HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 03/HĐTP | Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 1990 |
HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LỆNH THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ (trích)
Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 của Pháp lệnh thì “các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, thi hành quyết định, thực hiện yêu cầu của Tòa án, phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị Tòa án phạt tiền từ 20.000đ đến 50.000đ”
Đối với các trường hợp Tòa án đã triệu tập nhiều lần mà bị đơn không chịu đến trụ sở Tòa án để Tòa án lấy lời khai, hòa giải, thì Tòa án có thể phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã triệu tập họ đến trụ sở Ủy ban nhân dân để lấy lời khai, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân lấy lời khai hoặc trực tiếp đến nhà họ để lấy lời khai. Nếu đã làm như vậy mà vẫn không lấy được lời khai của bị đơn, thì Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết từ các nguồn khác và phản ảnh rõ trong hồ sơ việc không lấy được lời khai của bị đơn. Sau đó Tòa án tự mình hoặc đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết giấy triệu tập phiên tòa tại trụ sở Ủy ban nhân dân và tại nơi ở của bị đơn. Nếu bị đơn triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn không đến phiên tòa, thì Tòa án xét xử vụ án vắng mặt của họ theo quy định tại khoản 3 Điều 48 của Pháp lệnh.
1. Theo Điều 5 của Pháp lệnh thì hòa giải là thủ tục bắt buộc, chỉ không hòa giải được hoặc hòa giải không thành thì mới đưa ra vụ án xét xử, trừ những trường hợp không phải hòa giải theo quy định tại Điều 43 của Pháp lệnh.
Theo quy định tại Điều 40 Luật hôn nhân và gia đình thì hòa giải cũng là một thủ tục bắt buộc khi cả hai vợ chồng có đơn xin thuận tình ly hôn; do đó, nếu Tòa án đã hòa giải để hai bên đương sự về đoàn tụ với nhau nhưng họ vẫn kiên quyết xin ly hôn, thì Tòa án lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, sau đó lập biên bản về sự thỏa thuận của các đương sự về thuận tình ly hôn, phân chia tài sản và nuôi con …. Việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc quyết định đưa ra xét xử trong các trường hợp này cũng được thực hiện theo hướng dẫn trên.
4. Ngoài việc đưa ra xét xử những việc không phải hòa giải (Điều 43), những việc hòa giải không thành, Tòa án đưa ra xét xử những việc như sau: bị đơn đã được triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng (khoản 4 Điều 44) hoặc những trường hợp không có điều kiện tiến hành hòa giải như: có một bên đương sự ở nước ngoài, đang bị giam giữ hoặc những trở ngại khách quan như bị tai nạn, ốm đau … nên không thể có mặt được khi hòa giải.
Trong trường hợp tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Hội đồng xét xử ra ngay quyết định công nhận sự thỏa thuận đó.
1. Tòa án có thẩm quyền giải quyết loại việc này là Tòa án cấp huyện nơi thường trú của người khởi kiện hoặc nơi thường trú cuối cùng mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định là mất tích hoặc đã chết.
Trong trường hợp không thể xác định được ngày nhận tin tức cuối cùng về người vắng mặt thì tính thời gian bắt đầu vắng mặt là ngày đầu của tháng tiếp sau tháng nhận được tin tức cuối cùng về người vắng mặt, còn trong trường hợp không thể xác định được tháng đó thì tính thời gian bắt đầu vắng mặt là ngày 1 tháng 1 năm tiếp sau đó.
4. Khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự Tòa án yêu cầu đương sự đến cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của tỉnh và Trung ương nhắn tin tìm người vắng mặt và lấy xác nhận của cơ quan đó về việc đã nhắn tin tìm người vắng mặt nộp cho Tòa án thụ lý vụ án. Tòa án cũng có quyền yêu cầu người khởi kiện nộp tiền tạm ứng cho việc thông báo tìm người vắng mặt trên báo chí, đài phát thanh, đài vô tuyến truyền hình của tỉnh và của Trung ương, để Tòa án thụ lý vụ án và thông báo tìm người vắng mặt. Người khởi kiện phải chịu án phí và phí tổn về việc thông báo tìm người vắng mặt. Trong thông báo phải nêu rõ họ, tên, đặc điểm nhân dạng, nơi cư trú, làm việc cuối cùng của người vắng mặt, thời gian bắt đầu vắng mặt, v.v… để bất cứ ai biết về người đó cũng có thể cung cấp tin cho Tòa án. Thông báo cùng được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi người vắng mặt cư trú, làm việc cuối cùng. Trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày nhắn tin hoặc thông báo mà người vắng mặt không trình diện và không có tin tức gì về người đó thì Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, trừ trường hợp có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu có tin tức về người vắng mặt, thì Tòa án yêu cầu người khởi kiện rút đơn khởi kiện và ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, nếu đương sự không rút đơn khởi kiện thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử để bác bỏ yêu cầu của họ.
