Logo
  • Văn bản
    Công vănNghị địnhÁn lệBản án
  • Tin tức
    Tin văn bảnChính sách mớiTin pháp luậtKiến thức pháp luậtBản tin luậtMedia Luật
  • Biểu mẫu
  • Công cụ
    Rủi ro & phạt khi giải thểhotTra cứu mã số thuếTra cứu thuật ngữ pháp lýTra cứu mã ngành nghềGiá xăng dầu hôm nayTính lươngThuế TNCN người nước ngoàimới
    Xem tất cả công cụ
Logo
Logo
  • Trang chủ
    • Công văn
    • Nghị định
    • Án lệ
    • Bản án
    • Tin văn bản
    • Chính sách mới
    • Tin pháp luật
    • Kiến thức pháp luật
    • Bản tin luật
    • Media Luật
  • Biểu mẫu
    • Rủi ro & phạt khi giải thểhot
    • Tra cứu mã số thuế
    • Tra cứu thuật ngữ pháp lý
    • Tra cứu mã ngành nghề
    • Giá xăng dầu hôm nay
    • Tính lương
    • Thuế TNCN người nước ngoàimới
    • Xem tất cả công cụ
Giới thiệuSơ đồ website

Tìm kiếm văn bản

Nhập từ khóa, hoặc mở bộ lọc nâng cao để lọc theo cơ sở dữ liệu, thời gian và tình trạng hiệu lực

