TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 66/2019/HNST
Ngày: 12/11/2019
V/v:" Ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Phước
2. Bà Phan Thị Thu Thảo
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy -
Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Bà Lê Thị
Ngọc Phấn- KSV
Ngày 12 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu
Thành - Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 522/2019/TLST-
HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019 về việc: “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 53/2019/QĐXX-ST ngày 27 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lý Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1985 (Có mặt).
HKTT: 501/2, ấp Q1, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Anh Mai Văn C, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
HKTT: 501/2, ấp Q1, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/8/2019, bản tự khai, những lời khai tiếp theo
cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lý Huỳnh Ngọc H trình bày:
Chị H và anh C kết hôn với nhau vào năm 2004, trên cơ sở tự nguyện, có đăng
ký kết hôn và được UBND xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn
vào năm 2004. Sau khi cưới vợ chồng chung sống có hạnh phúc đến năm 2016 thì vợ
chồng phát sinh mâu thuẫn. Đến đầu năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn.
Nguyên nhân do anh C không quan tâm chăm lo vợ con, thường uống rượu về và
đánh chị H. Anh C không tôn trọng gia đình chị H. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2017
đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết
cho chị H được ly hôn với anh C.
Về con chung: Có một con chung tên Mai Trung N, sinh ngày 24/7/2004 hiện
đang sống với chị H. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi con chung và không
yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị H khai không có .
Về nợ chung: Chị H khai không có.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Mai Văn C được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 để dự phiên
hòa giải cũng như để dự phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh C vẫn
vắng mặt không lý do. Tòa án không lấy lời khai được đối với anh C và lập biên bản
ghi nhận về việc không tiến hành hòa giải được đối với anh C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành có quan điểm:
Về người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng người tham gia tố tụng.
Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ
cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng
các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị H
với anh C. Sau ly hôn, chị H được quyền nuôi con chung là Mai Trung N sinh ngày
24/7/2004. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi
con. Về tài sản chung, nợ chung : không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem
xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Mai Văn C được Tòa án tống đạt hợp lệ đến
lần thứ 2 để dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đưa vụ án ra xét
xử vắng mặt anh C là phù hợp với Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh C kết hôn với nhau vào năm 2004 trên
cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Q1, huyện C, tỉnh Bến Tre
cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2004 nên được công nhận là hôn nhân hợp
pháp. Theo như chị H trình bày, quá trình chung sống vợ chồng chị H anh C sống
hạnh phúc đến năm 2016. Từ đầu năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn.
Nguyên nhân theo chị H trình bày do anh C không quan tâm chăm sóc vợ con, không
lo cho gia đình, thường nhậu về đánh chị H, không tôn trọng gia đình chị H. Vợ
chồng chị H anh C đã ly thân từ năm 2017 đến nay.
[3]Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào Biên bản làm việc xác minh ngày
05/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tại địa phương nơi chị H, anh C
sinh sống đã xác nhận vợ chồng chị H anh C đã có xảy ra mâu thuẫn trầm trọng từ
đầu năm 2019, vợ chồng thường cự cãi lớn tiếng nhau. Anh C còn có hành vi đập phá
đồ đạc và gây rối tại nhà chị H. Chị H có báo Công an xã Q lập biên bản về hành vi
gây rối của anh C. Công an xã Q đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi gây mất trật tự ở khu dân cư đối với anh C. Hiện nay chị H anh C đã không
còn sống chung với nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H anh C
đã thật sự mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của chị H anh C không thể kéo dài,
mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị
H là phù hợp Điều 56 Luật HNGĐ.
Về con chung: Có một con chung tên Mai Trung N sinh ngày 24/7/2004. Sau
khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng
nuôi con chung. Xét thấy hiện nay cháu N đang sống chung với chị H. Cháu N có
nguyện vọng được sống với mẹ. Để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu N
cần để cho chị H được nuôi con chung là phù hợp. Chị H không yêu cầu anh C cấp
dưỡng nuôi con nên ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên không xem xét.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Các Điều 147, 227, 232,
266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Tuyên:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Huỳnh
Ngọc H đối với anh Mai Văn C.
Chị Lý Huỳnh Ngọc H được ly hôn với anh Mai Văn C.
Ghi nhận việc chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng
giữa vợ chồng.
2. Về con chung: Sau ly hôn, chị H được nuôi con chung tên Mai Trung N sinh
ngày 24/7/2004. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng
nuôi con chung.
Anh C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được
quyền ngăn cản. Tuy nhiên vì quyền và lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả
hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có, không yêu cầu giải quyết
nên không xem xét.
4. Về án phí:
Án phí HNST: Chị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Số tiền án
phí trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà
chị H đã nộp theo biên lai thu số 0004737 ngày 15/8/2019 của Chi cục Thi hành án
Dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
5. Chị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày
tuyên án. Anh C được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản
án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án
được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bến Tre;
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
_ Các bên đương sự;
- Chi cục THADS huyện Châu Thành;
- UBND xã Q;
- Lưu hồ sơ.
- Chi cục THADS huyện Châu Thành;
- UBND xã Q;
- Lưu hồ sơ.
(Đã ký tên và đóng dấu)
Đỗ Thị Phượng
