TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ
TP. ĐÀ NẴNG
Bản án số: 17/2019/KDTM-ST
Ngày: 22 - 11 - 2019
V/v: “Tranh chấp về thực hiện
nghĩa vụ thanh toán tiền”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Đàm Như Nga
Ông Nguyễn Thế Quyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵngtham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2019/TLST-KDTM ngày 10/09/2019 về việc “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/QĐXXST-KDTM ngày 25/10/2019, giữa:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần P; Địa chỉ: Số 233 đường B, phường H, quận K, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê T - chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị. Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Khải D – Chức vụ: Nhân viên. Có mặt
- Bị đơn:Công ty cổ phần xây dựng V; Địa chỉ: Số 158 đường Đ, phường A, quận K, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Phú C - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:
Công ty cổ phần P và Công ty cổ phần xây dựng V đã ký kết Hợp đồng kinh tế số 340/2017/HĐKT ngày 09 tháng 08 năm 2017. Theo đó, Công ty P đồng ý cung ứng bê tông thương phẩm cho Công ty cổ phần Xây dựng V để dùng cho công trình khách sạn TMS. Theo điều khoản cam kết tại Hợp đồng kinh tế trên, Công ty cổ phần Xây dựng V phải thanh toán công nợ cho Công ty cổ phần P dứt điểm giá trị khối lượng còn nợ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đối chiếu công nợ với Công ty cổ phần P. Tổng khối lượng bê tông mà Công ty cổ phần P đã cung cấp cho Công ty cổ phần xây dựng V theo hợp đồng và theo các biên bản yêu cầu có ký xác nhận khối lượng thực tế từng đợt giao nhận giữa hai bên từ đầu năm 2017 trị giá là 675.047.000đ. Tổng số tiền mà Công ty cổ phần xây dựng V đã thanh toán cho Công ty cổ phần Pacific Dinco qua các đợt là 547.146.000đ.
Ngày 30/10/2018, Công ty cổ phần P và Công ty cổ phần xây dựng V đã tiến hành đối chiếu công nợ, các bên đã xác định Công ty cổ phần xây dựng V còn nợ Công ty cổ phần P số tiền: 127.885.000đ.
Mặc dù Công ty cổ phần P đã rất nhiều lần liên lạc với Công ty cổ phần xây dựng V để yêu cầu thanh toán dứt điểm số nợ trên nhưng Công ty cổ phần xây dựng V vẫn không chịu thanh toán.
Do vậy Công ty cổ phần P khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty cổ phần xây dựng V phải thanh toán cho Công ty cổ phần P tổng số tiền còn nợ lại là: 127.885.000đ.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
* Bị đơn là Công ty cổ phần xây dựng V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu ý kiến, cho rằng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không có ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên đã vi phạm quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 50 Luật thương mại để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Hội đồng xét xử nhận định:
*Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền đối với bị đơn là Công ty cổ phần xây dựng V có trụ sở tại số 158 đường Đ thuộc phường A, quận K, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn là Công ty cổ phần xây dựng V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
*Về nội dung vụ án:
[1] Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn là Công ty cổ phần xây dựng V phải thanh toán cho Công ty cổ phần P số tiền nợ là 127.885.000đ, thì thấy:
Hợp đồng kinh tế số 340/2017/HĐKT ngày 09 tháng 08 năm 2017 giữa Công ty cổ phần P với Công ty cổ phần xây dựng V được ký kết hoàn toàn tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty cổ phần P đã thực hiện đúng các điều khoản cam kết giữa hai bên, cung cấp đầy đủ khối lượng bê tông thương phẩm cho công trình khách sạn TMS theo yêu cầu của Công ty cổ phần xây dựng V. Theo Biên bản đối chiếu công nợ từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/10/2018 được lập giữa hai bên thì Công ty cổ phần xây dựng V còn nợ Công ty cổ phần P số tiền chưa thanh toán là 127.885.000đ. Tuy nhiên cho đến nay Công ty cổ phần xây dựng V vẫn không chịu thanh toán dù Công ty cổ phần P đã nhiều lần yêu cầu.
Xét thấy việc không thanh toán đầy đủ tiền mua hàng mà không có lý do của bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận ký kết do vậy yêu cầu buộc Công ty cổ phần xây dựng V phải trả số tiền nợ của Công ty cổ phần P hoàn toàn phù hợp quy định tại Điều 50 Luật thương mại.
[3] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về nội dung giải quyết vụ án và điều luật áp dụng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, buộc Công ty cổ phần xây dựng V phải trả cho Công ty cổ phần P số tiền 127.885.000đ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Công ty cổ phần P có đơn yêu cầu thi hành án, Công ty cổ phần xây dựng V còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
[5] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch đối với khoản tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20016.
Mức án phí cụ thể mà Công ty cổ phần xây dựng V phải chịu: 127.885.000đ x 5% = 6.394.250đ
Hoàn trả cho Công ty cổ phần P số tiền nộp tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 50, 306 Luật thương mại;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty cổ phần xây dựng V phải trả cho Công ty cổ phần P số tiền 127.885.000đ (Một trăm hai mươi bảy triệu tám trăm tám mươi lăm ngàn đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Công ty cổ phần P có đơn yêu cầu thi hành án, Công ty cổ phần xây dựng V còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Buộc Công ty cổ phần xây dựng V phải chịu 6.394.250đ (sáu triệu ba trăm chín mươi tư ngàn hai trăm năm mươi đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho Công ty cổ phần cổ phần P số tiền tạm ứng án phí 3.197.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0005108 ngày 09/09/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Người tham gia tố tụng;
- VKSND quận Thanh Khê;
- Chi cục THADS Q. Thanh Khê;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
- Người tham gia tố tụng;
- VKSND quận Thanh Khê;
- Chi cục THADS Q. Thanh Khê;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
DƯƠNG THỊ THÁI
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
DƯƠNG THỊ THÁI