đến
đến
Trang chủ›Văn bản›172

Bản án 172 ngày 23/10/2019 - TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Đã sao chép thành công!
Số hiệu172
Loại văn bảnBản án
Ngày ban hành23/10/2019
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 172/2019/HS-ST
Ngày 23-10-2019
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Đức Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nhật Chiến
Bà Hà Hồng Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Lạng sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên tòa: Ông Bế Xuân Trường- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng
sơnạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số
171/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 175/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Tiến D, sinh ngày 05/5/1977 tại T; nơi đăng ký thường trú: Tổ
14 phường T, thành phố T, tỉnh T; chỗ ở hiện nay: Số 01 đường N,phường V,
thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 10/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Nguyễn Văn T(đã chết) và bà Nguyễn Thị L; vợ Phạm Thị H; con: Có 02 con,
con lớn sinh năm 2002; con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không có; bị
tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2019 đến nay, có mặt.
2. Nguyễn Văn S, sinh tháng 10/1974 tại Bắc Giang; nơi đăng ký thường
trú: Xóm K, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang; chỗ ở: Khối 11, đường N, phường
T, thành phố L; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị V; vợ Nguyễn Thị T(đã ly hôn); con: Có 03
con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không có;
bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2019 đến nay, có mặt.
3. Lương Tuấn S, sinh ngày 22/7/1984 tại Lạng Sơn; nơi đăng ký thường
trú và chỗ ở: Số 98/8, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Tuấn T(đã chết) và bà Đinh
Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 08/7/2009,
Chủ tịch UBND thành phố L quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24
tháng; ngày 29/11/2013, Chủ tịch UBND thành phố L quyết định đưa vào cơ sở
chữa bệnh thời hạn 24 tháng; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2019 đến nay,
có mặt.
4. Phùng Thị T(Phùng Anh T), sinh ngày 12/12/1971 tại Lạng Sơn; nơi
đăng ký thường trú và nơi cư trú hiện nay: Số 190, đường B, phường H, thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 04/12; dân
tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng
Văn C(đã chết) và bà Lê Mai H; chồng Phạm Văn H(đã chết); con: Có 03 con,
con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không có; nhân
thân: Ngày 22/9/1997, Phòng PC16 Công an tỉnh Lạng Sơn lập hồ sơ AK về
hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tại bản án Hình sự số 97/HSST ngày
20/6/2001 Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 năm tù về tội mua bán trái
phép chất ma túy; hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, vắng
mặt.
- Người làm chứng: Đặng Văn T, vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Đặng Minh T; ông Hoàng Doãn C và ông
Nguyễn Văn L, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/6/2019, Công an thành phố L, tỉnh Lạng
Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư đường B- L phường V, thành phố L
phát hiện bắt quả tang đối tượng Nguyễn Tiến D có hành vi tàng trữ trái phép
chất ma túy, thu giữ của Nguyễn Tiến D ba gói giấy bên trong chứa chất bột màu
trắng. Khai thác tại chỗ Nguyễn Tiến D khai nhận số ma túy Heroine vừa mua
được của Phùng Thị T(Phùng Anh T) địa chỉ số 190, đường B, phường H, thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn, công an thành phố L đã lập biên bản phạm tội quả tang,
niêm phong vật chứng theo quy định.
Tiếp đó, vào hồi 11 giờ 45 phút tại khu vực trước cửa nhà số 137 đường
B, phường H, thành phố L. Công an thành phố L tiến hành kiểm tra xe mô tô
biển kiểm soát 12K5-55xx do Nguyễn Văn S điều khiển chở Lương Tuấn S phát
hiện và thu giữ hai gói giấy nhỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng. Lương Tuấn
S và Nguyễn Văn S đều khai nhận hai gói giấy chứa chất bột màu trắng là chất
ma túy Heroine của hai bị cáo cùng góp tiền mua với Phùng Thị T, tại số 190,
đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phùng Thị T, Cơ quan điều tra thu giữ 33
gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng,01 túi nilon màu
đen, 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng và 8.268.000 đồng.
Tại các bản Kết luận giám định số 238/KL-PC09 ngày 20/6/2019 của
Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có
trong hai gói giấy màu trắng, thu giữ của Lương Tuấn S và Nguyễn Văn S gửi
đến giám định là chất ma túy Heroine; tổng khối lượng 0,107 gam. Kết luận