6. Trình tự tố tụng đối với việc xác định người đã chết cũng giống như xác định người đã mất tích. Tuy nhiên, để xác định người đã chết không nhất thiết phải qua thủ tục xác định người đó là mất tích.
7. Tài sản của người mà Tòa án xác định là mất tích tùy trường hợp được giao cho người thân thích của họ hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý. Người được giao quản lý tài sản có trách nhiệm bảo quản và không được chuyển dịch quyền sở hữu, thế chấp, cầm cố … tài sản đó. Tài sản đó có thể được trích ra để nuôi dưỡng người mà người mất tích có nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người mất tích. Tài sản của người mà Tòa án xác định là đã chết được giải quyết theo pháp luật về thừa kế.
9. Trong trường hợp mà Tòa án xác định là mất tích hoặc đã chết xuất hiện thì vụ án có thể được giải quyết lại theo thủ tục tái thẩm. Nếu vụ án được giải quyết lại theo thủ tục tái thẩm thì tài sản của người bị Tòa án xác định là đã chết hoặc bị mất tích đang do người khác quản lý hoặc đã được chuyển giao theo pháp luật thừa kế được trả lại theo yêu cầu của họ.
Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết loại việc này là Tòa án cấp huyện nơi có trụ sở của cơ quan hộ tịch bị khiếu nại. Đối với loại việc này, Tòa án phải yêu cầu Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa. Để giải quyết vụ việc này Tòa án cần nắm vững các quy định của điều lệ đăng ký hộ tịch (ban hành kèm theo Nghị định số 4-CP ngày 16-1-1961 của Hội đồng Chính phủ), Thông tư số 05-NV ngày 21-1-1961 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành điều lệ đăng ký hộ tịch, Nghị định số 219-HĐBT ngày 20-11-1987 của Hội đồng Bộ trưởng.
Theo các điểm b, c khoản 1 Điều 17 của Pháp lệnh thì Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi: nếu “đã có lần điều tra, hòa giải, xét xử vụ án, trừ các thành viên của Ủy ban Thẩm phán, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm”, hoặc nếu, “đã là Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch trong vụ án”.
- Thẩm phán đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì không được tham gia xét xử lại vụ án đó theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Pháp lệnh không quy định các thành viên Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh được tham gia xét xử nhiều lần cùng vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Do đó trong trường hợp Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hủy bản án sơ thẩm của Tòa án cấp huyện và giao vụ án cho Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử lại, mà việc xét xử này lại sai lầm nghiêm trọng thì bản án có sai lầm này (nếu không được sửa chữa theo thủ tục phúc thẩm) sẽ không được sửa chữa theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vì Ủy ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh không có thẩm quyền xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án đó một lần nữa, còn Tòa án nhân dân tối cao thì cũng có thẩm quyền giám đốc thẩm tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện (vì theo quy định của khoản 2 Điều 47 và Điều 81 của Pháp lệnh thì Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao chỉ có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án cấp tỉnh). Để tránh tình trạng này, khi hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án cấp tỉnh cần giữ vụ án lại để xét xử theo thủ tục sơ thẩm.
- Thư ký Tòa án tham gia tố tụng ở cấp xét xử này thì không được tham gia tố tụng với tư cách Thẩm phán ở cấp xét xử khác. Thư ký Tòa án sau khi được bầu làm Thẩm phán vẫn có thể tham gia xét xử vụ án ở cùng cấp xét xử mặc dù trước đó đã tham gia tố tụng với tư cách Thư ký Tòa án trong giai đoạn điều tra, hòa giải.
a. Không có quốc tịch ở Việt Nam, không cư trú ở Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định trước đối với đương sự là người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài;
c. Bị bệnh tâm thần.
2. Tòa án không chấp nhận những người thuộc một trong những trường hợp sau đây tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện do đương sự ủy quyền, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự
b. Chưa đủ 18 tuổi;
d. Đã bị khởi tốt về hình sự hoặc bị kết án nhưng chưa được xóa án;
e. Là người giám định, người phiên dịch, người làm chứng trong vụ án;
g. Chuyên viên tư vấn pháp luật của các Văn phòng dịch vụ pháp lý (theo hướng dẫn tại Thông tư số 1119 QLTPK ngày 24-12-1987 và Công văn số 870/CV/DVPL ngày 26-10-1988 của Bộ Tư pháp).
