TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 255/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 15/11/2019
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Đình Nhàn
2. Bà: Lê Thị Sử
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 192/2019/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2019, về việc: "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2019/QĐST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Nguyễn Bá Nh, Sinh năm: 1968
Nơi cư trú: xóm Ngọc Thành, xã Giang Sơn Tây, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An - Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: chị Phan Thị Th, sinh năm: 1966
Nơi cư trú: xóm Ngọc Thành, xã Giang Sơn Tây, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong bản tự khai, tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Bá Nh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh kết hôn với chị Phạm Thị Th vào ngày 10/4/1993, do hai người tự nguyện tìm hiểu và khi kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã Giang Sơn Tây , huyện Đô Lương. Tuy nhiên sau một thời gian chung sống đến năm 2010 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính cách hai người không hợp nhau, hai gia đình đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành, hai vợ chồng đã ly thân 10 năm nay không thể quay lại đoàn tụ. Nay anh Nh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Phạm Thị Th
Về nuôi con chung: vợ chồng không có con chung
Về chia tài sản: vợ chồng không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết, Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị Phạm Thị Th không có mặt nên không có lời trình bày của chị Th
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương phát biểu quan điểm về vụ án:
- Về tố tụng:
Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác minh và thu thập chứng cứ cũng như thời hạn giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa.
Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Về nội dung: Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án; Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị HĐXX xét xử cho anh Nguyễn Bá Nh được ly hôn chị Phạm Thị Th Vợ chồng không có con chung, không giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự., ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn anh Nguyễn Bá Nh và chị Phạm Thị Th kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Giang Sơn Tây, huyện Đô Lương. Do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên nguyên đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền được qui định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự.
2. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là chị Phạm Thị Th vắng mặt. Đây là lần triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng chị Phạm Thị Th vẫn vắng mặt, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt chị Th là phù hợp quy định tại Điều 227 BLTTDS năm 2015.
3. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy anh Nguyễn Bá Nh và chị Phạm Thị Th có đăng ký kết hôn, vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống chung với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, hai gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành, cho đến hôm nay vợ chồng không thể quay về sống chung với nhau được, nên anh Nh đã làm đơn yêu cầu ly hôn. Mặc dù anh Nh có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, nhưng quá trình giải quyết vụ án Toà án đã kiên trì hoà giải để anh Nh quy lại đoàn tụ nhưng anh Nh xét thấy vợ chồng không đoàn tụ lại được, mâu thuẫn của vợ chồng thực sự trầm trọng, không thể quay trở lại xây dựng hạnh phúc được, tình cảm của anh đối với chị Th đã không còn. Trước Tòa hôm nay, anh Nh vẫn khẳng định tình cảm giữa anh đối với chị Th đã không còn, không thể đoàn tụ được, mâu thuẫn đã quá lớn và anh xin được Tòa án giải quyết ly hôn với chị Phạm Thị Th
Xét thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy xử cho anh Nh được ly hôn chị Th là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: vợ chồng không có con chung
Về chia tài sản: vợ chồng không yêu cầu nên HĐXX không xem xét
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Bá Nh được ly hôn chị Phạm Thị Th
2. Về nuôi con chung: vợ chồng không có con chung
3. Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Bá Nh phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, nhưng được tính trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nạp tại biên lai số 0005463 ngày 14/8/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa
- TAND tỉnh Nghệ An;
- VKSND huyện Đô Lương;
- Chi cục THADS huyện Đô Lương;
- UBND xã Giang Sơn Tây;
- Các đương sự;
- Lưu HS.
Nguyễn Đức Anh