giám định số 239/KL-PC09 ngày 21/6/2019 kết luận: Chất bột màu trắng có
trong 33 (ba mươi ba) gói giấy màu trắng, thu giữ khi khám xét chỗ ở của Phùng
Thị T gửi đến giám định đều là chất ma túy Heroine; tổng khối lượng 1,593 gam
và Kết luận giám định số 240/KL-PC09 ngày 19/6/2019 kết luận: Chất bột màu
trắng có trong 03 (ba) gói giấy màu trắng thu giữ của Nguyễn Tiến D, gửi đến
giám định đều là chất ma túy Heroine; tổng khối lượng 0,157 gam.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến D khai nhận: Do mắc nghiện ma túy từ
năm 2017 nên thường mua ma túy Heroine để sử dụng. Khoảng 11 giờ ngày
17/6/2019, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12F9-67xx từ nhà ra khu
vực Bưu điện tỉnh Lạng Sơn trên đường L, phường V, thành phố L tìm mua ma
túy sử dụng. Tại đây, bị cáo hỏi người đàn ông làm nghề xe ôm nơi bán ma túy,
người đàn ông đòi 100.000 đồng tiền công và bị cáo đồng ý đưa 100.000 đồng
theo thỏa thuận. Người này dẫn bị cáo đến trước cửa số nhà 190, đường B,
phường H, thành phố L để mua ma túy. Bị cáo vào nhà số 190 và mua 200.000
đồng với người phụ nữ (sau này mới biết tên là Phùng Thị T) được Phùng Thị
Tđưa cho 03 (ba)) gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong chứa chất ma túy Heroine;
bị cáo cất giấu 03 (ba) gói ma túy vào trong túi quần bên trái đang mặc rồi điều
khiển xe mô tô về nhà để sử dụng. Khi đến ngã tư đường B giao nhau với đường
L dừng đèn đỏ thì bị Công an kiểm tra đã phát hiện, tạm giữ của bị cáo 03 (ba)
gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất ma túy Heroine như đã nêu ở
trên.
Các bị cáo Nguyễn Văn S và Lương Tuấn S khai nhận: Khoảng 11 giờ
ngày 17/6/2019, sau khi ăn cơm trưa tại phòng trọ tại đường N, khối 11 phường
T, thành phố L xong. Bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K5-55xx ra
khu vực cổng sau chợ Đ, đường Nguyên Du, phường Đ, thành phố L tìm mua
ma túy để sử dụng. Tại quán nước cổng chợ Đ, bị cáo gặp và làm quen với
Lương Tuấn S (sau này mới biết tên) qua trao đổi bị cáo Nguyễn Văn S và
Lương Tuấn S thống nhất góp mỗi người 100.000 đồng để mua ma túy về sử
dụng. Trên đường đi bị cáo cùng Lương Tuấn S rẽ vào hiệu thuốc ngay gần cổng
chợ Đ để mua xi lanh và nước cất, tại đây bị cáo đưa cho Lương Tuấn S 100.000
đồng để góp chung mua ma túy. Sau đó bị cáo điều khiển xe mô tô do Lương
Tuấn S chỉ đường đến nhà Phùng Thị T tại số 190, đường B, phường H, thành
phố L. Khi đến nơi, bị cáo ở ngoài đợi để Lương Tuấn S vào nhà Phùng Thị
Tmua ma túy, được khoảng 05 phút sau Lương Tuấn S đi ra, bị cáo hiểu là đã
mua được ma túy liền chở Lương Tuấn S tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến ngã
tư đường B giao nhau với đường L, phường H, thành phố L thì bị lực lượng
Công an yêu cầu kiểm tra, bị cáo Lương Tuấn S thả gói ma túy xuống đất và
nhảy xuống xe chạy trốn thì bị lực lượng Công an khống chế và yêu cầu quay
trở lại nơi thả gói ma túy để kiểm tra. Qua kiểm tra đã phát hiện, thu giữ của bị cáo và Lương Tuấn S 02 (hai) gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong có chất ma túy
Heroine.
Bị cáo Phùng Thị T vắng mặt, tuy nhiên tại các biên bản lời khai tại Cơ
quan điều tra có trong hồ sơ thể hiện: Do là đối tượng nghiện ma túy và thường
xuyên mua ma túy Heroine về bán lẻ cho các đối tượng nghiện trên địa bàn
thành phố L. Trong buổi sáng 17/6/2019 bị cáo được bán ma túy cho khoảng 5-6
người để kiếm lời, khoảng 11 giờ bị cáo bán ba gói Heroine cho một nam thanh
niên với giá 200.000 đồng (sau này mới biết là Nguyễn Tiến D) và bán cho hai
gói Heroine cho một nam thanh niên với giá 200.000 đồng (sau này mới biết là
Lương Tuấn S). Bị cáo biết được vì họ là những người mua sau cùng trước khi
bị cáo bị bắt, khám xét. Do bị bệnh Sơ gan cổ chướng giai đoạn cuối, tình trạng
sức khỏe yếu nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến gì về
nội dung cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Tiến D,
Nguyễn Văn S, Lương Tuấn S và Phùng Thị T đều thừa nhận hành vi phạm tội
đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành
phố L giữ nguyên nội dung truy tố như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét
xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn S, Lương Tuấn S phạm tội
Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo Phùng Thị T phạm tội mua bán trái phép
chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều
38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự; xử phạt các bị cáo Nguyễn Tiến D, Nguyễn
Văn S, Lương Tuấn S từ 15 tháng đến 18 tháng tù; áp dụng điểm b khoản 2 Điều
251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo
Phùng Thị T từ 08 đến 09 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền
