TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 49/2019/HS-ST
Ngày: 11/11/2019
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Chính.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Ông Đinh Văn Châu
Bà Phạm Thị Tuẫn.
Bà Phạm Thị Tuẫn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 11/11/2019, tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2019/TLST-HS ngày 18/10/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2019/QĐXXST-HS, ngày 31/10/2019, đối với bị cáo:
Phan Văn T, sinh ngày 29/8/1978, tại Hải Dương; nơi cư trú: Khu 2, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H và bà Cao Thị L; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 03/QĐ-XPVPHC ngày 26/12/2014, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã được xóa).
Bị tạm giữ từ ngày 25/7/2019, chuyển tạm giam từ ngày 26/7/2019 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
1) NLC1;
2) NLC2.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phan Văn T là người sử dụng chất ma túy. Khoảng 07 giờ ngày 25/7/2019, T điều khiển xe đạp đi từ nhà đến khu vực bờ hồ thuộc khu 4, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T gặp một nam thanh niên không biết tên, tuổi địa chỉ, hỏi mua 200.000 đồng Heroin. T đưa cho người này 200.000 đồng, người này đưa lại cho T 04 gói giấy màu trắng (dạng giấy kẻ ô), kích thước mỗi gói khoảng 01cm x 02cm. T cầm số ma túy trong lòng bàn tay trái để điều khiển xe đạp đi về nhà. Khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến ngã tư Vườn hoa chéo thuộc khu 2, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương, T bị Công an thị trấn N kiểm tra, phát hiện bắt giữ, thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 04 gói giấy màu trắng (dạng giấy kẻ ô), kích thước mỗi gói khoảng 01cm x 02cm. T khai nhận 04 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, là ma túy Heroin vừa mua được.
Tại Kết luận giám định số 295/KLGĐ ngày 26/7/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Phan Văn T, gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,264 gam là ma túy, loại Heroin.
Tại Cáo trạng số 53/CT-VKS-NG ngày 17/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang để xét xử đối với Phan Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn T thừa nhận hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 14 đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/7/2019; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 BLHS, khoản 2 điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0, 194 gam Heroine hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 295/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, trả lại cho bị cáo chiếc xe đạp; Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật TTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Luật phí và lệ phí buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Giang, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai của bị cáo Phan Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 25/7/2019, tại khu vực ngã tư Vườn hoa chéo thuộc khu 2, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương, Công an thị trấn N phát hiện, bắt quả tang Phan Văn T đang cất giấu trái phép 0,264 gam Heroin, mục đích để sử dụng. Bị cáo Phan Văn T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là hành vi trái pháp luật, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, đồng thời xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân không tốt; là đối tượng nghiện ma túy. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phan Văn T là lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, được tổ chức giám định hoàn lại, cần tịch thu và tiêu hủy.
Chiếc xe đạp bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại, không dùng để cất giấu mà túy, nên trả cho bị cáo.
[6] Về án phí: Bị cáo Phan Văn T bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Đối với người bán ma túy cho Phan Văn T, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phan Văn T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 25/7/2019.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 0,194 gam Heroine, được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 295/KLGĐ; trả lại bị cáo 01 xe đạp (đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/11/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Giang với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 11/11/2019.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- VKSND huyện Ninh Giang;
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- CQ CSĐT Công an huyện Ninh Giang;
- CQ THAHS Công an huyện Ninh Giang;
- Bộ phận HSNV Công an huyện Ninh Giang;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
- Chi cục THADS huyện Ninh Giang;
- Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Đức Chính