Một người chỉ có thể tham gia tố tụng với một tư cách hoặc là người đại diện do đương sự ủy quyền hoặc là người bảo vệ quyền lợi cho đương sự, chứ không được tham gia tố tụng cùng một lúc với hai tư cách vừa là người đại diện do đương sự ủy quyền vừa là người bảo vệ quyền lợi cho đương sự.
Đương sự có thể ủy quyền cho Luật sư hoặc người khác một phần hoặc toàn bộ các quyền của mình trong tố tụng. Người đại diện cho đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phạm vi được ủy quyền. Mặc dù đương sự đã ủy quyền cho người đại diện nhưng đương sự vẫn có quyền tự mình tham gia tố tụng. Tòa án cũng có quyền triệu tập đương sự đích thân tham gia tố tụng khi xét thấy cần thiết.
VIII. VỀ VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
1. Nếu bị đơn cố ý giấu địa chỉ, cố ý lẩn tránh không đến Tòa án, nhưng trước đó Tòa án đã lấy lời khai của họ, đã thu thập được chứng cứ đầy đủ, thì Tòa án có quyền xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Pháp lệnh.
Khi lý do của việc quyết định tạm đình chỉ không còn nữa thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án hoặc nếu có căn cứ theo quy định tại Điều 46 của Pháp lệnh thì ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.
4. Theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Pháp lệnh thì quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm xét kháng cáo, kháng nghị tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa cấp sơ thẩm theo thủ tục quy định tại Điều 66 và Điều 70 của Pháp lệnh. Còn quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp phúc thẩm cũng như các quyết định khác của Tòa án cấp phúc thẩm đều là chung thẩm, có hiệu lực thi hành, nếu có kháng nghị thì giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm nếu có khiếu nại thì giải quyết theo thủ tục giải quyết đơn khiếu nại.
IX. VỀ ĐÌNH CHỈ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
Việc đình chỉ giải quyết vụ án khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện, Viện Kiểm sát rút quyết định khởi tố ở cấp phúc thẩm cũng áp dụng theo cách hướng dẫn trên đây.
X. VỀ VIỆC RÚT ĐƠN KHÁNG CÁO, RÚT KHÁNG NGHỊ
1. Thẩm phán Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định chấp nhận việc rút kháng cáo, rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phúc thẩm.
Trong trường hợp thấy việc xét xử sơ thẩm có sai lầm thì ngay sau khi quyết định chấp nhận việc rút kháng cáo, rút kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm đối với bản án sơ thẩm đó để xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Đương sự chấp nhận việc rút kháng cáo (kể cả kháng cáo quá hạn đã được chấp nhận) vẫn phải nộp tiền án phí phúc thẩm.
Ngay sau phiên tòa, Tòa án cấp cho đương sự, tổ chức xã hội đã khởi kiện vì lợi ích chung trích lục bản án hoặc quyết định về vụ án. Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp cho họ bản sao bản án hoặc quyết định về vụ án theo yêu cầu của họ. Mục đích của việc cấp trích lục bản án hoặc quyết định là để cho đương sự, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung có thể sử dụng khi kháng cáo theo quy định tại Điều 58 của Pháp lệnh. Trong thực tế có một số đương sự lợi dụng việc Tòa án cấp cho họ bản trích lục bản án hoặc quyết định để làm những việc trái pháp luật (thí dụ: trong trường hợp Tòa án xử lý cho ly hôn sau khi đã được cấp trích lục bản án, một bên đương sự đã sử dụng bản trích lục đó để đi đăng ký kết hôn ngay với người khác, mặc dù bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật), vì vậy, khi cấp trích lục bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải ghi rõ trong bản án trích lục đó là bản án hoặc quyết định “chưa có hiệu lực thi hành”.
File gốc của Nghị quyết 03/HĐTP năm 1990 hướng dẫn áp dụng Quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (trích) do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành đang được cập nhật.
Nghị quyết 03/HĐTP năm 1990 hướng dẫn áp dụng Quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (trích) do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành
Tóm tắt
Cơ quan ban hành | Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao |
Số hiệu | 03/HĐTP |
Loại văn bản | Nghị quyết |
Người ký | Đã xác định |
Ngày ban hành | 1990-10-19 |
Ngày hiệu lực | 1990-11-03 |
Lĩnh vực | Tố tụng |
Tình trạng | Đã hủy |