vì các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ
luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 03 (ba) phong bì đựng chất ma
túy còn lại đã niêm phong hoàn lại sau giám định, 02 hai xi lanh nhãn hiệu
VINAHANKOOK; 01 ống nước NOVOCAIN chưa sử dụng; 01 túi ni lon màu
đen, 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng; tịch thu 8.268.000 đồng của Phùng Thị
T sung Ngân sách Nhà nước; trả bị cáo Nguyễn Tiến D chiếc điện thoại di động
nhãn hiệu NOKIA màu đen số sê ri 3572890812007xx đã sử dụng và số tiền
275.000 đồng vì không liên quan đến hành vi pham tội. Buộc các bị cáo phải
nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận; trong lời nói
sau cùng các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 11/10/2019 Tòa án nhân dân thành phố Lạng sơnạng
Sơn nhận được đơn xin xét xử vắng mặt của bị cáo Phùng Thị T, lý do bị bệnh
Sơ gan cổ chướng giai đoạn cuối, nên tình trạng sức khỏe yếu. Căn cứ điểm c
khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vụ án vắng mặt bị cáo.
[2] Lời khai của các bị cáo Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn S và Lương Tuấn
S tại phiên tòa phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét; kết
luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra công khai tại phiên toà. Như vậy có đủ căn cứ khẳng định Cáo trạng
của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo Phùng Thị T về tội mua
bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251, các bị cáo Nguyễn
Tiến D, Nguyễn Văn S và Lương Tuấn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi bán trái phép chất ma tuý của bị cáo Phùng Thị T và hành vi
tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo Nguyễn Tiến D, Lương Tuấn S và
Nguyễn Văn S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý chất
ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Các bị cáo nhân
thức được tác hại của ma túy và biết viê cmua bán, tàng trữ và sử dụng trái phép
chất ma túy đều là vi phạm pháp luật. Ảnh hưởng tới sức khỏe, thiệt hại về kinh
tế của cá nhân và gia đình, đồng thời là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các
tệ nạn xã hội khác, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
[4] Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, bởi lẽ các bị cáo
không có sự bàn bạc và tổ chức chặt chẽ, người giữ vai trò chính trong vụ án là
bị cáo Phùng Thị T đã bán ma túy cho các bị cáo Nguyễn Tiến D và Lương Tuấn
S. Như vậy, bị cáo Phùng Thị T là người thực hành, các bị cáo Nguyễn Tiến D,
Lương Tuấn S và Nguyễn Văn S mặc dù biết hành vi mua bán, tàng trữ trái phép
ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên vì là đối tượng nghiện ma túy nên đã tiếp
tay cho bị cáo Phùng Thị T.
[5] Về nhân thân: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy và không có
nghề nghiệp. Bị cáo Phùng Thị T từ ngày 22/9/1997, đã bị Cơ quan cảnh sát
điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn lập hồ sơ AK về hành vi mua bán trái phép chất
ma túy. Ngày 20/6/2001 Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 năm tù về
tội mua bán trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích. Tuy nhiên, bị cáo không
lấy đó làm bài học để sửa chữa lỗi lầm lại tiếp tục phạm tội hai lần trở lên. Đây
là tình tiết định khung tăng nặng. Các bị cáo Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn S và
Lương Tuấn S chưa có tiền án, tiền sự nay lại phạm tội, vì vậy các bị cáo phải
chịu hình phạt tương ứng với khối lượng ma túy tàng trữ khi bị bắt giữ.
[6] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[7] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra Phùng Thị T và tại phiên
tòa các bị cáo Nguyễn Tiến D, Lương Tuấn S và Nguyễn Văn S đều thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải đó tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều
51 của Bộ luật Hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố, xét xử không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các
hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[9] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình
tiết giảm nhẹ và nhân thân các bị cáo, lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại
phiên tòa là có căn cứ được chấp nhận, bởi lẽ bị cáo Phùng Thị T phạm tội thuộc
trường hợp rất nghiêm trọng, các bị cáo Nguyễn Tiến D, Lương Tuấn S và
Nguyễn Văn S phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Vì vậy, việc áp dụng
hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo vẫn là cần thiết để các bị cáo có thời
gian chữa bệnh, học tập và lao động, sớm trở thành người có ích cho gia đình và
xã hội, góp phần răn đe và phòng ngừa tội phạm tại địa phương.
