TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 55/2025/HSST
Ngày 23 - 9 - 2025
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Ánh Hoa;
Bà Đoàn Thị Bẩy.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Tiết Ánh Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 970/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Minh T, sinh ngày 12/02/1982. Nơi ĐKTT: khóm T, phường L, tỉnh Cà Mau. Nơi tạm trú: khóm M, phường A, tỉnh Cà Mau. nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Văn B (còn sống) và bà Phan Kim H (đã chết); vợ: Nguyễn Thị T’ (đã ly hôn), con: 03 người; tiền sự: không. Tiền án: 01 lần. Ngày 30/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Bản án số 229/2018/HSST. Phạm tội lần này chưa nộp án phí (Hiện nay đã nộp xong án phí).
Về nhân thân: Ngày 13/11/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 182/HSPT tuyên y án sơ thẩm số 144/2007/HSST ngày 13/9/2007, được đặc xá vào ngày 30/8/2011.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2025 đến ngày 15/6/2025 chuyển tạm giam cho đến nay (Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 09/6/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Cà Mau kết hợp với Công an phường 2, thành phố Cà Mau (nay là Công an phường An Xuyên, tỉnh Cà Mau) tuần tra trên đường Nguyễn Trãi. Khi đến khu vực khóm 4, phường 2, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (nay là khóm 18, phường An Xuyên, tỉnh Cà Mau) phát hiện Huỳnh Minh T đang điều khiển xe mô tô biển số 69E1-281.04 đi vào hướng khu vực Nhà nghỉ 443 có biểu hiện nghi vấn, lực lượng làm nhiệm vụ yêu cầu T dừng xe, kiểm tra phát hiện và thu giữ trong túi áo khoác phía trên bên phải của T đang mặc trên người 01 bọc nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). Lực lượng làm nhiệm vụ tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật, ký hiệu MT/2025.
Ngoài ra, còn tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 69E1-281.04; 01 điện thoại di động màu xanh đen mặt sau có chữ SPARK.
Tiến hành biện pháp kiểm tra phát hiện nhanh chất ma túy đối với Huỳnh Minh T. Kết quả Huỳnh Minh T có sử dụng chất ma túy là Methamphetamine (Ma túy đá).
Tại Kết luận giám định số 250/KL-KTHS ngày 12/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận:
“Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì niêm phong hình chữ nhật ký hiệu MT/2025 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4273gam, loại Methamphetamine.
Hoàn lại: Không hoàn lại tinh thể màu trắng, ký hiệu MT/2025 sau khi giám định (hết mẫu). Hoàn lại toàn bộ bao gói niêm phong mẫu vật gửi giám định. Tất cả được niêm phong trong phong bì hoàn mẫu số 250/KL-KTHS ngày 12/6/2025.”
Tại cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 09/9/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau truy tố bị cáo Huỳnh Minh T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Huỳnh Minh T theo cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 09/9/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù. Vật chứng, án phí xử lý theo quy định.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
[2] Vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 09/6/2025, tại khu vực khóm 4, phường 2, thành phố Cà Mau (nay là khóm 18, phường An Xuyên), tỉnh Cà Mau, Huỳnh Minh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 0,4273 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định.
[3] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức và biết được tác hại của ma tuý nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249, điềm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[4] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cho thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi chính tác hại của ma tuý sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[5] Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.
[6] Về vật chứng của vụ án:
- 01 phong bì hoàn mẫu số 250/KL-KTHS ngày 12/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau. Xét thấy, vật chứng trên cần được tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
- 01 xe mô tô biển số 69E1-281.04 là phương tiện bị cáo sử dụng để đi mua ma túy, bị cáo khai mượn của bạn tên S nhưng không biết nhân thân lai lịch. Kết quả xác minh thể hiện bà Lê Thị V đứng tên trên Giấy đăng ký xe nhưng bà V đã đi khỏi địa phương, không xác định được bà hiện đang ở đâu nên không làm việc được với bà. Do đó, giao Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, bảo quản xác minh làm rõ, không chuyển vật chứng đối với xe trên nên không đề cặp giải quyết.
- 01 điện thoại di động màu xanh đen mặt sau có hàng chữ SPARK, màn hình điện thoại bị nứt, có lắp sim. Xét thấy, điện thoại là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo có yêu cầu nhận lại nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[7] Đối với người được gọi là “Bé N” rủ bị cáo mua ma túy cùng sử dụng và người tên “K” bán ma túy cho bị cáo, qua điều tra chưa xác định được nhân thân nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điềm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2025.
- Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động màu xanh đen mặt sau có hàng chữ SPARK, màn hình điện thoại bị nứt, có lắp sim.
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Minh T phải chịu 200.000 đồng (chưa nộp).
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
-TAND tỉnh Cà Mau;
- VKSND tỉnh Cà Mau;
- VKSND KV 1 - Cà Mau;
- Bị cáo;
- Cơ quan điều tra CATCM;
- Cơ quan THA hình sự, Phòng THA dân sự KV 1
Cà Mau;
- Phân trại tạm giam & kho vật chứng KV Cà Mau;
- Lưu hồ sơ, AV, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Lê Thị Thu