hát nằm hoặc hát ngồi. Người hát kể sử thi là những người có sức khỏe và giọng hát tốt, vì họ thường phải diễn xướng nhiều giờ liền mỗi lần, nhất là khi câu chuyện kéo dài nhiều ngày/đêm. Người kể đóng nhiều vai, phân câu, phân đoạn, đặt chỗ lấy hơi, chọn nơi thêm luyến láy, từ phụ, hư từ làm cho lời và giọng kể sinh động. Giọng, điệu, lời, cách phân ngắt cấu trúc, cách sử dụng ngữ điệu, ngữ khí, sắc thái là những phương tiện cơ bản của diễn xướng mà nghệ nhân hơmon cần có khi diễn tả vẻ hoành tráng, hào hùng của nhân vật và nội dung sử thi. Những yếu tố này đều mang đặc trưng của nghệ thuật diễn xướng âm nhạc kết hợp với ngôn từ truyền miệng. Bằng nghệ thuật hát ngâm (những đoạn văn vần) và hát nói (những đoạn văn xuôi), các nghệ nhân dân gian có thể kể những câu chuyện dài, nhiều nhân vật, nhiều sự kiện đan xen. Qua đó, người nghe nhận biết được sự ra đời của trời đất, của con người, tâm linh tín ngưỡng, sự hình thành phát triển xã hội, mối quan hệ trong cộng đồng, phong tục, tập quán được trình bày rất cuốn hút, kết cấu chặt chẽ, có chương, có đoạn, có mở và có kết. Mọi người ngồi thành từng nhóm quanh những đống lửa lắng nghe diễn biến của sử thi, từ sự kiện này sang sự kiện khác, cùng hòa nhập với mạch kể của sử thi.
Đoạn giới thiệu trích từ bộ dữ liệu mở Open Development Vietnam — Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của các dân tộc thiểu số, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn gốc: http://dsvh.gov.vn/homon-su-thi-cua-nguoi-ba-na-o-tinh-gia-lai-1169.
Cùng chủ thể là người Ba Na, cùng địa bàn hoặc cùng loại hình với Hơmon (Sử thi) của người Ba Na.
Căn cứ pháp lý: Luật Di sản văn hóa 2024 (số 45/2024/QH15) và Nghị định 215/2025/NĐ-CP. Các cột loại hình theo luật hiện hành, tỉnh/thành sau sắp xếp 2025 và dân tộc chủ thể là phần đối chiếu do công cụ bổ sung.