[10] Về hình phạt bổ sung: Tại các biên bản xác minh về tài sản và thu
nhập vào các ngày 21, 23 và 26/8/2019 tại nơi các bị cáo sinh sống cho thấy các
bị cáo Phùng Thị T, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn S và Lương Tuấn S đều không
có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định và tài sản nên Hội đồng xét xử
không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[11] Về xử lý vật chứng: Gồm có 03 (ba) phong bì đựng chất ma túy còn
lại đã niêm phong hoàn lại sau giám định, 02 hai xi lanh nhãn hiệu
VINAHANKOOK; 01 ống nước NOVOCAIN chưa sử dụng; 01 túi ni lon màu
đen, 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng là vật Nhà nước cấm tàng trữ và công cụ
để sử dụng mua bán ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; đối
với số tiền 8.268.000 đồng tạm giữ của Phùng Thị T, xác định là khoản tiền do
bị cáo mua bán ma túy mà có nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước; đối với
chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen số sê ri 3572890812007xx
đã sử dụng và số tiền 275.000 đồng tạm giữ của bị cáo Nguyễn Tiến D vì không
liên quan đến hành vi phạm tội nên trả bị cáo là phù hợp. Đối với chiếc xe môtô
nhãn hiệu DETECH màu đỏ BKS 12F9-7631 tạm giữ của Nguyễn Tiến D, quá
trình điều tra xác minh xác định chủ sở hữu chiếc xe là anh Lại Văn S, trú tại số
01 đường N,phường V, thành phố L. Do mối quan hệ quen biết anh S cho
Nguyễn Tiến D mượn để đi lại, việc Nguyễn Tiến D sử dụng xe đi mua ma túy
anh S không biết nên không có lỗi. Cơ quan điều ra đã trả lại chiếc xe cho anh S
ngày 29/8/2019 Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.
[12] Riêng chiếc xe môtô nhãn hiệu LONCIN biển kiểm soát 12K5-55xx,
tạm giữ của Nguyễn Văn S. Bị cáo thừa nhận chiếc xe là của anh Đặng Văn T
giao cho sử dụng làm phương tiện đi lại trong thời gian làm ăn tại thành phố L
từ năm 2017. Qua công tác tra cứu số khung, số máy, xe có biển kiểm soát
98F8-50xx xác định chủ sở hữu chiếc xe anh Nguyễn Quang H; cư trú tại xã N,
huyện T, tỉnh Bắc Giang; tra cứu số biển kiểm soát và số khung, số máy xác
định chủ xe là anh Nguyễn Văn H; cư trú tại thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Lạng
Sơn. Tại phiên tòa các anh Đặng Văn T, Nguyễn Quang H và Nguyễn Văn H
đều vắng mặt. Cơ quan điều tra tách hồ sơ để điều tra xử lý theo vụ việc riêng.
Hội đồng xét xử không xem xét.
[13] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án
phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 58,
38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phùng Thị T(Phùng Anh T);
điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58, 38, Điều 47 của Bộ
luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Tiến D, Lương Tuấn S và Nguyễn Văn
S; khoản 2; 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1
Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Thị T(Phùng Anh T) phạm tội Mua
bán trái phép chất ma túy. Các bị cáo Nguyễn Tiến D, Lương Tuấn S và Nguyễn
Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Phùng Thị T(Phùng Anh T) 08 (tám) năm tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (17/6/2019)
- Xử phạt bị cáo Lương Tuấn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (17/6/2019)
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (17/6/2019)
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) phong bì đựng chất ma túy
đã niêm phong hoàn lại sau giám định; 02 hai xi lanh nhãn hiệu
VINAHANKOOK; 01 ống nước NOVOCAIN chưa sử dụng; 01 túi ni lon màu
đen, 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng; tịch thu của bị cáo Phùng Thị
T8.268.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước; trả lại bị cáo Nguyễn Tiến D chiếc
điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen số sê ri 3572890812007xx đã sử
dụng và 275.000 đồng.
(Vật chứng nói trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, theo biên bản giao nhận vật chứng và
phiếu chuyển tiền điện tử ngày 26/9/2019)
3. Án phí: Các bị cáo Phùng Thị T, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn S và
Lương Tuấn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ
ngày tuyên án. Bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
- Công an TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
- Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- Chi cục THADS TP Lạng Sơn;
- Các bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trương Đức Hải
Từ khóa:
172Bản án 172Bản án số 172Bản án 172 của TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng SơnBản án số 172 của TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng SơnBản án 172 của TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Nội dung đang được cập nhật.

Được hướng dẫn ()Xem thêmẨn bớt

    Bị hủy bỏ ()Xem thêmẨn bớt

      Được bổ sung ()Xem thêmẨn bớt

        Đình chỉ ()Xem thêmẨn bớt

          Bị đình chỉ ()Xem thêmẨn bớt

            Bị đinh chỉ 1 phần ()Xem thêmẨn bớt

              Bị quy định hết hiệu lực ()Xem thêmẨn bớt

                Bị bãi bỏ ()Xem thêmẨn bớt

                  Được sửa đổi ()Xem thêmẨn bớt

                    Được đính chính ()Xem thêmẨn bớt

                      Bị thay thế ()Xem thêmẨn bớt

                        Được điều chỉnh ()Xem thêmẨn bớt

                          Được dẫn chiếu ()Xem thêmẨn bớt

                            Văn bản hiện tại

                            Số hiệu172
                            Loại văn bảnBản án
                            Ngày ban hành23/10/2019

                            Hướng dẫn ()Xem thêmẨn bớt

                              Hủy bỏ ()Xem thêmẨn bớt

                                Bổ sung ()Xem thêmẨn bớt

                                  Đình chỉ 1 phần ()Xem thêmẨn bớt

                                    Quy định hết hiệu lực ()Xem thêmẨn bớt

                                      Bãi bỏ ()Xem thêmẨn bớt

                                        Sửa đổi ()Xem thêmẨn bớt

                                          Đính chính ()Xem thêmẨn bớt

                                            Thay thế ()Xem thêmẨn bớt

                                              Điều chỉnh ()Xem thêmẨn bớt

                                                Dẫn chiếu ()Xem thêmẨn bớt

                                                  Tải văn bản gốc

                                                  Tóm tắt văn bản

                                                  Số hiệu172
                                                  Loại văn bảnBản án
                                                  Ngày ban hành23/10/2019
                                                  Tra cứu mã số thuế doanh nghiệp

                                                  Tin pháp luật

                                                  • Thuê trọ nhưng không đăng ký tạm trú, sinh viên bị xử phạt như thế nào?
                                                  • Thu nhập từ lãi gửi tiền ở các tổ chức tín dụng có phải nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
                                                  • Hành vi lấn chiếm vỉa hè sẽ bị xử phạt như thế nào?
                                                  • Đi xem phim và quay lén lại đăng lên mạng xã hội có bị xử phạt không

                                                  Media Luật

                                                  • VIDEO: Cảnh Sát Giao Thông Không Còn Công Khai Kế Hoạch Tuần Tra Giao Thông Từ 15/9/2023
                                                  • VIDEO: Nóng, Cảnh sát giao thông được mặc thường phục để dừng xe từ 15/9/2023
                                                  • VIDEO: Nóng, Từ ngày 15/09/2023 không cần mang giấy tờ xe khi tham gia giao thông
                                                  • VIDEO: Hiện nay ai có thẩm quyền cấp sổ đỏ?

                                                  Mục lục

                                                    Dữ Liệu Pháp Luật

                                                    Cổng tra cứu văn bản pháp luật, bản án, án lệ và bộ công cụ pháp lý trực tuyến — cập nhật nhanh, chính xác, đáng tin cậy.

                                                    Liên hệ hỗ trợ[email protected]

                                                    Tra cứu

                                                    • Văn bản pháp luật
                                                    • Bản án & Án lệ
                                                    • Biểu mẫu
                                                    • Tin văn bản
                                                    • Chính sách mới

                                                    Công cụ tiện ích

                                                    • Tính lương
                                                    • Tính thuế TNCN
                                                    • Tra cứu mã số thuế
                                                    • Tra cứu mã ngành nghề
                                                    • Xem tất cả công cụ

                                                    Về chúng tôi

                                                    • Giới thiệu
                                                    • Nền tảng Vi-Office
                                                    • Sơ đồ website

                                                    Pháp lý rõ ràng,
                                                    công việc nhẹ nhàng

                                                    Cập nhật văn bản mới, công cụ hữu ích và nhiều tính năng hỗ trợ khác.

                                                    © 2026 Công ty Cổ phần Giải pháp Vi-OfficeMã số thuế: 0109181523

                                                    Giới thiệuSơ đồ website
                                                    văn bản pháp luật liên quan